Thời sự y học số 499 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THUỐC : THẬN TRỌNG Ở NGƯỜI GIÀ
33 đến 40% những người già trên 75 tuổi dùng 10 loại thuốc mỗi ngày.
Tác dụng không mong muốn hay sử dụng thuốc sai gây những nguy hiểm, nhất là ở những người dùng nhiều thuốc (polymédicamentés).GERIATRIE. Ở những người già, những tai biến do thuốc ở Pháp chịu trách nhiệm khoảng 130.000 trường hợp nhập viện mỗi năm và 18.000 trường hợp tử vong. Từ 1/3 đến 1/2 trường hợp có thể tránh được. Điều đó là do tính yếu ớt đặc biệt của quần thể này, đối đầu với những bệnh mãn tính tích lũy với tuổi già và khiến phải gia tăng sử dụng thuốc. ” Những công trình nghiên cứu của Pháp đã cho thấy rằng những người trên 65 tuổi, chiếm 17% dân số, tập trung 44% những chi phí thuốc ở thành phố. Và 33 đến 40% những người trên 75 tuổi dùng hơn 10 loại thuốc mỗi ngày”, BS Marie Herr, thầy thuốc nghiên cứu y tế công cộng (Hopital Paris-Ouest) đã chỉ như vậy.
Tuy nhiên không nên lẫn lộn tác dụng không mong muốn, trực tiếp liên kết với thuốc, và nguy cơ tác dụng do điều trị (effet iatrogène) do sử dụng sai thuốc, thường có thể tránh được. Tác dụng do điều trị (iatrogénie) này có thể có nhiều nguyên nhân, Vài nguyên nhân liên kết với bệnh nhân : không tuân thủ sử dụng và liều lượng, ngừng điều trị sớm, tự cho thuốc, lẫn lộn các hộp thuốc,..Những nguyên nhân khác, liên kết với những thuốc được cho không thích hợp bởi vì được kê đơn nhầm, không hiệu quả, quá hay không đủ liều, hay gây những tác dụng có hại nếu được liên kết với những thuốc khác… ” Theo những phân tích méta trên nhiều chục công trình nghiên cứu, số những kê đơn không thích hợp cho những người già ở châu Âu là 22,6% ở médecine de ville và 43,2% ở những người già, sống phụ thuộc, trong structure d’accueil de long séjour “, BS Herr đã xác nhận như vậy.
Mặc dầu, những người già tự lập (autonome), sống ở nhà, trung bình trẻ hơn những người già phụ thuộc (dépendante), sống ở viện dưỡng lão. ” Nhưng trong lão khoa, chính tuổi sinh lý (age physiologique) mới là quan trọng. Một người già độc lập, theo đúng những điều trị của mình, không có vấn đề về trí nhớ, bảo tồn một hoạt động vật lý gìn giữ khối lượng gầy (masse maigre), có nguy cơ ít hơn nhiều bị một tai biến do điều trị (accident d’iatrogénie) so với một người già không hoạt động (sédentaire), suy dinh dưỡng, mất tự trị, GS Thomas Vogel, gériatre (CHRU-Strasbourg) đã giải thích như vậy. Vấn đề thật sự, đó là người già 80-90 tuổi, với nhiều bệnh lý khiến họ sử dụng 8 đến 10 loại thuốc mỗi ngày.” Thế mà nguy cơ té ngã, luôn luôn nghiêm trọng ở người già, gia tăng khi vượt quá 4 viên thuốc mỗi ngày.
Sự lão hóa là một quá trình không đồng nhất. “Ta càng già, ta càng khác nhau. Về mặt sinh lý hai người trẻ gần nhau hơn nhiều so với hai người già 80 tuổi tích lũy trong cả cuộc đời những yếu tố di truyền và những yếu tố môi trường.”, ông đã nhấn mạnh như vậy. Vậy định nghĩa “người già” tiến triển. ” Từ nay thuật ngữ này thường tập hợp những người trên 65 tuổi có những bệnh mãn tính (đái đường, suy tim, suy thận…) và những người già trên 75 tuổi trong trạng thái tốt “, GS Marie-Laure Laroche, pharmacologue (pharmacovigilance, CHU Limoges) đã định rõ như vậy.
Sự lão hóa này được kèm theo bởi những biến đổi sinh lý làm thay đổi chuyển hóa của thuốc. ” Sự đổi chất nhất, có ảnh hưởng nhất lên chuyển hóa thuốc, đó là chức năng thận. Lúc lão hóa, thận lọc ít tốt hơn. Một suy thận, không nhất thiết trầm trọng, xuất hiện dần dần và làm chậm sự thải của thuốc. Vậy thuốc tích tụ trong cơ thể, và nếu ta giữ cùng liều lượng ta ở trong tình huống quá liều. Khoảng 2/3 những người già có một chức năng thận bị biến đổi, điều này biện minh rằng ta phải thích ứng những liều lượng thuốc của họ “, GS đã ghi chú như vậy.
” Một người già, đó là một cân bằng mong manh, chỉ cần ít điều cũng đủ để làm mất thăng bằng.” Ví dụ vài bệnh xảy ra tình cờ. ” Khi bị viêm dạ dày-ruột, một bệnh cúm hay một thời kỳ nóng bức, một người già có thể mất nước. Nếu người già dùng thuốc thải mạnh qua đường tiểu, nồng độ của thuốc trong cơ thể gia tăng đột ngột, nghĩa là độc tính của nó, và bệnh nhân có thể nhanh chóng bị một suy thận nặng “, GS Vogel đã giải thích như vậy. Sự suy dinh dưỡng, thường gặp ở những người rất già, cũng làm giảm những protéine vận chuyển thuốc, vậy nồng độ “tự do” trong máu, nghĩa là độc tính, gia tăng.
Biến đổi khác liên kết với tuổi tác, sự mất khối lượng gầy (masse maigre), cơ, được bù bởi nhiều mỡ hơn.” Vài loại thuốc rất “thích mỡ” (lipophile) do đó sẽ tích tụ trong mỡ, với một nguy cơ quá liều. Nhất là đó là trường hợp benzodiazépines. Vì vậy chúng tôi khuyên không nên dùng những benzodiazépines có thời gian bán hủy dài, thải chậm, như valium, mà dùng những benzodiazépines có thời gian bán hủy ngắn, với liều thấp nhất và càng ít lâu càng tốt.” Ngoài ra, như nhiều psychotropes, chúng cũng là những thuốc hạ huyết áp dấu mặt, ở một người đã dùng những thuốc hạ huyết áp, có thể gây hạ huyết áp và té ngã.
(LE FIGARO 4/2/2019)

2/ Ở BORDEAUX, SỰ GIÚP ĐỠ CỦA ĐỘI DI ĐỘNG LÃO KHOA.
Hiện diện trên tất cả lãnh thổ, những équipe mobile de gériatrie mang những năng lực của mình đến giường của các bệnh nhân, trong tất cả những khoa phòng khác của bệnh viện, trong những Ehpad, nhưng cũng tại gia của những bệnh nhân không thể di chuyển. Multidisciplinaire, các đội di động gồm ít nhất một thầy thuốc lão khoa (gériatre) và một y tá.
Được thành lập cách nay 3 năm, équipe mobile của CHU de Bordeaux là một trong những équipe hiếm hoi cũng có một dược sĩ. ” Chúng tôi đến nhà của những bệnh nhân trên 75 tuổi có nguy cơ mất tự trị (perte d’autonomie), theo lời yêu cầu của thầy thuốc gia đình, của y tá, của assistante sociale…luôn luôn với sự đồng ý của thầy thuốc “, giám đốc của équipe, B Marie-Neige Nadeau, đã chỉ rõ như vậy.
THEO DÕI SỰ ÁP DỤNG CỦA NHỮNG ĐIỀU TRỊ.
” Trước khi đến nhà bệnh nhân, chúng tôi tiếp xúc dược sĩ của hiệu thuốc liên hệ, để có được nhiều thông tin nhất và danh sách những thuốc được cấp, mà chúng tôi đối chiếu với đánh giá lão khoa của bệnh nhân”, BS Stéphanie Mosnier-Thoumas, dược sĩ của équipe đã giải thích như vậy. ” Khi đó chúng tôi có thể lấy đi những trở ngại cho một sự tuân thủ điều trị tốt : kế hoạch sử dụng không thích ứng, số lượng thuốc quá cao hay dạng không thích ứng của thuốc, quên uống…Thường có những thừa hay những tương tác giữa các loại thuốc được kê đơn bởi những thầy thuốc khác nhau, những thầy thuốc chuyên khoa, những đơn thuốc không thích hợp hay cho thuốc không đủ, nhất là trong trường hợp trầm cảm, đau…”
Trung bình, những người già này có từ 6 đến 8 thuốc mỗi ngày. ” Mục tiêu, đó là thu giảm danh sách đồng thời giữ những thuốc cần thiết.” Đối với người dược sĩ, một trong những khó khăn quan trọng, đó là thiếu truyền đạt thông tin giữa những professionnel và thiếu theo dõi những điều trị trong thành phố, điều này tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những tác dụng phụ. ” Một khi chúng tôi đã đánh giá điều trị, mà chúng tôi đối chiếu nó với đánh giá lão khoa, chúng tôi đề nghị với thầy thuốc điều trị những thay đổi đơn thuốc.
(LE FIGARO 4/2/2019)

3/ TUỔI THỌ CỦA PHỤ NỮ, MỘT LỢI ĐIỂM VẪN CÒN KHÔNG ĐƯỢC GIẢI THÍCH ĐÚNG
Khắp nơi trên thế giới, đàn bà sống lâu hơn đàn ông. Một con chủ bài sinh học, có thể được liên kết bởi vai trò thiết yếu của họ trong sinh sản.DUREE DE VIE. Jeanne Calment, Emmma Morano, Jessie Gallan, Kane Tanaka…Điều chung của họ ? Đã sống ít nhất đến 110 năm. Và để hy vọng có chân trong câu lạc bộ ” supercentenaire ” này, tốt hơn là một người đàn bà. Ưu thế sống lâu này của phái yếu có mặt khắp nơi trên thế giới và cần tìm kiếm về phía những hormone sexuelle. Đặc biệt là những oestrogène. Đã được biết bảo vệ các phụ nữ chống lại các bệnh tim mạch cho đến tuổi mãn kinh, các oestrogène cũng gìn giữ các télomère, theo một công trình nghiên cứu được trình bày ở một hội nghị về mãn kinh bởi Elissa Epel, giáo sư tâm thần học (đại học San Francisco).
Những chuỗi ADN, bảo vệ đầu mút của những nhiễm sắc thể của chúng ta, bảo đảm sự duy trì tính toàn vẹn của génome trong quá trình phân chia tế bào. Bởi vì, mỗi khi một tế bào tăng sinh, các nhiễm sắc thể cũng tăng sinh với nguy cơ mất, ở những đầu mút của những nhiễm sắc thể này, một phần những thông tin di truyền cần thiết cho sự hoạt động của tế bào. Một hiện tượng tránh được nhờ những télomère. Bất hạnh thay, với thời gian, những télomère này bị hao mòn và ngắn lại. Khi chúng đạt đến một ngưỡng nào đó, tế bào bị lão hóa, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những bệnh thoái hóa hay ung thư. Từ nhiều năm nay ta biết rằng ở các phụ nữ, nói chung, những télomère này dài hơn so với đàn ông. ” Ở tuổi 50, một phụ nữ có những télomère tương đương với những télomère của một người đàn ông 42 tuổi “, GS Athanase Bénétos, trưởng khoa lão khoa ở CHRU de Nancy và nhà nghiên cứu ở Inserm, đã định rõ như vậy.
Theo Elissa Epel, vậy đặc điểm này được giải thích bởi tác dụng của oestrogène. ” Những công trình nghiên cứu thử nghiệm gợi ý rằng những hormone này gia tăng hoạt tính của télomérase, enzyme có thể bảo vệ và kéo dài các télomère “, nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như vậy. Một giả thuyết bị GS Bénétos bác bỏ. Vị giáo sư này giải thích rằng khi đó ta phải quan sát thấy một sự gia tăng hao mòn của các télomère sau thời kỳ mãn kinh vì lẽ thiếu oestrogène. ” Thế mà không phải là như vậy. Ngoài ra, những công trình mà chúng ta đã thực hiện hướng chúng ta về một giả thuyết khác, trong đó chiều dài của các télomère của chúng ta được xác định phần lớn sau những năm đầu của cuộc sống, mà chúng ta không biết bằng cách nào “, nhà chuyên gia Pháp đã nhấn mạnh như vậy.
Tuổi thọ của các phụ nữ vậy không thể được tóm tắt cho một vấn đề hormone đơn thuần. Chắc chắn nó phức tạp hơn. ” Để giải thích sự chênh lệch này, các nhà nghiên cứu đã thăm dò tất cả các lãnh vực : sinh học, xã hội, hành vi,…Cho đến nay không có một yếu tố nào đã cho phép giải thích hiện tượng”, GS Jean-Marie Robine, démographe, điều khiển équipe Recherche biodémographique sur la longévité et la vitalité (Inserm) đã phân tích như vậy.
Lợi thế sinh học có lợi cho các phụ nữ chủ yếu là do vai trò của họ trong sinh sản. Các phụ nữ sinh con và đã phải, suốt trong quá trình tiến triển, theo sát chúng trong những năm đầu để cho phép chúng sống sót đến tuổi trưởng thành. ” Ngoài ra điều đó là đúng đối với tất cả các loại động vật. Tuổi thọ luôn luôn về phía kẻ săn sóc các trẻ em, bảo vệ chúng “, GS Jean-Marie Robine đã nhấn mạnh như vậy.
Nhất là các phụ nữ có một lợi thế di truyền nhờ hai nhiễm sắc thể X : nếu một biến dị xảy ra ở một trong các gène của một trong hai nhiễm sắc thể X, nhiễm sắc thể kia cho phép một sự bù. ” Anh có thể chọn gène mạnh nhất, điều này không phải là trường hợp đối với con trai, với hai nhiễm sắc thể XY”, GS Athanase Bénétos đã giải thích như vậy. Ngoài ra, cặp nhiễm sắc thể X đóng một vai trò quan trọng chống lại những lésion oxydante gây nên bởi những radicaux libres. ” Bằng cách đảm bảo sự tăng sinh của các enzyme de réparation mà nhiễm sắc thể Y ít có khả năng chu tròn hơn nhiều “, Jacques Vallin, trong Démographie, đã ghi chú như vậy.
Vóc người nhỏ hơn của các phụ nữ cũng đóng một vai trò có lợi cho họ. ” Lợi điểm sinh học này là khoảng 2 năm “, Jean-Marie Robine đã nhấn mạnh như vậy. Lợi điểm được gia tăng, để đạt đến 6-8 năm trong những nước như Pháp và Nhật, từ khi các phụ nữ đã được tiếp cận những tiến bộ của y khoa (nhanh hơn nhiều so với đàn ông) et từ khi họ làm chủ khả năng sinh sản của họ.
Hôm nay lợi điểm này dường như ổn định thậm chí giảm, đó là vì đàn ông đến lượt hưởng được những tiến bộ và vì các phụ nữ đã theo những hành vi có nguy cơ hơn. Những lợi thế sinh học bẩm sinh tỏ ra là những yếu tố bảo vệ rất thấp so với thuốc lá, với rượu hay mới môi trường bất thuận lợi khác.
(LE FIGARO 8/10/2019)

4/ SENIORS : MỘT ĐA SỐ NHỮNG NGƯỜI LẠC QUAN
Một điều tra Ipsos-Fondation Korian pour le bien-viellir, được thực hiện ở Đức, ở Pháp, ở Ý và ở Bỉ ở những lão niên 65 tuổi và hơn (trên 1000 người mỗi nước), đã khảo sát trong số những đề tài khác nhau sự nhận thức mà họ có về tuổi tác của mình. Trong khi, đối với những người dưới 65 tuổi, ta già bắt đầu từ 70, thì đối với những senior, ta chỉ già từ 79 ! Đa số trong số họ (67%) cảm thấy khỏe mạnh về mặt vật lý và tinh thần và nghĩ rằng họ sẽ duy trì tình trạng thoải mái (bien-être) này cho đến một lứa tuổi gần cuối đời (trung bình 81-83 tuổi trong Cộng đồng châu Âu). Gần 60% cảm thấy trẻ hơn so tuổi của mình, 44% luôn luôn cảm thấy những tình cảm yêu đương và có một sự lôi kéo vật lý đối với vài người, và hơn 1/3 có những giao hợp đều đặn.
(PARIS MATCH 25/10-31/10/2018)

5/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA ASPIRINE
Ta biết rằng được dùng với liều lượng nhỏ (những liều lượng được khuyến nghị để phòng ngừa những bệnh tim mạch), nó làm giảm nguy cơ xuất hiện nhiều ung thư (đại trực tràng, phổi, tụy tạng…). Hai công trình nghiên cứu (Havard, Hoa kỳ) quy tụ hơn 300.000 người (những y tá và những người hành nghề y tế), được theo dõi trong khoảng 30 năm, cho thấy rằng giữa 1,5 và 5 liều (75 đến 100mg), nó làm giảm 49% nguy cơ ung thư gan và hơn nữa sau 5 năm. Nó cũng làm giảm 23% nguy cơ ung thư buồng trứng với liều 100 mg/ngày chỉ sau 1 năm. Tác dụng chống ung thư này phải chăng là do những tính chất chống viêm của aspirine ? Sự sử dụng những chất chống viêm khác (thí dụ AINS : antiinflammatoire non stéroides) không đảm bảo sự bảo vệ này. Điều này gợi ý rằng sự hiện hữu của một cơ chế riêng của aspirine, cho đến nay không được làm sáng tỏ.
(PARIS MATCH 21/2-27/2/2019)

6/ NHỮNG HẬU QUẢ NÀO ĐỐI VỚI ” BLUE” SAU KHI SINH

Professeur Israel Nisand
Gynécologue-obstétricien (Strasbourg)
Président du Collège national des gynécologues-
-obstétriciens français (CNGOF)

Ta thường trình bày thời kỳ trầm cảm có thể theo sau một sinh đẻ trong một thời gian ngắn ngủi như là bình thường và không có nguy cơ. Thế mà, không phải luôn luôn là như vậy và, sau passage à vide này, có thể che dấu một dépression thật sự không phải là không có hậu quả.Trở thành mẹ không nhất thiết đi đôi với hạnh phúc mà ta liên kết với một sự sinh ra đời, luôn luôn được cho là “biến cố hạnh phúc”. Đối với 15 đến 20% trong số họ, sự sinh đẻ được kèm theo bởi một sự suy sụp tinh thần. Nó có thể làm tái xuất hiện một bệnh tâm thần có trước, không nhất thiết đã được phát hiện trước đây. Thai nghén và thời kỳ sau sinh (période post-accouchement) là thời kỳ có nguy cơ nhất, trong đó những rối loạn lưỡng cực (troubles bipolaires) có thể tái phát. Nó cũng có thể tạo điều kiện cho sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần, từ trầm cảm của thời kỳ hậu sản (dépression du post-partum) đến bệnh loạn thần hậu sản (psychose puerpérale), hiếm xảy ra nhất nhưng trầm trọng nhất, ảnh hưởng một phụ nữ trên 1000.
Mặc dầu thường bị các bà mẹ ỉm đi, không được nghe đủ, thường bị phớt lờ bởi những nhân viên y tế, nhưng trong tất cả các trường hợp những rối loạn khí chất (trouble de l’humeur) và sentiment de vulnérabilité gia tăng của người mẹ là những dấu hiệu báo động của một tai họa mà ảnh hưởng ít được chú ý đến, trong khi nó đòi mỏi một sự cảnh giác tối đa. Những rối loạn này có thể dẫn đến tự tử, tạo nên nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở người mẹ. Nguy cơ là 70 lần cao hơn trong năm theo sau một sinh đẻ so với mọi lúc nào khác của đời sống của một phụ nữ. Hôm nay những rồi loạn tâm thần này là nguyên nhân chính của tỷ lệ tử vong chu sinh của người mẹ, trước cả xuất huyết và nhiễm trùng.
Nhưng sức khỏe tương lai của đứa bé cũng có nguy cơ. Một trầm cảm ở người mẹ có những hệ lụy kéo dài, không chỉ những rối loạn quyến luyến (trouble d’attachement) và tương tác mẹ-con, khả dĩ gây nên sự chậm phát triển nhận thức. Khi ta phân tích những trường hợp trầm cảm của các thiếu niên 16 tuổi, ta tìm thấy trong 100% các trường hợp một tiền sử trầm cảm của người mẹ, trong đó 60% xuất hiện vào lúc thai nghén. Chính BS Alain Grégoire, chủ tịch của Alliance pour la santé mentale maternelle périnatale và giáo sư tâm thần học chu sinh của đại học Southampton đã đưa ra sự báo động này.
GIẢM ĐỘT NGỘT HORMONE
Chiến dịch mà BS Alain Grégoire là animateur được mệnh danh ” Everyone’s Business” (đó là công việc của mọi người). Ở Pháp, hôm nay, công việc này thuộc về ai ? Có khoảng 20 unités d’hospitalisation conjointe mère-enfant (khoảng 94 giường) và 15 unité d’hospitalisation de jour, để điều trị những cha mẹ bị những bệnh tâm thần nặng. Nhưng phần lớn những trầm cảm hậu sản (dépression du post-partum) vẫn không được chẩn đoán. Thế mà một người mẹ trên mười bị liên hệ.
Chăm lo tốt hơn sức khỏe tâm thần của những bà mẹ trẻ đòi hỏi không được lẫn lộn trầm cảm hậu sản với baby-blues. Ít phụ nữ thoát khỏi hội chứng của ngày thứ ba (syndrome du troisième jour) này, được biểu hiện bởi những crises de larmes, những thay đổi tính khí đột ngột, thậm chí những cơn lo âu (bouffées d’anxiété) ngày sau khi sinh. Đến 80% những bà mẹ có thể bị một rối loạn tạm thời, được giải thích bởi sự kết hợp của một sự mệt mỏi thêm vào sự đảo lộn sinh lý liên kết với sự sụt giảm đột ngột kích thích tố. Những triệu chứng này nói chung biến mất trong vài ngày. Bệnh trầm cảm hậu sản, cũng có cùng những dấu hiệu, nhưng được biểu hiện, trong năm sau khi sinh, với một cao điểm 6-8 tuần sau khi sinh, rồi giữa tháng thứ 9 và 15. Được phát hiện và được theo kèm sớm, chứng bệnh này được điều trị. Nhưng nó có thể hoàn toàn không được nhận thấy. Do xấu hổ, các bà mẹ hiếm khi dám nói về điều đó, đôi khi dấu nó ngay cả với những người thân nhất. Còn những người điều trị, họ phải học lắng nghe tất cả những dấu hiệu yếu ớt. Sự ít tự tin, những biến cố căng thẳng của cuộc sống, tình trạng cô lập xã hội, những khó khăn trong đời sống vợ chồng, sự đảo lộn sinh lý và sự mệt nhọc liên kết với sự ra đời của đứa bé là những nguyên nhân thường gặp nhất. Stress liên kết với sự sinh có thể đóng một vai trò, nhất là khi sự sinh đẻ bị biến chứng. Hãy tưởng tượng một bà mẹ đến để sinh, thoạt tiên bình thường, nhưng rồi đột ngột phải lấy đứa bé ra, thình lình vì bị nguy cơ. Trong khoảnh khắc, thầy thuốc sản khoa chỉ nghĩ cứu người mẹ và đứa bé, trong khi người mẹ có cảm tưởng cái chết gần kề. Vào buổi sáng, khi giao ban, người ta chỉ nói đến kết cục may mắn. Và không ai thấy rằng người mẹ không được khỏe và rằng người mẹ bị đảo lộn bởi điều mà bà ta vừa trải qua. Ngay cả có khi người mẹ từ giả khoa sản mà không ai có thể thấy sự đau khổ của bệnh nhân và điều trị.
Stress post-traumatique là nguồn chi cấp lớn của chúng trầm cảm. Nó phải équipe soignante chú ý thường xuyên hơn, sự phát hiện những yếu tố nguy cơ của trầm cảm hậu sản có thể diễn ra sớm hơn nhiều, lúc entretien prénatal précoce, giữa nữ hộ sinh và người mẹ tương lai, khi có thai được 4 tháng. Tất các các maternité ở Pháp phải dự kiến espace d’écoute, de discussion này, để phát hiện tình trạng dễ bị thương tổn. Khám hậu sản, được dự kiến 6 tuần sau khi sinh là một cơ hội khác để phát hiện. Đó là cơ hội để kiểm tra xem sự cho bú có diễn biến tốt không, mối quan hệ với người chồng như thế nào và vécu psychique của người mẹ như thế nào.
(LE FIGARO 28/1/2019)

7/ CÓ PHẢI SỢ VACCIN KHÔNG ?GS Brigitte Autran, professeur émérite của phân khoa y khoa Đại học Sorbonne, Paris, nói về những người Pháp sợ bị tiêm chủng và sợ tiêm chủng các con mìnhHỏi : Một vaccin dùng để làm gì ?
GS Brigitte Autran : Để phòng ngừa những bệnh nhiễm trùng nặng, cho phép hệ miễn dịch ghi nhớ một kẻ thù siêu vi trùng hay vi khuẩn để, trong trường hợp bị tấn công, sản xuất những kháng thể bảo vệ chống lại nó trong chưa đầy 24 giờ (thay vì nhiều tuần). Cách nay khoảng hơn 200 năm, thời kỳ bệnh đậu mùa giết 20 đến 30% những người bị lây nhiễm, người Anh Edward Jenner, thầy thuốc nông thôn, đã có ý tưởng chủng những bệnh nhân của mình bằng những chất trích từ những nốt mủ (pustule) do bệnh đậu bò (vaccine : variole de la vache), một bệnh ít độc lực, như thế mang lại một sự bảo vệ chống lại người bà con của nó (bệnh đậu mùa). Pasteur lấy lại ý tưởng vaccin vivant atténué và cải thiện nó : ông phát minh một phương thức cho phép làm cho những tác nhân gây nhiễm trùng trở thành vừa vô hại vừa gây miễn dịch. Những vaccin vivant dựa trên nguyên tắc này (chống lại bệnh quai bị, bệnh rubéole, bệnh thủy đậu…) bảo vệ suốt đời và 96 hay 99% những người được tiêm chủng, nhờ một mũi tiêm duy nhất (thí dụ BCG), đôi khi hai (bệnh sởi). Trường phái Pasteur cũng đã sáng chế vaccin trơ (inerte), được chế tạo từ tác nhân nhiễm trùng bị giết chết (virus hay vi khuẩn), do đó bị bất hoạt. Nhưng những vaccin này mang lại một trí nhớ miễn dịch (mémoire immunitaire) ít mạnh hơn những vaccin sống và đòi hỏi, để duy trì một nồng độ các kháng thế đủ để bảo vệ, hai hay 3 mũi tiêm ban đầu cũng như những mũi tiêm nhắc lại (rappels)
Hỏi : Một adjuvant là gì và tính hữu ích của nó ?
GS Brigitte Autran : Đó thường nhất là những sels d’aluminium. Chúng được thêm từ 90 năm nay vào trong những vaccin trơ (chống bệnh uốn ván, bạch hầu, bệnh bại liệt…) để gia tăng khả năng kích thích tính miễn dịch, bởi vì sự chế tạ chủng loại bỏ những hoạt chất có tác dụng này, trong khi chúng hiện diện trong những vaccin sống. Với những adjuvant, các vaccin trơ cạnh tranh khả năng miễn dịch với những vaccin sống.
Hỏi : Những nguy cơ một một tiêm chủng là gì ?
GS Brigitte Autran : Những vaccin sống rất hiếm khi gây một maladie a minima ; những vaccin trơ không bao giờ, chỉ gây những phản ứng viêm, trước hết tại chỗ ở nơi tiêm. Cũng vậy đối với những sel d’aluminium, một cách ngoại lệ tạo điều kiện cho một phản ứng viêm kéo dài (vài chục trường hợp được biết). Cuộc tranh luận ở Pháp, gây nên trong những năm 1990 bởi vaccin chống bệnh viêm gan B, bị buộc tội đã gây nên những trường hợp sclérose en plaques, là một faux procès : không có một mối liên hệ nhân quả nào đã được chứng minh (những kết luận của OMS)
Hỏi : Bilan global của các vaccin
GS Brigitte Autran : Hàng tỷ người đã được tiêm chủng từ nhiều thập niên và chỉ vài chục đã có những biến chứng có thể có một liên hệ với sự tiêm chủng. Không một loại thuốc nào có thể cạnh tranh trên bình diện phòng ngừa và tương quan lợi ích-nguy cơ. Các vaccin cứu 3 triệu mạng sống mỗi năm trên thế giới và làm giảm sự sử dụng các kháng sinh, mà chống lại chúng các vi khuẩn ngày càng đề kháng. Chúng duy trì một áp lực lên các vi khuẩn nguy hiểm, nói một cách khác sự trổi dậu của chúng sẽ không tránh được. Một thí dụ : bệnh sởi tái xuất hiện hôm nay bởi vì ở Pháp sự chủng ngừa không đủ.Hỏi : Tại sao phải tiêm chủng bắt buộc ?
GS Brigitte Autran : Sự bảo vệ chỉ có hiệu quả (bệnh được kiểm soat) bắt đầu từ lúc mà 90 đến 95% dân chúng đã được tiêm chủng. Tỷ lệ tiêm chủng trung bình ở Pháp là 80% đối với những vaccin mới đây bắt buộc bởi vì 10 đến 15% cha mẹ vẫn còn đó dự, gây nguy hiểm cho tất cả mọi người. Phải ra khỏi laxisme này bởi vì tiêm chủng cũng là một động thái công dân : khi bảo vệ mình, ta cũng bảo vệ những kẻ khác.
(PARIS MATCH 11/10-17/10/2018)

Đọc thêm : TSYH số 459

8/ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG : MỘT TEST PAR AUTOPRELEVEMENT
Một phân tích quy mô lớn kết luận lợi ích của những trắc nghiệm tìm kiếm papillomavirus humain (HPV) để gia tăng số những phụ nữ tham gia vào sự điều tra phát hiện.DEPISTAGE. Phân tích hơn 80 công trình nghiên cứu kết luận lợi ích quan trọng của những test HPV par autoprélèvement để gia tăng số người tham gia vào sự phát hiện ung thư cổ tử cung.
Test HPV par autoprélèvement chẳng bao lâu có thể được yêu cầu trong sự phát hiện của ung thư cổ tử cung. Một phân tích méta, được công bố trong British Medical Journal và bao gồm hơn 80 công trình nghiên cứu cho thấy rằng những trắc nghiệm này, phát xuất từ những prélèvement được thực hiện bởi chính các phụ nữ, rất nhạy cảm và hiệu quả để tiên đoán nguy cơ ung thư cổ tử cung, gần như cũng đáng tin cậy như những trắc nghiệm được thực hiện bởi một thầy thuốc và, nhất là, cho thấy rằng sự sử dụng chúng cho phép gia tăng ty lệ số người tham dự vào dépistage khi những phụ nữ không muốn nhờ đến frottis tự thực hiện trắc nghiệm HPV par autoprélèvement này. Một sự công bố xảy ra đúng lúc khi công tác điều tra phát hiện của ung thư cổ tử cung đã được mở rộng vào cuối tháng giêng cho 17 triệu phụ nữ tuổi từ 25 đến 65 trong nước Pháp.Hiện nay, sự phát hiện ung thư cổ tử cung dựa vào một frottis được khuyến nghị mỗi ba năm từ 25 den 65 tuổi. Prélèvement này, được thực hiện ở cổ tử cung, cho phép phân tích những tế bào và phát hiện những bất thường. Nhưng từ vài năm nay, sự chú ý ngày càng hướng về những test HPV. Chúng cho phép, bằng một prélèvement y hệt với prélèvement của frottis, phát hiện sự hiện diện của virus HPV (papillomavirus humain), có nguy cơ cao ung thư, đặc biệt những sous-type HPV 16 hay 18 được tìm thấy ở khoảng 12% đến 15% những phụ nữ.Nhiễm virus này có thể biến mất một cách ngẫu nhiên nhưng virus cũng có thể gây nên những thưong tổn khả dĩ tiến triển thành ung thư ác tính. Khi một frottis bất thường, test HPV này đã được thực hiện và được bồi hoàn bởi Sécurité sociale ở Pháp để làm dễ chẩn đoán. Nhưng nhiều nước đã hướng về sự sử dụng nó trong điều tra phát hiện nguyên phát (dépistage primaire) thay cho frottis, thí dụ ở Hòa Lan, vì lý do đơn giản là trắc nghiệm này nhạy cảm hơn nhiều : hơn 95% so với khoảng 60 đến 70% đối với frottis. Nói một cách khác, nếu một test HPV âm tính, nguy cơ ung thư được xem như gần zéro trong 5 năm đến trong khi một frottis bình thường (chứng thực những tế bào a priori lành mạnh), không hoàn toàn loại bỏ khả năng một ung thư. Ngoài ra, version “autoprélèvement” của trắc nghiệm này gây sự quan tâm cao độ của giới hữu trách y tế vì lẽ tính hữu ích của nó ở những phụ nữ không tham gia sự điều tra phát hiện. Lần này không phải người thầy thuốc thực hiện prélèvement mà chính người phụ nữ thực hiện ở âm đạo với một écouvillon được gởi cho một phòng xét nghiệm.
Phân tích méta được công bố trong British Medical Jouranl xác nhận rằng sự thực hiện trắc nghiệm này dẫn đến những tỷ lệ chẩn đoán những thương tổn tiền ủng thư tương đương với những tỷ lệ có được khi nó được thực hiện bởi một thầy thuốc. Nhưng nhất là, một sự gởi trực tiếp đến nhà các phụ nữ không nhờ đến frottis cho phép tăng gấp đôi số người được phát hiện so với sự kiện gởi cho họ một giấy mời và một relance để đi khám một thầy thuốc phụ khoa. Thế mà, ở Pháp, khoảng 40% các phụ nữ giữa 25 và 65 tuổi không thực hiện đều dẫn một frottis.
Phân tích méta này bao gồm những công trình của BS Ken Haguenoer, thuộc Centre de coordination des dépistages des cancers ở CHU de Tours và người phụ trách chương trình Apache ở Pháp. Chương trình này đã cho phép đánh giá những test par autoprélèvement trong 7 năm qua ở hàng trăm phụ nữ qua 3 công trình nghiên cứu, Apache I, II và III. Những công trình nghiên cứu này đã chứng tỏ độ nhạy cảm rất tốt của trắc nghiệm trong những điều kiện vận chuyển an toàn và ít tốn kém và tính chất được chấp nhận rất tốt bởi các phụ nữ khi trắc nghiệm được gởi đến tai nhà. Những kết quả cũng đã cho thấy rằng 90% các phụ nữ đã có một kết quả HPV dương tính đã thực hiện sau đó một frottis để kiểm tra sự hiện diện của những tế bào bất thường.
” Trắc nghiệm này tạo một cơ hội rất tốt để mang các phụ nữ trở lại trong circuit de dépistage trong khi họ bị loại trừ do tình trạng cô lập địa lý, do một sự dè dặt đối với khám phụ khoa. Trái lại đó không thể là một giải pháp duy nhất vì nó sẽ không bao giờ thay thế sự đi khám một thầy thuốc cho phép trao đổi và đề cập nhiều vấn đề sức khỏe”, Ken Haguenoer đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 18/2/2019)

9/ KHÔNG, MUỐI KHÔNG ĐẢM BẢO SINH CON TRAI
Từ tháng giêng, nhiều média đã cổ xướng application MyBubelly, khoe rằng giúp các phụ nữ chọn giới tính của đứa con tương lai của họ nhờ một chế độ ăn uống, và giúp chọn ngày thụ thai. Thí dụ, nếu muốn sinh con gái, phải ăn rau xanh và những sản phẩm sữa, điều này, do toan hóa pH âm đạo, tạo điều kiện cho sự đi qua của những tình trùng mang một nhiễm sắc thể X. Ngược lại, để sinh con trai, phải ưu tiên thịt và đồ ăn mặn, được cho là gia tăng PH và tạo ưu thế cho những tỉnh trùng mang nhiễm sắc thể Y. Ý tưởng này chủ yếu dựa trên một nghiên cứu lâm sàng (không chứng thực), được thực hiện trong những năm 1970 bởi François Papa. Ngoại trừ, như được chỉ rõ bởi Philippe Deruelle, giáo sư của CHỦ đề Strasbourg, ” đã không bao giờ được chứng minh rằng pH âm đạo có một năng lực chọn lọc nào đó lên các tinh trùng. Và ngay cả nếu như vậy, việc hy vọng biến đổi nó chỉ nhờ một chế độ ăn uống, mặc dầu đó là một tham số rất thay đổi từ phụ nữ này đến phụ nữ khác, thậm chí từ ngày này đến ngày khác, tạo một vision ubuesque về chức năng của cơ thể phụ nữ “. Còn về việc chọn ngày thụ thai (giao hợp trước khi rụng trứng để sinh con gái ; ngày sau khi rụng trứng để sinh con trai), ” lại nữa, điều đó không dựa trên một yếu tố nghiêm chỉnh nào”. Ngắn gọn, với 149 euro/tháng, MyBuBelly không gì khác hơn là một belle arnaque. Sử dụng nó hay không, anh sẽ luôn luôn có xác suất sinh trai bằng với sinh gái.
(SCIENCE ET VIE 3/2019)

10/ BÚ SỮA BÌNH LÀM DỄ THUẬN TAY TRÁI HƠN.
Bằng cách tập hợp nhiều công trình nghiên cứu, một nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ đã cho thấy rằng trong những nhóm của các em bé được cho bú sữa mẹ trong hơn 6 tháng, những trẻ thuận tay trái (gaucher) chỉ chiếm 10% so với 13% trong số những trẻ được cho bú sữa bình ngay khi sinh. Cần biết rằng thời gian bú sữa mẹ càng gia tăng, sự chênh lệch càng sâu. Tác giả cho rằng tính trội của một bán cầu đại não so với bán cầu đại não kia được xác lập trong 9 tháng đầu của đời sống, và rằng sự phát triển này một phần là do chế độ ăn uống.
(SCIENCE ET VIE 3/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/3/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s