Thời sự y học số 503 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ GLAUCOME : MÙ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT ĐỊNH MỆNH
Phát hiện bởi thầy thuốc nhãn khoa là thiết yếu, bởi vì bệnh lý tiến triển lâu dài không triệu chứng.OPHTALMOLOGIE. ” Đừng để glaucome cướp mất thị giác của anh”, năm nay Union nationale des aveugles et déficients visuels (Unadev) lại còn kêu lên như vậy cho Semaine mondiale du glaucome (từ 10 đến 16 tháng ba). Buộc phải chứng thực rằng quá nhiều người Pháp coi thường sự phát hiện glaucome nguyên phat góc mở (glaucome primitif à angle ouvert), thường gặp nhất, gây malvoyance nếu căn bệnh này không được điều trị.
” Nguy cơ malvoyance này hiện hữu nhất là ở những người không đi khám để được phát hiện, không theo đúng đắn điều trị nội khoa, không chú ý sự theo dõi của mình hay trong trường hợp những thể rất nặng tức thời (hiếm nhất) “, BS Laurent Benzaken, trưởng khoa mắt của bệnh viện Robert-Ballanger (Aulnay-sous-Bois) và giám đốc của centre ophtalmologique Belle Etoile (Roissy) đã xác nhận như vậy. Vậy không có gì là không thể tránh được.
Soi đáy mắt để thấy đầu của dây thần kinh thị giác (tete du nerf optique), đo áp lực nội nhãn (tension intraoculaire), tomographie en cohérence optique (hay OCT : Optical Coherence Tomography) để đánh giá bề dày của các sợi thần kinh thị giác và thị trường (champ visuel) để tìm kiếm những “điểm mù”, chứng tỏ sự thương tổn của dây thần kinh thị giác. ” Các thầy thuốc nhãn khoa có tất cả những công cụ cần thiết để phát hiện rất sớm glaucome và điều trị nó, GS Jean-François Rouland, trưởng khoa mắt của CHU de Lille và tổng thư ký của Société française du glaucome, đã xác nhận như vậy. Bất hạnh thay, chúng tôi còn thấy những người đến với những glaucome rất tiến triển, và nhất là chính những người này nhiên hậu có nguy cơ trong sương mù ánh sáng (brouillard lumineux) thường trực với một thị giác rất hạn chế, như thể họ thấy qua một ổ khóa.”
Những trường hợp rất nặng chiếm 20 đến 25% của tất cả những glaucome, điều này có nghĩa rằng 75 đến 80% những bệnh nhân sẽ giữ một thị giác đúng đắn nếu họ được điều trị. Và nếu sự điều tra phát hiện được cải thiện, những con số tốt này còn có thể tăng lên. ” Ở Pháp, khoảng 800.000 người có một glaucome được biết và được điều trị, so với 400.000 người với một glaucome không được chẩn đoán, GS Alain Bron, trưởng khoa mắt của CHU de Dijon, đã nhắc lại như vậy. Và trong số 400.000 người này, nhiều người có một yếu tố nguy cơ đáng ra phải khiến họ được theo dõi.”
Đó là trường hợp nếu một thành viên gần của gia đình bị liên hệ (nguy cơ tăng gấp ba), nếu ta có quê quân ở Tây Phi (nguy cơ tăng gấp ba), nếu ta đã có một áp lực nội nhãn trên 21 mmHg (đơn vị đo lường của nhãn áp) hay lại nữa, trong một mức độ ít hơn, nếu ta bị cận thị hay tuổi trên 40. Vì lẽ sau 45 tuổi, chứng lão thị (presbytie) thành hình, phần lớn các glaucome phải được phát hiện. Tuy nhiên phải đi khám một bác sĩ nhãn khoa để được khám dây thần kinh thị giác, chứ không được bằng lòng mua những lunettes loupes.Vì căn bệnh tiến triển không triệu chứng trong thời gian lâu, vậy không nên chờ đợi khi có những triệu chứng rồi mới đi khám. ” Thế mà điều đã bị đánh mất sẽ không còn có thể tìm thấy lại “, BS Benzaken đã nhấn mạnh như vậy.
” Vì không thể sửa chữa dây thần kinh thị giác, nên điều trị nhằm hạ áp lực nội nhãn, bởi vì đó là yếu tố nguy cơ chính trên đó có thể tác động và tỏ ra có hiệu quả, BS Benzaken đã giải thích như vậy.Thật vậy, nhãn cầu là một vỏ không giãn (une coque inextensible), trong đó thể dịch (humeur aqueuse) được tiết ra thường trực. Thể dịch đi ra qua trabéculum (bộ phận lọc) và một sự cân bằng giữa sự tiết và sự bài xuất được thiết lập. Nếu sự chảy ra bị trở ngại, áp lực trong mắt gia tăng và những sợi dây thần kinh thị giác bị thương tổn. “Nhiều người nghĩ rằng laser hay phẫu thuật nhất thiết tốt hơn là một giọt vào trong mắt buổi chiều và suốt đời, nhưng điều đó là sai. ” Điều trị nội khoa bằng thuốc giọt (collyre) vẫn là điều trị lựa chọn của những glaucome nguyên phát góc mở (glaucome primitif à angle ouvert). Vài loại thuốc giọt làm giảm sự sản xuất thể dịch và những loại khác gia tốc sự bài xuất nó. Vài collyre chỉ có một hoạt chất, những thuốc giọt khác liên kết nhiều hoạt chất. Chúng tôi có một sự chọn lựa đủ để để đề nghị những điều trị cá thể hóa (traitement personnalisé) “, GS Jean-François Rouland đã nhấn mạnh như vậy. Và những tiến bộ to lớn nhằm vào tính dung nạp của những điều trị này.
Dầu vậy, gần 50% bệnh nhân mà các thuộc giọt được kê đơn, quên chúng hay dùng chúng không đều. ” Vì những điều trị chỉ hiệu quả ở những người dùng chúng, nên glaucome của những người lơ là chúng trở nên nặng. Sau cùng có khi các thuốc nhỏ không còn hiệu quà sau nhiều năm. Trong trường hợp này, những giải pháp khác được đề nghị “, GS Rouland đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 25/3/2019)
Đọc thêm : TSYH số 448</aW : bài số 9 và 10
TSYH số
361 : bài số 3, 4 và 5
TSYH số 342 : bài số 7

2/ NGOẠI KHOA KHI…THUỐC NHỎ MẮT KHÔNG ĐỦ..
” Ta chưa tìm ra cách bảo vệ đối với dây thần kinh thị giác tốt hơn bằng giảm áp lực nội nhãn : một sự hạ 1mmHg (đơn vị đo lường), đó là sự tiến triển của glaucome 10% ít hơn “, GS Jean-François Rouland (CHU Lille) đã nhấn mạnh như vậy. Vậy điều trị nhằm làm gia tăng sự bài xuất của thể dịch (humeur aquese), làm giảm sự sản xuất nó hay đồng thời cả hai. Khi điều trị bằng thuốc giọt không đủ, nhiều kỹ thuật ngoại khoa sẽ được xét đến.
” Bằng cách tạo viêm, laser gây những phản ứng dây chuyền với những đại thực bào (macrophages) ; những bạch cầu này đến dọn sạch trabéculum (filtre) qua đó thể dịch được bài xuất “, GS Alain Bron (CHU Dijon) đã giải thích như vậy.” Đó nhất là trường hợp của laser SLT, mang lại cho trabéculum một tính thông thoáng nào đó. Điều đó khá hiệu quả ngay lúc đó, nhưng hiệu quả có thể tạm thời và cần một buổi điều trị laser mới sau một hay hai năm “, BS Laurent Benzacken (Centre Etoile à Roissy và bệnh viện Robert-Ballanger ở Aulnay-sous-Bois), đã chứng thực như vậy.Nếu đã có một đục thủy tinh thể (cataracte), việc lấy đi thủy tinh thể (cristallin) góp phần làm hơi giảm áp lực nội nhãn, nhất là ở những người viễn thị, vốn có một nhãn cầu rất ngắn. Một drain có thể được đặt vào dịp này. ” Những microdrain hay stents được đặt trong những đường chảy (voie d’écoulement) trong một phẫu thuật vi xâm nhập (minimally invasive glaucoma surgery) cải thiện một cách hiệu quả sự bài xuất của thể dịch “. GS Bron nói tiếp.8000 TRABECULECTOMIE
Khi những mục tiêu cần đạt được liên quan đến sự hạ của áp lực nội nhãn là quan trọng, ngoại khoa cổ điển vẫn có tính chất thời sự. 8000 trabéculectomie được thực hiện mỗi năm. ” Tuy nhiên can thiệp này vẫn rất tế nhị, kể cả đối với những tay chuyên khoa. Phẫu thuật nhằm lấy đi trabéculum và chuyển hướng thể dịch đến dưới kết mạc (conjonctive), đồng thời đảm bảo rằng kết mạc này hoàn toàn kín (étanche). Bằng không, một sự rò quan trọng của thể dịch dẫn đến một hypotonie, cũng nguy hiểm đối với mắt như một tăng nhãn áp “, BS Benzacken đã giải thích như vậy.
Nhiều phẫu thuật khác đã được nghĩ ra, như sclérectomie non perforante (khoảng 6000 trường hợp mỗi năm ở Pháp), trong đó phần trong nhất của trabéculum được để tại chỗ để tránh những biến chứng liên kết với một áp lực nội nhãn quá thấp. Hay mới đây hơn, sự đặt một van, được mở ra chỉ khi áp lực nội nhãn tăng cao. ” Sau cùng, đối với glaucome réfractaire, vẫn còn giải pháp phá hủy thể mi (corps ciliaire) sản xuất thể dịch “, GS Jean- François Rouland (CHU Lille) đã giải thích như vậy. Điều đó có thể thực hiện bằng laser diode hay bằng những siêu âm (cyclocoagulation circulaire). Tuy nhiên những kỹ thuật mới này phải được đánh giá trong thời gian dài hạn.
(LE FIGARO 25/3/2019)

3/ ” MỘT HÔM, TÔI ĐÃ NGHĨ LÀ BỊ MÙ ĐỘT NGỘT “
Juliette Costa, 81 tuổi, đã thấy mẹ mình trở nên gần như mù lòa : ” Mẹ tôi bị một glaucome và, vào thời kỳ đó, bệnh glaucome không được điều trị như hôm nay. Vì vậy, khi người ta đã tìm thấy, cũng ở tôi, một glaucome vào tuổi 50, tôi đã rất sợ. ”
Vào thời kỳ đó, Juliette Costa không bị bệnh gì hết (ngoài chứng cận thị trung bình từ khi còn trẻ) : ” Không đau, không giảm thị lực, Juliette đã xác nhận như vậy. Tôi đã chỉ khám mắt kiểm tra vì lẽ mẹ tôi bị glaucome. Tôi đã rất đỗi ngạc nhiên khi hay biết rằng áp lực nội nhãn của tôi quá cao và rằng thị trường của tôi bị cắt cụt 1/4 ở ngoại biên.”
” KHÔNG CÓ NGUY CƠ TÔI QUÊN NHỎ THUỐC.
Một khi chẩn đoán được xác lập, Juliette Costa được kê đơn thuốc giọt sáng và chiều, cũng như một sự theo dõi hàng năm bệnh glaucome của mình. ” Đã 30 năm nay tôi nhỏ cùng những thuốc giọt, và tôi chịu chúng tốt. Tôi không có nguy cơ quên chúng bởi vì tôi giữ trong đầu hình ảnh của mẹ tôi gần như không thấy gì nữa cả. Một hôm tôi đi nghỉ hè với chồng tôi, tôi rất hoảng sợ : bị thức dậy vào ban đêm, tôi đã muốn vặn đèn những đèn không hoạt động. Trong vài khoảnh khắc (thời gian chồng tôi thắp một đèn khác), tôi đã nghĩ rằng tôi đã trở nên bị mù đột ngột và tôi đã thật sự hoảng sợ.”
Ngoài điều trị nội khoa, Juliette Costa đã phải chịu một can thiệp để làm dễ sự bài xuất của thể dịch thặng dư trong mắt. ” Người ta đã can thiệp cùng lúc với mổ đục thủy tinh thể, vào năm 2000, nhưng không cùng lúc đối với hai mắt (cách nhau 6 tháng), tôi khám lại thấy thuốc nhãn khoa mỗi 2 năm và bệnh glaucome của tôi vẫn ổn định. Thị trường của tôi không giảm, điều này làm tôi an lòng. Mất một ít thời gian cho những thăm khám, điều đó không có nghĩa gì nếu, nhiên hậu, điều đó cho phép thoát được sự mù lòa.”Và nếu Juliette Costa đã trở nên không thể đánh bại về vấn đề glaucome, thì ba đứa con 52, 55 và 58 tuổi của bà cũng thế. ” Được mười năm rồi chúng đi khám để kiểm tra rằng đến lượt chúng chúng không bị một glaucome giai đoạn đầu. Tôi không cần lập lại với chúng điều đó quan trọng đến mức độ nào, bởi vì chúng cũng đã thấy bà ngoại chúng bị mất thị giác. Ngược lại, quanh tôi, các bạn tôi không chú ý bao nhiêu điều đó : chừng nào chúng có cảm giác thấy rõ, chúng không cảm thấy bị liên quan.
(LE FIGARO 25/3/2019)

4/ ” NHƯ THỂ THIẾU NHỮNG PIXEL TRÊN MỘT ECRAN “
” Trong bệnh glaucome, thường xảy ra ở cả hai mắt (thường không đối xứng), chính dây thần kinh thị giác bị thương tổn : glaucome liên kết với sự chết gia tốc của các tế bào hạch (cellules ganglionnaires) ; những tế bào này truyền thông tin từ mắt đến não “, GS Alain Bron (CHU Dijon) đã giải thích như vậy. Sau 40 tuổi, do sự lão hóa, chúng ta mất một cách tự nhiên 6000 đến 8000 tế bào hạch mỗi năm. Nhưng ở những người bị bệnh glaucome quá trình này gia tốc. ” Lúc đầu, không có một dấu hiệu nào, rồi cuối cùng những thiếu sót trong thị trường xuất hiện : đó hơi như thể thiếu những pixels trên một écran “, GS Bron nói tiếp. Khi những “pixels thiếu” này ở rất ngoại biên và không nhiều, thì không trở ngại lắm. Nhưng khi chúng gia tăng và tiến về trung tâm, thị giác bị ảnh hưởng. Phương thức duy nhất là phát hiện sớm để ổn định sự mất của những sợi thần kinh liên kết với glaucome.
(LE FIGARO 25/3/2019)

5 MỐI LIÊN HỆ GIỮA STRESS VÀ UNG THƯ : THỦ PHẠM LÀ ADRENALINE !
Mối liên hệ đã được xác nhận bởi nhiều công trình nghiên cứu, nhất là đối với ung thư vú. Có chế thường bị buộc tội là sự tăng sản xuất bởi các tuyến thượng thận cortisol, được gọi là ” kích thích tố của tình trạng căng thẳng ” (hormone du stress), có tác dụng ức chế hệ miễn dịch. Một công trình nghiên cứu, tập hợp những nhà nghiên cứu Trung Quốc và Hoa Kỳ vừa cho thấy, trước hết ở chuột : 1. Rằng một stress liên tục gây một ung thư vú. 2. Rằng những con chuột ở chúng stress này được duy trì phát triển những khối u lớn hơn và ác tính hơn những khối u của những con chuột mà ta ngừng gây stress. 3. Rằng cortisol không phải là nguyên nhân. 4. Rằng adrénaline nằm ở trung tâm của một quá trình hoạt hóa những oncogène (những gène trở nên sinh ung thư) và sự tăng sinh của những tế bào ác tính. Ở 83 bệnh nhân bị một ung thư vú, các nhà nghiên cứu đã quan sát rằng những bệnh nhân có một nồng độ adrénaline tăng cao có tỷ lệ sống còn thấp nhất. Tin vui : vitamine C dường như là một tác nhân kềm hãm, thậm chí ức chế quá trình này.
(PARIS MATCH 18/4-24/4/2019)

6/ LEUCEMIE : CAR-T CELLS, NHỮNG TẾ BÀO GIẾT NHỮNG TẾ BÀO ÁC TÍNH
GS Didier Blaise, trưởng khoa ung thư-huyết học của Viện Paoli-Calmette (Marseille) giải thích rằng những CAR-T cells (những tế bào giết những tê bào ác tính) là một bước tiến lớn trong điều trị những bệnh máu ác tính. Thời gian nhìn lại đủ để xác nhận điều đó.Hỏi : Nguyên tắc của liệu pháp miễn dịch (immunothérapie)
GS Didier Blaise : Từ những năm 1960 đến cuối những năm 1990, các onco-hématologue, điều trị bằng ghép xương những bệnh nhân bị leucémie, đã chứng thực : 1. rằng những tế bào lympho T (LT : lymphocytes T), những tế bào miễn dịch phát xuất từ người hiến (donneur), có năng lực nhận diện những tế bào ung thư của người nhận (receveur), qua các protéine (những kháng nguyên) hiện diện ở bề mặt của chúng, gắn vào chúng và tiêu hủy chúng. 2. rằng bằng cách tiêm trở lại cho bệnh nhân những LT của chính họ, sau khi đã trích lấy, cấy rồi “dopé” chúng trong phòng thí nghiệm, ta cũng có thể kiểm soát vài tế bào. Tuy nhiên, những LT này thường không đủ khả năng để chống lại những tế bào ung thư vì những tế bào này biết làm chúng trở nên vô hinh để thoát nhưng tế bào ung thư. Từ đó ý tưởng về những CAR-T cells (tiếng Pháp : cellules lymphocytes T avec récepteurs antigéniques chimériques). Ý tưởng này nhằm thao tác về mặt di truyền những tế bào LT để chúng biểu hiện một thụ thể (récepteur) có thể nhận biết mạnh hơn một kháng nguyên ung thư nào đó, và như thế khuếch đại năng lực tiêu diệt của chúng.
Vào cuối những năm 1990, ta đã thành công biến đổi những LT, để chúng biểu hiện trên bề mặt của chúng một thụ thể của kháng nguyên CD19, chung cho những tế bào ác tính của nhiều ung thư máu (hémopathies). Sau đó ta đã có thể có được những thuyên giảm hoàn toàn ở những bệnh nhân đề kháng với mọi điều trị, và khó thoát chết trong thời gian ngắn hạn.
Hỏi : Cho đến nay những ung thư nào có thể hưởng được điều trị này ?
GS Didier Blaise : Leucémie aigue lymphoblastique, lymphome non hodgkinien (nhất là những lymphomes à grandes cellules B, ác tính nhất), leucémie lymphoide choronique). Và đó chỉ là một khởi đầu.
Hỏi : Thủ thuật diễn ra như thế nào ?
GS Didier Blaise : Thủ thuật nhằm thu thập trong một giờ và không gây đau những LT của bệnh nhân từ máu tĩnh mạch và gởi chúng đến một phòng xét nghiệm ở Hoa Kỳ được cho phép hoạt động), ở đó những LT này được thao tác về mặt di truyền : khi đó chúng trở thành những CAR-T cells. Rồi chúng được nhân lên (100 đến 1000 lần) in vitro, được làm đông lạnh và được gởi trở lại Pháp 3 hay 4 tuần sau và được tiêm trở lại cho bệnh nhân. Viện Paoli-Calmettes vừa mở một khoa huyết học đặc hiệu (IPC4), có một plateau technique với một phòng xét nghiệm có đủ tư cách nhận những CAR-T cells, những chambre à air filtré dành cho những điều trị nặng và một sự bảo vệ tối ưu chống lại những nhiễm trùng.
Hỏi : Những kết quả là gì ?
GS Didier Blaise : Từ 50 đến 80% đáp ứng điều trị, mà một nửa là những thuyên giảm hoàn toàn, ở những bệnh nhân đề kháng với mọi điều trị, với hy vọng sống trở nên bị giới hạn. Những tác dụng phụ có thể đảo ngược : giảm những tế bào miễn dịch sản xuất các kháng thể (được bù với tiêm immunoglobuline), phản ứng độc và viêm do những độc chất được phóng thích bởi những tế bào ung thư bị giết (được làm giảm bớt bởi một kháng thể đơn dòng và những thuốc kháng viêm), những rối loạn thần kinh tạm thời…
Hỏi : Tương lai của kỹ thuật này ?
GS Didier Blaise : To lớn ! 7 hay 8 trung tâm ở Pháp đã bắt đầu sử dụng liệu pháp này. Những tác dụng của những CAR-T cells lên những ung thư khác (myélome multiple, ung thư tụy tạng, glioblastome…) đang được đánh giá. Hy vọng là to lớn. Sự sản xuất CAR-T cells nhiên hậu phải được đơn giản hóa để làm cho chúng có để sử dụng không chậm trễ trong những centre expert.
(PARIS MATCH 28/3-3/4/2019)
Đọc thêm : TSYH số 346 : bài số 6

7/ VIH : KIỂM SOÁT RESERVOIR
Mặc dầu các thuốc chống virus có hiệu quả để kềm chế virus của bệnh sida (VIH) và làm cho nó không thể phát hiện trong máu, nhưng chúng phải được dùng suốt đời nếu không virus sẽ tái xuất hiện. Thật vậy, VIH vẫn yên ngủ trong các bạch cầu, những lymphocyte CD4+, như thế tạo nên một réservoir. Trong thứ tự tôn ti của những tế bào miễn dịch đảm bảo sự phòng ngự của cơ thể, những CD4+ là những thủ lĩnh có nhiệm vụ kích hoạt những tê bào chiến đấu (cellules combattantes). Tuy nhiên, VIH không gây nhiễm tất cả những CD4+, chỉ vài trong số chúng mà thôi. Vậy thì tại sao ? Kíp của Asier Saez-Cirion, giám đốc nghiên cứu ở Viện Pasteur, đã có thể chọc thủng bí mật này : virus gây nhiễm những CD4+ chuyên môn nhất trong chức năng của chúng, những CD4+ có hoạt động chuyển hóa mạnh nhất và tiêu thụ nhiều glucose. VIH chuyển năng lượng này cho nó để tăng sinh. Bằng cách sử dụng một chất ức chế chuyển hóa glucide (2-désoxy gluocse), các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng chúng có thể làm giảm số những bạch cầu lympho bị nhiễm và phong bế sự tăng sinh của réservoir.
(PARIS MATCH 7-13/2/2019)

8/ VIH : PHÒNG NGỪA KHÔNG ĐỦ.
Năm 2017, theo Santé publique France, 6400 người đã bị nhiễm bởi virus du sida, hoặc bằng với năm trước mặc dầu một sự gia tăng của hoạt động điều tra phát hiện (+12% từ 2010). Một nửa những huyết thanh dương tính (séropositif) mới này (56% lúc giao hợp dị tính, 41% khi giao hợp đồng tính) đã thực hiện trắc nghiệm đầu tiên. Kết luận : những cố gắng phòng ngừa ít có tác động lên những quần thể bị tiếp xúc nhất.
(PARIS MATCH 11-17/4/2019)
Đọc thêm : TSYH số 486 : bài số 6

9/ HÒN GIÁP HIỀN TÍNH : NHỮNG GIẢI PHÁP THAY THẾ NGOẠI KHOA
BS Hervé Monpeyssen, trưởng đơn vị thyroidologie, Hopital américain de Neuilly-sur-Seine bình luận rằng những hòn giáp này, rất thường gặp ở phụ nữ, có thể được điều trị bằng những phương pháp khác nhau.
Hỏi : Có hiện hữu những loại hòn giáp (nodule thyroidien) khác nhau không ?
BS Hervé Monpeyssen : Một hòn giáp có thể rắn, lỏng hay hỗn hợp. Nó có thể tiết kích thích tố hay trơ (inerte). Nó hiền tính trong 95% những trường hợp, hiếm khi đơn độc và có thể ở bất cứ nói nào trong tuyến giáp. Nó có thể trở nên rất lớn.
Hỏi : Chúng có thường gặp không ?
BS Hervé Monpeyssen : Rất thường gặp, nhất là ở phụ nữ (vai trò của di truyền, của thai nghén, của tính tự miễn dịch, những kích thích tố nữ và của điều tra phát hiện). Ở tuổi 50 một phụ nữ trên hai có ít nhất một hòn giáp (nodule thyroidien).Ta phát hiện nó khi ấn chẩn cổ một cách hệ thống, hay khi xuất hiện một cục u, một sự khó chịu, hay nhân làm dopller động mạch cổ hay nhân một bilan của một tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie).
Hỏi : Quá trình chẩn đoán diễn ra như thế nào ?
BS Hervé Monpeyssen : Bilan của một hòn giáp là công việc của một nhà lâm sàng, sau khi hỏi bệnh, phân tích những tiền sử, sau bilan sinh học và khám lâm sàng, sẽ kê đơn một siêu âm, cơ sở của chẩn đoán. Mọi nodule được chụp siêu âm được mô tả, định vị trên một sơ đồ và được cho điểm bằng score Eu-Tirads, chỉ rằng một phân tích các tế bào của hòn giáp bằng cytoponction (không đau) có hữu ích hay không. Nếu có, ta thực hiện chọc tế bào dưới sự kiểm soát của siêu âm. Kết quả, tùy theo score de Bethesda (hòn hiền tính, khả nghi, ung thư hay không) sẽ hướng dẫn điều trị. Trong trường hợp TSH (hormone thyréostimulante) rất thấp (tăng năng tuyến giáp) hay hòn giáp rất phân bố mạch (très vascularisé), một scintigraphie có thể đi trước cytoponction. Sau cùng, chiến lược từng giai đoạn rất được codifié này cho phép, một mặt, nhận diện những hòn giap biện minh cho một phẫu thuật (ít trường hợp) : ung thư, những hòn giáp khả nghi, những goitre nhiều hòn không ăn uống được nếu không mổ, những hòn đè ép (nodules compressifs), và nodules sécrétants sản xuất quá nhiều kích thích tố. Mặt khác, chiến lược này cho phép định đặc điểm những hòn giáp có thể được điều trị không ngoại khoa (phần lớn).Hỏi : Những điều trị này là gì ?
Hỏi : Những điều trị này là gì ?
BS Hervé Monpeyssen :
1. Một hòn giáp tiet (nodule sécrétant) có thể được điều trị bằng tiêm một liều nhỏ iode 131 (phóng xạ).
2. Một hòn giáp lỏng (nodule liquidien) được tháo dịch bằng kim rồi được điều trị bằng tiêm alcool 95 độ để làm khô kyste. 3. Một hòn giáp rắn hay hỗn hợp (nodule solide ou mixte) có thể được phá hủy bằng nhiệt (thermoablation), ngay khi hòn giáp tạo một vấn đề thẩm mỹ hay chức năng (đau, khó nuốt…).
3 kỹ thuật này đều có ở Pháp. Một sợi laser nóng lên nhờ năng lượng ánh sáng được mang lại trong hòn giáp qua một chiếc kim. Radiofréquence (siêu âm) sử dụng một điện cực được đưa vào trong hòn giáp, làm tăng cao nhiệt độ. Trong hai điều trị này, ta xê dịch nguồn nhiệt trong tất cả hòn giáp: kết quả là một sự giảm trung bình 75% thể tích của nó, hòn giáp không tiến triển nữa. Siêu âm là một kỹ thuật không đưa kim vào, có thể tập trung những sóng siêu âm cường độ cao (Hifu : ultrasons de haute intensité) vào những hòn giáp kích thước nhỏ ; khi đó thể tích của chúng giảm 50%. Sự sử dụng những micro-ondes đang được nghiên cứu. Ngoài đau nhẹ và khả năng gây tụ máu (hématome), có thể có những biến chứng hiếm (dưới 2% những trường hợp) : biến chứng thần kinh tạm thời (giao cảm hay thương tổn giọng nói), vỡ hòn giáp tạo những áp xe nhỏ dưới da, được điều trị tại chỗ. Tất cả những điều trị ngoại khoa này được thực hiện ngoại trú, với gây tê tại chỗ, có hay không an thần nhẹ.
(PARIS MATCH 4-10/4/2019)
Đọc thêm : TSYH số 357 : bài số 1
TSYH số 396 : bài số 10

10/ BỆNH SỞI BỘC PHÁT
Theo OMS, bệnh sởi đã gây bệnh cho hơn 41.000 người ở châu Âu và gần 3000 ở Pháp. Ở Pháp việc tiêm chủng ở trẻ em không đủ. Tỷ lệ tiêm chủng hiện nay là 79%, thay vì 95% cần thiết cho một sự bảo vệ tốt.
(PARIS MATCH 13/9-19/9/2018)
Đọc thêm : TSYH số 459 : bài số 2

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/4/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 503 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 508 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s