Thời sự y học số 500 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ VIÊM XOANG CẤP TÍNH : RỬA LÀ HIỆU QUẢ NHẤT
Những viêm xoang này sau một rhume, không trầm trọng, tuy vậy phải được theo dõi trong trường hợp bội nhiễm.OTO-RHINO-LARYNGOLOGIE. ” Ta nói hơi quá dễ dàng về các viêm xoang (sinusite), GS Laurent Gilain, trưởng khoa TMH chirurgie cervico-faciale của CHU de Clermont Ferrand, đã lấy làm tiếc như vậy. Mặc dầu chúng thật sự thường gặp, chẩn đoán này phải được gợi lên một cách có ý thức để tránh những lang mang điều trị vô ích và có thể làm chậm chẩn đoán đúng.” Các sinus là những xoang của mặt, tiếp xúc trực tiếp với những hố mũi (fosses nasales) : trong đa số các trường hợp, viêm xoang biến mất trong vài ngày, cùng lúc với rhume nguồn gốc virus, trước hết đã gây nhiễm trùng mũi. Những viêm mũi xoang (rhinosinusite) cấp tính không nghiêm trọng này là thường gặp nhất và không cần xử trí đặc hiệu nào khác là rửa mũi để làm dễ sự loại bỏ những mầm bệnh và làm mất sự sung huyết mũi.Các xoang được phủ bởi một niêm mạc hô hấp tương tự với niêm mạc ở trong các phế quản. Niêm dịch (mucus) mà nó sản sinh bắt giữ bụi bặm và các tiêm mao của niêm mạc bài xuất nó về phía mũi, với lượng rất quan trọng khi một nhiễm trùng hiện diện. Sự chảy xảy ra ở phía sau của mũi và có thể cản trở giấc ngủ, gây hách xì và ho khó chịu. Viêm xoang, thường nhất xảy ra ở các xoang hàm (sinus maxillaire), vậy nói chung được phát hiện khi một cảm giác nặng ở các gò má thêm vào những triệu chứng của rhume.
” Khi đó hỉ mũi thường xuyên, rửa bằng nước sinh lý và dùng những thuốc chống đau để quản lý sự không thoải mái là những vũ khí tốt nhất có sẵn ở nhà, GS Sylvain Morinièren trưởng khoa ORL chirurgie cervico-faciale của CHRU de Tours, đã nhấn mạnh như vậy. Sau khi rửa, sự sung huyết có thể được làm giảm với corticothérapie bằng spray nasal.” Sốt có thể lên đến 38,5 độ C : khi đó nó không nghiêm trọng và vẫn là đáp ứng bình thường và hữu ích của cơ thể đứng trước một nhiễm trùng.
Khi sự khó chịu vẫn tồn tại hay tiến triển sau vài ngày mặc dầu đã thực hiện rửa, thầy thuốc có thể nghi ngờ một bội nhiễm vi khuẩn cần điều trị bằng kháng sinh và tìm kiếm một thương tổn đặc hiệu của vài xoang ở đó những biến chứng thường gặp hơn. Kháng sinh có thể được tăng cường hay lập lại và, nếu nhiễm trùng dai dẳng, thầy thuốc có thể làm một prélèvement trong những xoang, được thực hiện dưới gây mê để chắc chắn nhận diện những mầm bệnh chịu trách nhiệm viêm xoang. Đó là những mầm bệnh thường gặp trong những nhiễm trùng ORL : Streptococcus pneumoniae và Haemophilus influenzae, ít thường gặp hơn Moraxella catarrhalis và Streptococcus aureus.
Ở trẻ em, những viêm xoang hàm cấp tính đơn thuần (sinusite aigue simple) gần như cũng thường gặp như rhume nhưng thầy thuốc sẽ đặc biệt chú ý những viêm xoang khác, đặc biệt khi chúng xảy ra ở những xoang sàng (sinus ethmoidal), cần một can thiệp cấp cứu trước khi chúng đi đến ở mặt. ” Ở một trẻ em dưới 6 tháng, một sốt cao và phù các mí mắt phải đưa đi cấp cứu !”, GS Louis Crampette, trưởng khoa TMH, chirurgie cervico-faciale, chirurgie maxillo-faciale et stomato của CHU de Montpellier đã nhấn mạnh như vậy.
Ở người lớn, nếu sốt gia tăng mạnh, nếu các triệu chứng dường như tập trung ở một phía duy nhất hay nếu đau gia tăng khi sự chảy chậm lại và nếu những xoang khác dường như bị viêm nhiễm, điều quan trọng là phải đi khám bệnh : một thầy thuốc sẽ khám mũi trong sâu với một rhinoscope và/hay một fibroscope. Ông ta sẽ tức thì kê đơn các kháng sinh và đôi khi cho chụp scanner để định rõ vị trí và mức độ của viêm xoang.
Một viêm xoang hàm một bên thường chỉ một thương tổn răng : khi đó mũi không phải là nguyên nhân và nhiễm trùng, phát xuất từ miệng, là do vi khuẩn (nói chung đó khuẩn chí kỵ khí) hay nấm, cần những điều trị nhắm đích hơn. Một scanner cho phép nhận diện nguyên nhân và điều trị nó. ” Thật vậy những viêm xoang khác cho thể dẫn đến những biến chứng dễ dàng hơn bởi vì chúng tiếp xúc với vài cấu trúc của đáy sọ, những hốc mắt hay những dây thần kinh sọ”, GS Morinière đã chỉ như vậy. Khi đó scanner là cần thiết và, trong vài trường hợp, thầy thuốc có thể yêu cầu nhập viện cấp cứu với điều trị kháng sinh bằng đường tĩnh mạch.
Ngoại khoa hiếm khi cần thiết đứng trước một viêm xoang cấp tính, ngoại trừ đối với những viêm xoang có nguồn gốc răng, khi những biến chứng cần phải sợ nếu không can thiệp hãy để lấy đi một vật lạ phát xuất từ miệng, loại bỏ một balle fongique hay chỉ cần dẫn lưu các xoang để loại bỏ nhiễm trùng. Ngoại khoa cũng tỏ ra hữu ích trong vài loại viêm xoang mãn tính, trong trường hợp polypose résistante hay để điều chỉnh một bất thường cơ thể học.
(LE FIGARO 18/2/2019)

2/ VIÊM XOANG : NHỮNG TRIỆU CHỨNG ĐỂ HƯỚNG CHẨN ĐOÁN
Viêm xoang là một bệnh thường gặp, thường không nghiêm trọng, là sự lan tràn đơn thuần của một nhiễm trùng mũi do virus đến các xoang lân cận. Có thể phòng ngừa sự xâm nhập này ngay những triệu chứng đầu tiên của một viêm mũi (rhinite), bằng cách tránh những căn phòng quá sưởi nóng, mà không khí, quá khô, kích thích các niêm mạc, bằng cách hỉ mũi đều đặn và bằng cách rửa mũi đều đặn.
Nếu nhiễm trùng và/hoặc viêm đến các xoang, khi đó chúng gây những triệu chứng, thay đổi tùy theo vị trí của các xoang và tùy theo nguyên nhân của viêm xoang và phải hiểu rõ để chống lại một cách đúng đắn. Như thế, viêm mũi-xoang hàm (rhino-sinusite maxillaire), thường gặp nhất, có thể kèm theo chảy nước mũi trong hay mủ, liên kết với đau vừa phải ở dưới hai mắt, dưới những gò má. Khi viêm mũi xoang kéo dài hơn một tuần, đau có thể gia tăng, nhất là khi ta nghiêng đầu ra trước, và kèm theo ho : đó là lúc phải đi khám thầy thuốc.
Nếu đau dường như có tính chất mạch đập (pulsatile), nếu các triệu chứng tập trung một phía duy nhất và nếu chúng không được cải thiện trong 2-3 ngày, phải đi khám bác sĩ nhanh hơn : có thể nhiễm trùng phát xuất từ răng và phải được điều trị.
ĐAU Ở MẮT
Những viêm xoang trán (sinusite frontale), hiếm hơn, thường nhất được liên kết với một bội nhiễm vi khuẩn, với sốt trên 38,5 độ C. Nói chung chúng gây nên những triệu chứng chỉ ở một phía, với đau mạch đập trên một mắt duy nhất và chỉ chảy ở một lỗ mũi.
Khi các xoang bướm (sinus sphénoidal) bị viêm nhiễm, đau xuất hiện ở sâu sau một mắt, tăng mạnh vào ban đêm và sốt thường lên đến 39 độ C với chảy nước mũi về phía sau. Đây cũng vậy, phải lấy hẹn nhanh để khám một thầy thuốc. Cũng phải phản ứng nhanh khi các xoang sàng (sinus ethmoidal) bị thương tổn. Viêm xoang này hiếm hơn nhiều nhưng có thể khuếch tán nhanh đến mắt, vào các hốc mắt. Nếu sốt tăng cao, đau xảy ra ở một mắt và nếu mí mắt của mắt này bị sưng phù, phải đi cấp cứu, nhất là khi đó là một đứa bé.
(LE FIGARO 18/2/2019)

3/ MỘT PHUƠNG PHÁP PHÁT HIỆN ĐỐI VỚI NHỮNG DẠNG VIÊM XOANG MÃN TÍNH
Trong khi đa số những viêm xoang cấp tính biến mất một cách nhanh chóng, một mình hay với một ít hỗ trợ, có khi những kháng sinh không có một hiệu quả nào và những triệu chứng dai dẳng. ” Ta xem một viêm xoang là mãn tính khi nó không biến mất sau 3 tháng “, GS Justin Michel của khoa ngoại TMH và cổ mặt của CHU de la Conception (Marseille) đã chỉ như vậy. Mũi chảy đều đặn với một niêm dịch có máu hay mùi hôi thối, đau hay nặng quanh các xoang, rối loạn khứu giác, ho kích thích : bấy nhiêu dấu hiệu, thường trực hay xảy ra từng đợt, gợi một viêm mãn tính của các xoang cần phải tìm kiếm nguồn gốc. Như trong thể cấp tính, rửa mũi thường xuyên sẽ là vũ khí đầu tiên cần sử dụng : nước muối cho phép lấy đi những vảy (croutes) để làm dễ sự đi vào của những thuốc dùng tại chỗ.
” Phải luôn luôn làm một điều tra tỉ mỉ, đôi khi dài lâu và chán ngắt, để xác định nguyên nhân của viêm, trước khi thực hiện một điều trị nền nhắm đúng đích”, GS Sylvain Morinière, trưởng khoa ORL chirurgie cervico-faciale của CHRU de Tours đã nhấn mạnh như vậy. Nếu các dị ứng thường được nghi ngờ, những nguyên nhân khác thường gặp như những nhiễm trùng có nguồn gốc từ răng, vi khuẩn hay nấm, phát triển âm thầm trong nhiều tuần. Vì niêm mạc xoang cùng loại với niêm mạc phế quản, nên hen phế quản và một ô nhiễm phổi đôi khi là nguyên nhân. Hiếm hơn, một thiếu sót miễn dịch hay một nhiễm trùng tự miễn dịch có thể là nguyên nhân. Những thương tổn dị ứng thường được phát hiện bởi “tính chất mùa” (saisonnalité) của chúng. Những triệu chứng khác, thường gặp hơn, có thể hướng theo một chiều này hay chiều kia : những rối loạn khứu giác thường gợi sự hiện diện của những polype, tính chất một bên (unilatéralité) khiến tìm kiếm một nguyên nhân do răng hay khối u.
NGOẠI KHOA, BIỆN PHÁP CUỐI CÙNG.
Những xét nghiệm phụ sẽ cần thiết để dự kiến một chiến lược điều trị. Scanner ban đầu cho phép thấy được một balle fongique, một vật lạ hay một bất thường cơ thể học, tạo điều kiện cho viêm và nhiễm trùng. Những chuyện khoa khác nhau có thể tham gia vào sự điều tra “viêm xoang mãn tính”. Khi đó điều trị sẽ nhắm trực tiếp nguyên nhân : giai mẫn cảm dị ứng (désensibilisation allergique), kháng sinh liệu pháp, corticothérapie toàn thân và/hay tại chỗ, điều trị hen phế quản. Ngoại khoa, được thực hiện bằng nội soi (endoscopie), vẫn là một biện pháp sau cùng khi một chướng ngại đã hoàn toàn được nhận diện : vật lạ, balle fongique, polypes hay bất thường cơ thể học. Thật vậy loại can thiệp này cho phép dẫn lưu các xoang một cách dễ dàng hơn những, những nguyên nhân đặc hiệu đã không được nhận diện, nó tạo điều kiện cho một sự chảy niêm dịch quan trọng hơn và một sự khó chịu càng quan trọng hơn đối với bệnh nhân.
” Đôi khi không một nguyên nhân nào có thể được nhận diện một cách rõ ràng”, GS Morinière đã chỉ như vậy. Trong tất cả các trường hợp, những bệnh nhân này phải được theo dõi (une surveillance améliorée) và đôi khi nhận một điều trị kháng sinh đều đặn để tránh những bội nhiễm và những biến chứng.
(LE FIGARO 18/2/2019)

4/ ĐIỀU TRỊ HORMONE CÓ HIỆU QUẢ CHỐNG LẠI BỆNH TRẦM CẢM CỦA THỜI KỲ MÃN KINH KHÔNG ?

Docteur Gabriel André
Gynécologue-obstétricien (Strasbourg)
Vice-président du Groupe d’étude de la
ménopause et du viellissement hormonal

Trong số những bệnh tâm thần, những rối loạn khí chất, và nhất là chứng trầm cảm, hai lần thường gặp ở phụ nữ hơn đàn ông. Tuổi dậy thì, thời kỳ hậu sản, thời kỳ tiền kinh nguyệt và thời kỳ chu mãn kinh (péri-ménopause) là những thời kỳ trong cuộc sống của các phụ nữ mà những dao động hormone có thể kèm theo một hội chứng trầm cảm.Thời kỳ chu mãn kinh (péri-ménopause) trải dài khoảng một chục năm với những biến thiên hormone dac biệt quan trọng và không thể tiên đoán. Trong thời kỳ này, nhiều phụ nữ thần tình trạng bất ổn định tình cảm (labilité émotionnelle) và 15 đến 30% trong số họ cảm thấy những triệu chứng trầm cảm, hoặc ba lần nhiều hơn trong thời kỳ tiền mãn kinh. Hẳn là những dao động của những nồng độ của oestrogène, thậm chí sự biến mất của chúng, có thể góp phần vào sự xuất hiện của một hội chứng trầm cảm ở những phụ nữ dễ bị thương tổn.
Những phụ nữ dễ bị tấn công trước hết là những phụ nữ ở họ tình trạng lo âu và trầm cảm đã xuất hiện trong những biến cố của đời sống sinh sản (hội chứng tiền kinh nguyệt, trầm cảm hậu sản…). Nhưng có những yếu tố khác : những biến cố đời sống đặc biệt căng thẳng, những vấn đề về sức khỏe, một sự trầm cảm quan trọng và một tiền sử trầm cảm trong gia đình. Sự cho oestrogène là một đáp ứng hợp lý. Chúng gia tăng sự tổng hợp và tình trạng sẵn sàng của sérotonine, bằng cách cải thiện sự dẫn truyền ở khớp thần kinh (synapse) và bằng cách giảm sự thoái biến. Các oestrogène tác động lên tất cả những chất dẫn truyền thần kinh (dopamine, noradrénaline…). Progestérone tự nhiên dường như cũng có một lợi ích đặc biệt, nó có liên quan trọng sự kiểm soát opioide, sérotoninergique và cholinergique, với một tác dụng giải ưu và tâm-thần kinh thuận lợi.Hai étude randomisée mới đây xác nhận những kết quả này. Công trình nghiên cứu của Schmidt (2015) đã xác nhận tầm quan trọng của sự sụt giảm oestrogène trong sự xuất hiện một trầm cảm. Công trình nghiên cứu này được thực hiện ở hai nhóm bệnh nhân không triệu chứng trong thời kỳ sau mãn kinh, được điều trị 3 tuần với một patch d’Estradiol (100mcg/ngày) : chỉ nhóm những phụ nữ với một tiền sử trầm cảm chu mãn kinh có một score de dépression gia tăng một cách đáng kể lúc ngừng điều trị, trái với những phụ nữ ở họ những oestrogène được tiếp tục. Không một hiệu quả nào đã được quan sát trong nhóm những phụ nữ không có tiền sử trầm cảm. Công trình nghiên cứu Gordon (2018) xác nhận lợi ích của các oestrogène trong thời kỳ chu mãn kinh. Công trình nghiên cứu này trong 12 tháng đã được thực hiện ở 172 phụ nữ, tuổi từ 45 đến 60, trong thời kỳ chu mãn kinh và mãn kinh sớm (họ đã nhận một patch E2 100 mcg/ngày liên tục và PN 200mg/ngày bằng đường miệng, 12 ngày mỗi 3 tháng), hay một placebo. Nhóm được điều trị trong thời kỳ chu mãn kinh sớm có một score de dépression thấp hơn nhiều (3% so với 48%). Nhưng một quan sát quan trọng và mới liên quan nhóm những phụ nữ (59%) báo cáo nhiều biến cố mới đây đặc biệt căng thẳng xảy ra trong cuộc sống. Hai hay nhiều những biến cố này được kèm theo một score dépressif được cải thiện so với placebo.
4 điểm cần ghi nhớ :
1. Ý niệm về những phụ nữ “dễ bị thương tổn” trong thời kỳ chu mãn kinh là quan trọng cần phải xét đến. Những tiền sử trầm cảm, nhất là trong những thời kỳ dao động kích thích tố (période để fluctuations hormoanles), và những biến cố đời sống đặc biệt căng thẳng, cần phải nhấn mạnh.
2. THM (được kê đơn cho những phụ nữ có triệu chứng) vậy có thể cả một tác dụng thuận lợi để phòng ngừa và điều trị một hội chứng trầm cảm của thời kỳ chu mãn kinh. Đường qua da, đối với oestrogènes, và progestérone naturelle có một lợi ích đặc biệt.
3. Trong thời kỳ chu mãn kinh, các oestrogène có một tác dụng mà hiệu quả có thể so sánh với tác dụng của những thuốc chống trầm cảm ở những phụ nữ có nguy cơ trầm cảm hay đang trầm cảm. Chúng không có tác dụng ở những phụ nữ không bị trầm cảm và ở những phụ nữ trầm cảm trong thời kỳ sau mãn kinh (post-ménopause)
4. Hôm nay ta biết rằng trầm cảm là một yếu tố nguy cơ tim-mạch và sa sút trí tuệ.(LE FIGARO 5/11/2018)
Đọc thêm : TSYH số 379 : bài số 3 và 4

5/ MÉDECINE NUMÉRIQUE : CAPSULE ĐẦU TIÊNMédecine sans fil, với những thiết bị cho phép những người điều trị theo dõi từ xa sức khỏe của các bệnh nhân, đang tiến bước. FDA (Food and Drug Administration), cơ quan dược phẩm Hoa Kỳ đã chấp thuận pilule numérique đầu tiên. Đó là một capsule, ngoài dược chất được phóng thích, chứa một microcapteur mà ta có thể nuốt vào. Ngay khi capsule tiếp xúc với acide của dạ dày, một tín hiệu được gởi đến một patch récepteur mà bệnh nhân mang. Patch này, qua Bluetooth truyền thông tin cho một Smartphone. Smartphone truyền tín hiệu cho một serveur de surveillance. Capteur sau đó được hòa tan và được thải ra bằng đường tự nhiên. Áp dụng đầu tiên : những bệnh nhân được điều trị vì những rối loạn tâm thần.
(PARIS MATCH 15/11-21/11/2018)

6/ DENTISTERIE DU SOURIRE : NHỮNG KỸ THUẬT MỚI
BS Valérie Travert, chirurgien-dentiste spécialisé en endodontie et esthétque dentaire, Paris
Hỏi : Phai chăng có một yêu cầu thẩm mỹ cho nụ cười ?
BS Valérie Travert : Vâng, và yêu cầu này gia tăng ở đàn ông cũng như phụ nữ, nhất là sau 50 tuổi, bởi vì màu và vị trí của các răng tiến triển với thời gian và biến thái nụ cười, “con chủ bài duyên dáng quan trọng” của nhân cách.
Hỏi : Một nụ cười đẹp phụ thuộc điều gì ?
BS Valérie Travert : Tùy thuộc vào màu răng. 1. Men răng (émail) được cấu tạo 98% chất khoáng, được tạo thành bởi một lớp tinh thể dày khoảng 2 mm. 2. Ngà răng (dentine), mô vàng được khoáng hóa, là thân răng (corps dentaire) nói riêng. Men răng, phủ kín ngà răng, mỏng đi với tuổi tác và sự sử dụng, điều này làm nó nhạy cảm với những chất nhuộm màu (café, trà, thuốc lá, gia vị), dễ bị loại bỏ bởi sự đánh bóng (polissage). Nhưng, do sự trong suốt của men răng, sự hóa mỏng này làm xuất hiện những khuyết tật của ngà răng. Thế mà, với thời gian, ngà răng này dày lên ít hay nhiều, đồng thời làm dính kết các sắc tố (xám hay vàng), điều này làm tối sầm màu sắc của ngà răng. Sản phẩm quy chiếu để loại bỏ chúng là peroxyde d’hydrogène. Được đặt trên bề mặt của răng, chất này đi xuyên qua những thính thể của men răng cà phá hủy, bằng phản ứng hóa học, những phân tử đậm màu. Điều trị ngoại trú bằng những gouttière dentaire thermoformée, được chế tạo sur mesure (mang khoảng 2 giờ mỗi ngày trong 15 ngày), hay được thực hiện ở cabinet của nha sĩ trong hai hoặc ba giờ nhờ một lampe mà tác dụng quang hóa (action photochimique) làm tăng nhanh blanchiment, thường với cái giá của một sự tăng tạm thời tính nhạy cảm của răng.
Hỏi : Một kỹ thuật mới được sử dụng. Đó là kỹ thuật gì ?
BS Valérie Travert : Một lampe hiệu năng hơn, được trang bị bởi những photosensibilisateur, đặc biệt cho phép chia 3 thời gian điều trị (hiệu quả lâm sàng nhanh hơn), như thế tránh làm men răng mất nước và làm nhạy cảm ngà răng với hiệu quả tương đương. Thành quả kéo dài từ 3 đến 5 năm và kỹ thuật có thể sử dụng lại. Những chống chỉ định là một vệ sinh kém, sự hiện diện của sâu răng, thuốc lá.
Hỏi : Còn đối với những vết trắng (taches blanches) thì sao ?
BS Valérie Travert : Những vết trắng này là do một sự thiếu sót khoáng hóa của men răng (sâu răng, excès de fluor, chấn thương). Điều trị với tiêm ngấm sâu (traitement d’infiltration profonde) cho phép làm biến mất chúng trong 10 đến 15 phút nhờ acide được đặt trên vết trắng, làm gia tăng tính xốp (porosité) của men răng. Rồi ta tiêm ngấm vùng với một résine, dưới đèn thích ứng, làm cứng và mang lại men răng dạng vẻ trong suốt của nó. Sự biến mất của vết trắng sẽ xảy ra tức thời và vĩnh viễn.
Hỏi : Còn đối với technique des facettes ?
BS Valérie Travert : Kỹ thuật này hiện hữu từ 40 năm nay : những vỏ mảnh bằng sứ được đặt, với những loại keo vô cùng hiệu năng, trên một hay nhiều răng xấu (nứt, gãy, xoay, răng lặn vào trong xòe ra), để che dấu những khuyết tật. Từ lâu đã phải cắt sửa răng gây thiệt hại cho men răng để có thể chỉnh sửa. Những facette pelliculaire mới đây hơn, bề dày 0,4-0,7 mm, cho phép tránh sự đẽo này. Cái mới là ở chỗ từ nay có thể chế tạo bằng tay (chưa bằng ordinateur), nhờ vài “artistes-artisans dentaires”, những microfacette có bề dày 0,1 đến 0,3 mm để cải thiện thêm nữa kết quả. Một maquette du projet được đặt ngay lên các răng của bệnh nhân, được bàn bạc, rồi được chuẩn nhận với nha sĩ. Các răng được điều trị bảo tồn men răng của chúng, không bị làm dễ vỡ nhưng được bảo vệ, làm đẹp một cách lâu dài (hơn 20 năm) ngay lần đặt cuối cùng.
(PARIS MATCH 24/1-30/1/2019)

7/ TỶ LỆ TỬ VONG TRONG LIÊN HIỆP CHÂU ÂU
Báo cáo 2018 của Commission européenne đã đưa ra những dữ kiện của năm 2015. Những bệnh tuần hoàn chiếm 37% của 5.217.376 trường hợp tử vong được thống kê, tiếp theo bởi bệnh ung thư (26%) và những bệnh hô hấp (8%). Ở Đan Mạch, Pháp, Hòa Lan và Vương quốc Anh, những tử vong do ung thư vượt những tử vong gây nên bởi những bệnh tim-mạch. Nếu ta xét một bệnh lý một cách riêng rẻ, bệnh động mạch vành vẫn là nguyên nhân thường gặp nhất của tử vong, theo sau bởi Tai biến mạch máu não. Ung thư gây chết người nhất, ung thư phổi, đứng hàng thứ tư. Bulgarie có tỷ lệ tử vong cao nhất với 1660 tử vong trên 100.000 dân, Pháp có tỷ lệ tử vong thấp nhất (859).
(PARIS MATCH 13/9-19/9/2018)

8/ RƯỢU VÀ UNG THƯ : PHỤ NỮ DỄ BỊ TẤN CÔNG
Theo Santé publique France, bệnh gây tử vong thường gặp nhất do rượu là ung thư. Ethanol của các nước uống cồn (boisssons alcoolisés) được biến hóa trong cơ thể thành acétaldéhyde, được xếp loại gây ung thư (cancérogène) bởi Trung tâm quốc tế nghiên cứu về ung thư của OMS. Đích được ưa thích của nó : tuyến vú. Ngoài ra, rượu gia tăng sự sản xuất oestrogène. Kích thích tố này kích thích sự tăng trưởng của loại u ác tính này. OMS chỉ rằng nguy cơ gia tăng bắt đầu từ 3 hay 4 ly mỗi ngày (+50%) và trở nên quan trọng (+130%) nếu sự tiêu thụ vượt quá 8 ly mỗi ngày. Tổng cộng, 8000 ung thư vú, nhưng cũng 7000 ung thư TMH, 7000 ung thư đại tràng và trực tràng và 4000 ung thư gan được trực tiếp gây nên mỗi năm bởi những nước uống cồn. 16.000 trong số 41.000 tử vong hàng năm ở Pháp có thể quy cho rượu là những ung thư.
(PARIS MATCH 21/3-27/3/2019)

9/ TA GIÀ VÀO LỨA TUỔI NÀO ?
IPSOS đã đặt câu hỏi cho 1000 người tuổi từ 16 đến 64 tuổi trong 28 nước. Ở Pháp, người ta cảm thấy già lúc 69 tuổi, hoặc hơn 3 năm so với tuổi già trung bình của các nước được thăm dò. Tuy vậy, người Pháp bị quân nhất về sự kiện bị già còn người Đức thì lạc quan nhất
(PARIS MATCH 21/3-27/3/2019)

10/ TÌNH DỤC : TUỔI CỦA NHỮNG GIAO HỢP ĐẦU TIÊN
Theo những dữ kiện của Santé publique France (2016), tuổi trung bình của những giao hợp đầu tiên là 17 tuổi đối với con trai và 17,6 tuổi đối với con gái. Những giao hợp được bảo về bởi một préservatif trong hơn 85% những trường hợp. Giao hợp đầu tiên được mong muốn “vào lúc đó”, ngoại trừ đối với 10,7% các cô gái nói đã không cưỡng được những mong chờ của partenaire của mình và 1,7% nói đã bị cưỡng ép.
(PARIS MATCH 15/11-21/11/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(21/3/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s