Thời sự y học số 498 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ XƠ GAN : MỘT DỊCH TỄ HỌC TRONG THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP.
200.000 người bị xơ gan ở Pháp, chịu trách nhiệm 10.000 đến 15.000 trường hợp tử vong mỗi năm
Mặc dầu rượu vẫn là nguyên nhân đầu tiên, chứng béo phì (obésité) và hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique) tăng cao rõ rệt.HEPATOLOGIE. ” Tỷ lệ tử vong liên kết với những bệnh của gan hơi giảm ở Pháp “, GS Eric Nguyễn Khắc, phụ trách service d’hépato-gastro-entérologie của CHU đ’Amiens đã chỉ như vậy. ” Nguyên nhân đầu tiên của bệnh gan phần lớn vẫn là rượu, chịu trách nhiệm hơn 70% những trường hợp xơ gan.” Một sự tiêu thụ rượu quá mức và đều đặn gây nên một viêm mãn tính của gan, dẫn đến sự tạo thành mô sợi, đó là xơ gan.
Khoảng 200.000 người bị xơ gan ở Pháp, trong đó 1/3 ở một giai đoạn tiến triển, chịu trách nhiệm từ 10.000 đến 15.000 trường hợp tử vong mỗi năm. Xơ gan và những biến chứng của nó theo một cách tự nhiên đường cong tiêu thụ rượu, giảm liên tục trong đất nước của chúng ta từ Đệ nhị thế chiến. Ở Vương quốc Anh, đã chuyển từ một sự tiêu thụ dồi dào bia ít alcool (bière peu alcoolisée) sang một sự tiêu thụ đều đặn rượu mạnh, nên các bệnh gan tăng cao liên tục. Song song, những tiến bộ quan trọng được thực hiện trong điều trị những bệnh viêm gan siêu vi trùng đã cho phép, trong vài nước, giảm nhiều sự đè nặng lên tỷ lệ tử vong do gan. Một công trình nghiên cứu quan trọng, được công bố vào tháng 9 vừa qua bởi European Association for the Study of the Liver (EASL), cũng dựng lên một bức tranh đang tiến triển của sức khỏe gan của chúng ta, phân tích ảnh hưởng của những yếu tố nguy cơ khác nhau gây xơ gan và đặt vấn đề các can thiệp hữu ích để phòng ngừa chúng. Công trình nghiên cứu này cũng mô tả ảnh hưởng tiềm năng của một yếu tố nguy cơ khác, đang gia tăng rõ rệt trong vài vùng của châu Âu : chứng béo phì và hội chứng chuyển hóa đi kèm theo nó.
Xơ gan là hậu quả được dự kiến của stress inflammatoire répété mà nhiều tác nhân tấn công bắt gan chịu, chủ yếu virus, ruợu và hội chứng chuyển hóa, dẫn đến sự tích tụ mỡ trong gan, đó là stéatose hépatique. Chứng ” Gan mỡ” (foie gras) này được kèm theo bởi một tình trạng viêm, tác động chủ yếu lên các huyết quản của gan. Những huyết quản này bị tắc rồi hoại tử, cách ly những nhóm tế bào gan bị chết và để lại một mô sợi không chức năng (tissu fibreux non fonctionnel). Những tế bào gan mới có thể được tạo thành chung quanh mô sẹo này, nhưng chúng được tập hợp thành những nodule được phân bố một cách hỗn loạn trong cơ quan, như thế tính hiệu quả bị giảm bớt. Vì những vaisseaux biliaire cũng bị ảnh hưởng, nên chính toàn bộ tuần hoàn gan bị giảm đi, gây nên một sự tích tụ dịch trong gan và đôi khi trong bụng. Ngoài ra, những yếu tố di truyền dường như tác động lên tiến triển của bệnh : 10 đến 20% những người bị một gan mỡ sẽ bị xơ gan và, trong số những người này, khoảng 30% cuối cùng sẽ bị ung thư gan.
Quá trình này xảy ra sau 15 hay 20 năm tiếp xúc đều đặn với một virus viêm gan (B và C), với một sự tiêu thụ quá mức và đều đặn rượu hay bị một chứng béo phì (nhất là khi nó ảnh hưởng tour de taille). Xơ gan là một bệnh của “bon vivant” với một tác dụng cộng lực với những yếu tố nguy cơ. Công trình nghiên cứu EASL (European Association for the Study of the Liver) cho thấy rằng, đối với một chỉ số khối lượng thân thể (IMC) trên 35, hai ly rượu đáng giá 4 đối với gan. Vậy xơ gan được chẩn đoán khoảng năm 50 tuổi, hoặc bởi vì nó được phát hiện bởi một trong những biến chứng của nó (xuất huyết tiêu hóa, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cổ trướng, bệnh não gan, ung thư…), hoặc một cách tình cờ nhân một thăm khám liên kết với những yếu tố nguy cơ.
” Nếu xơ gan đã thành hình, những vết sẹo sẽ không biến mất, GS Romain Moirand, hépato-gastro-entérologue và phụ trách unité d’addictologie của CHU de Rennes đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên, khi xơ gan mới xảy ra, gan có thể phục hồi một chức năng gan như bình thường. ”
Trong tất cả các trường hợp, không có điều trị cho xơ gan và mục tiêu của xử trí nhằm ổn định sự xuống cấp để cho gan có một cơ may sản xuất những tế bào gan mới được tổ chức khá để hoạt động. Xơ gan càng được phát hiện sớm, can thiệp càng hiệu quả. Vậy hôm nay, vấn đề của một điều tra phát hiện (dépistage systémique) được đặt ra. Khi đó rượu vẫn là mục tiêu đầu tiên, vì lẽ rằng một sự tiêu thụ rượu thái quá không nhất thiết đồng nghĩa với alcoolisme làm biến đổi hành vi. 1/2 bia hai lần buổi chiều và một ly rượu vang vào buổi trưa tích tụ nhanh để tạo 21 đơn vị rượu mỗi tuần, một lượng rất quan trọng, đủ để tạo điều kiện cho xơ gan. Ngoài ra bệnh nhân thường nhận thấy tác động lên sự uống rượu (bệnh nhân không luôn luôn nhận thức điều đó) dễ hơn là lên trọng lượng của mình, rất khó làm mất cân sau 50 tuổi !
(LE FIGARO 28/1/2019)

Đọc thêm : TSYH số 315 : bài số 9

2/ NHỮNG KỸ THUẬT KHÔNG XÂM NHẬP ĐỂ CHẨN ĐOÁN
Xơ gan là một bệnh không có triệu chứng bên ngoài, trừ khi nó bị biến chứng. Trước giai đoạn này, có khi chỉ cần mot ấn chẩn, cho thấy một sự biến đổi của cấu trúc gan, cũng đủ hướng về một chẩn đoán xơ gan. Khi không có triệu chứng, trước hết do profil của nó mà một thầy thuốc khiến phải nghi ngờ một xơ gan. Từ một chục năm nay, sinh thiết không còn cần thiết nữa để xác nhận chẩn đoán, những công cụ thăm khám không xâm nhập mới có thể thay thế sinh thiết.
Đứng trước một người đàn ông (vẫn còn hơn 3 trường hợp trên 4 hôm nay), khoảng ngũ tuần, có bụng phệ và/hoặc một sự tiêu thụ rượu có nguy cơ, điều này sẽ khiến người thầy thuốc tìm kiếm trong máu những dấu hiệu bất thường của chức năng gan. Nếu sự ấn chẩn không phát hiện gì, vị thầy thuốc sẽ chọn thăm khám gan và hệ mạch máu của nó bằng échographie Doppler, đặc biệt cho phép phát hiện tính không đều của bề mặt gây nên bởi các hòn tái sinh (nodules de régénération) và những dãi sợi (bandes fibreuses). Mạng tĩnh mạch và tuần hoàn tĩnh mạch cũng bị biến đổi và có thể phát hiện bằng Doppler. Thăm dò này tỏ ra hiệu quả hơn scannner hay IRM. Đôi khi siêu âm không đủ khi bụng rất căng giãn, khi hình thái học của bệnh nhân không cho phép điều đó hay khi người thao tác không có thói quen tìm kiếm những dấu hiệu này.Vậy những công cụ khác mới đây đã được hiệu chính để đo mức độ mềm dẻo của gan. Những élastomètre này là những échographe. Đối với những modèle đầu tiên, chúng gởi một loạt những xung động cơ học lên trên thành bụng và đo độ méo (distorsion) khi những xung động trở lại. Điều này đặc biệt cho phép nhận diện những vùng sợi (zone fibreuse), cứng hơn mô gan bình thường. Những modèle mới đây sử dụng những ultrason à fort impact mécanique, tương tự với những sonar của các tàu đánh cá.
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA MỘT ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN HỆ THỐNG
Sự hiệu chính những công cụ không xâm nhập này đặt vấn đề cua một điều tra phát hiện hệ thống (dépistage systémique), vào lúc mà sự gia tăng những trường hợp gan mỡ (stéatose hépatique) liên kết với một hội chứng chuyển hóa khiến sợ một sự gia tăng ồ ạt những trường hợp xơ gan không do rượu và không do virus (cirrhoses non alcooliques et non virales). ” Tất cả những hội nghị gan hôm nay đều nêu lên khả năng này, GS Nguyễn đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên dường như còn khó để xét đến sự thực thi nhanh chóng điều này.” Thật vậy, nếu quả là hữu ích bắt đầu từ năm 40 tuổi, vào lúc mà sự biến đổi gan gia tăng đối với một số ngày càng nhiều những bệnh nhân, làm sao biện minh phí tổn/tính hiệu quả đối với một dân số quan trọng như thế trong khi một điều trị chữa lành vẫn chưa hiện hữu ? Nhiều loại thuốc đua tranh để làm giảm chứng gan mỡ, nhưng những thử nghiệm đang tiến hành chỉ ở giai đoạn II.
Trong khi chờ đợi sự triển khai một thiết bị như vậy, thường hơn, các chuyên gia đề nghị những thăm dò cần thiết và, khi một viêm gan B hay C đã được phát hiện và khi gan đã cho thấy những dấu hiệu đầu tiên của một gan mỡ, họ có thể thiết đặt một sự theo dõi đều đặn.
(LE FIGARO 28/1/2019)

Đọc thêm : TSYH số 429 : bài số 4

3/ BẢO VỆ GAN CHỐNG LẠI MỠ VÀ ĐƯỜNG
Gan là một yếu tố thiết yếu của sự tiêu hóa, chịu trách nhiệm nhiều chức năng sinh tử biến hóa những thức ăn. Gan biến hóa, tích trữ và phân bố về những tế bào khác nhau của cơ thể, những chất dinh dưỡng phát xuất từ sự tiêu hóa. Gan sản xuất phần lớn những protéine của máu cũng như mật và thoái biến nhiều chất độc. Như thế gan là trung tâm của chuyển hóa rượu, lipide và những chất đường. Tất cả những chất này, nếu được cung cấp thặng dư, sẽ biến đổi toàn bộ những quá trình chuyển hóa của cơ thể.Nếu những thặng dư này kéo dài, gan tích trữ đa số các lipide, làm “nghẹt thở” những tế bào gan và thật sự trở thành một “gan mỡ” : stéatose hépatique, bệnh lý ở người. Đồng thời, nhiều phân tử viêm khác được sản xuất trong gan nhưng cũng trong những cơ quan khác, với những tác dụng có hại lên toàn bộ cơ thể.Hội chứng chuyển hóa này càng ngày càng thường gặp, phần lớn liên kết với dịch bệnh béo phì đang hoành hành trên toàn thế giới. Khi gan vẫn mỡ quá lâu, nó có thể tiến triển thành xơ gan. Mặc dầu những trường hợp xơ gan vẫn còn phần lớn liên kết với rượu ở châu Âu hay với những viêm gan đối với phần lớn của hành tinh, tuy nhiên chúng dường như càng ngày càng được liên kết với hội chứng chuyển hóa ở Bắc Mỹ.
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG KHÔNG THÍCH ỨNG
Công trình nghiên cứu HEPAHEALTH của EASL, được công bố năm 2018, cho một tỷ lệ lưu hành 23,71% stéatose hépatique non alcoolique ở châu Âu, chiếm 12% những nguyên nhân ghép gan, điều trị duy nhất của xơ gan, giữa 1988 và 2016. Nếu không nói đến bệnh soda ở Pháp (mức độ tiêu thụ không đạt đến mức độ ở Hoa Kỳ, ở đây việc thêm fructose dường như đặc biệt là nguyên nhân), chế độ ăn uống không thích ứng và sự thiếu hoạt động vật lý đúng là ở trung tâm của một sự gia tăng khả dĩ của những xơ gan không do rượu và những ung thư gan. Theo hình ảnh của các con ngỗng và vịt hoang dã, phải chăng cần phải khuyến nghị người những cuộc di chuyển dài để họ cũng loại bỏ gan mỡ ?
(LE FIGARO 28/1/2019)

Đọc thêm : TSYH số 454

4/ NHỮNG ĐỘNG THÁI NÀO ĐỂ PHÒNG NGỪA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT XƠ GAN

Professeur Nathalie Ganne-Carrie
Service d’hépato-gastroentérologie
Hôpitaux universitaires Paris Seine-Saint-Denis

Xơ gan là hậu quả, sau một tiến triển dài, của một bệnh mãn tính của gan, dầu cho nguyên nhân của nó là gì. Xơ gan xảy ra sau nhiều thập niên tiếp xúc với một hay nhiều tác nhân, trong đó những tác nhân chính theo thứ tự tần số ở Phương Tây là : sự tiêu thụ quá mức và kéo dài của rượu (50 đến 85%), nhiễm trùng mãn tính bởi virus của viêm gan C (10 đến 25%), hội chứng chuyển hóa (tăng thể trọng và/hay đái đường mỡ), chịu trách nhiệm sự tích tụ của những mỡ độc trong gan (10 đến 15%) và virus của viêm gan B (2 đến 5%).
Ở Pháp, tần số của xơ gan, được ước tính trong toàn dân tối thiểu từ 0,2 đến 0,67% (150.000 đến 200.000 trường hợp), gia tăng một cách đáng kể ở những bệnh nhân có một nguyên nhân bệnh mãn tính của gan : 8 đến 14% ở những bệnh nhân có một sự tiêu thụ rượu thái quá và 2,8% ở những bệnh nhân đái đường.
Một khi đã thành hình, xơ gan không thể đảo ngược và đe dọa sự sống của bệnh nhân vì nguy cơ xuất hiện những biến chứng nặng (suy chức năng gan, tràn dịch trong ổ bụng, xuất huyết tiêu hóa, và/hoặc ung thư gan nguyên phát), nguồn gốc của khoảng 10.000 đến 15.000 tử vong mỗi năm trong đất nước của chúng ta.
Bù lại, có thể phòng ngừa sự phát triển của một xơ gan. Khi nguyên nhân của gan là do thể tạng, như hémochromatose liên kết với một tăng gánh sắt (surcharge en fer), được xác định về mặt di truyền, thì sự phòng ngừa gan bắt buộc một điều trị suốt đời (chủ yếu bằng những trích máu định kỳ).Trong những trường hợp thường gặp nhất, trong đó nguyên nhân của bệnh bị mắc phải, sự phòng ngừa xơ gan dựa trên sự loại bỏ những yếu tố nguy cơ. Nhờ những chiến dịch tiêm chủng chống virus của viêm gan B (mà ảnh hưởng tùy thuộc vào khả năng vượt qua những tranh luận chung quanh những tác dụng phụ của vaccin này), nhờ sự hủy bỏ những lây nhiễm do truyền máu, và nhờ sự cải thiện đều đặn những điều trị trực tiếp chống virus của viêm gan C, hiệu quả hơn và được dung nạp tốt hơn, trách nhiệm của những nhiễm virus B và C phải tiếp tục giảm.Ngược lại, sự tiêu thụ rượu sau khi đã giảm mạnh ở Pháp, đã ổn định từ vài năm nay. Nhưng kiểu uống “binge-drinking” (biture express) đe dọa một sự gia tăng những trường hợp xơ gan do rượu trong những nước phương Tây.
Cũng vậy, do sự gia tăng của tần số của tăng thể trọng và của béo phì trong dân chúng phương Tây (15% những người béo phì và 32% những người tăng thể trọng năm 2012 ở Pháp, hoặc những con số gấp đôi những con số của năm 1997), có thể rằng phần xơ gan do hội chứng chuyển hóa gia tăng trong những năm đến.
Đứng trước những chứng thực dịch tễ học này, những biện pháp vệ sinh-ăn uống là bức thiết để ngăn ngừa sự tạo thành một xơ gan :
1. Dĩ nhiên, trong tất cả các trường hợp khuyên không nên tiêu thụ rượu thái quá, nhất là khi có một yếu tố nguy cơ xơ gan khác, nguy cơ phụ thuộc liều tiêu thụ chứ không tùy thuộc loại rượu (rượu vang, bia hay rượu mạnh). Sự “tiêu thụ ngưỡng có hại cho sức khỏe ” consommation seuil nuisible pour la santé ” lần lượt khoảng 2 và 3 ly mỗi ngày ở đàn bà và đàn ông ;
2. Nhưng cũng tránh cách uống rượu theo kiểu anglo-saxon “binge-drinking”
3. Hạn chế những cung cấp calo, đặc biệt những thức ăn giàu đường, nhất là fructose (sodas)
4. Khuyến nghị gầy đi trong trường hợp tăng thể trọng hay tránh một sự lên cân quan trọng
5. Duy trì một hoạt động vật lý đều đặn và thích ứng
Ngược lại, một sự tiêu thụ mỗi ngày 2 tách cà phê sẽ có tác dụng bảo vệ và cho phép giảm một cách đáng kể nguy cơ fibrose hépatique và cirrhose.
Vì xơ gan cần vài thập niên để phát triển ở một bệnh nhân, vậy có thể rằng ảnh hưởng của những biện pháp làm giảm sự tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ sẽ đòi hỏi cùng thời gian để có những hiệu quả thật sự về mặt y tế công cộng. Vì sự kiện này, các thầy thuốc còn phải điều trị nhiều bệnh nhân trong 10 đến 20 năm đến và tiếp tục cảnh cáo toàn dân chống lại những tác hại của rượu và đường.
Đó là thông điệp mà AFEF, Hiệp hội hépatologie của Pháp, không ngừng lập lại cho các chuyên gia nhưng cũng cho những thầy thuốc đa khoa và dân chúng.
(LE FIGARO 11/4/2016)

Đọc thêm : TSYH số 411 (Hémochromatose)

5/ MICI : VAI TRÒ CỦA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG
GS Matthieu Allez, gastroentérologue, bệnh viện Saint-Louis, Paris X, tóm tắt những tiến bộ điều trị trong điều trị những bệnh viêm ruột mãn tính (Mici : maladie inflammatoire chronique de l’intestin)
Hỏi : Người ta gọi Mici là gì ?
GS Matthieu Allez : Đó là những bệnh viêm mãn tính của ruột, tập hợp hai thực thể bệnh lý : bệnh Crohn (MC) và bệnh viêm đại-trực tràng xuất huyết (RCH). Chúng được đặc trưng bởi những vết loét (ulcérations) của thành của ống tiêu hóa, có thể thấy được bằng nội soi hay X quang. Sự kéo dài của viêm có thể gây nên sự phá hủy của vài đoạn ruột. RCH xảy ra ở trực tràng và lan rộng trên đại tràng ít hay nhiều. Bệnh Crohn có thể gây thương tổn những đoạn ruột khác, nhất là phần cuối của ruột non, và đôi khi vùng hậu môn. Mici là do sự xung đột giữa hệ miễn dịch của bệnh nhân và những vi khuẩn hiện diện trong ruột của bệnh nhân này (microbiote). Mặc dầu cơ chế của những bệnh này hôm nay được hiểu rõ hơn, nhưng nguyên nhân chính xác cần phải được làm sáng tỏ.
Hỏi : Có bao nhiều người bị bệnh lý này ở Pháp ? Có những yếu tố nguy cơ không ?
GS Matthieu Allez : Khoảng 250.000 người mang một bệnh RCH hay một bệnh Crohn, tỷ lệ bằng nhau. Những bệnh này có thể bắt đầu ở tất cả mọi lứa tuổi, thường ở tuổi thiếu niên hay ở những người trưởng thành trẻ (20-30 tuổi), và xảy ra ở đàn ông bằng với đàn bà. Ta biết hơn 200 gène tố bẩm của Mici, nhưng môi trường đóng một vai trò quan trọng. 1. Thuốc lá gia tăng nguy cơ phát triển một bệnh Crohn và làm trầm trọng sự tiến triển của nó. 2. Ta nghi ngờ một vai trò có hại của thức ăn công nghiệp được biến chế và của malbouffe biến đổi thành phần của microbiote. 3. Sự sử dụng thái quá kháng sinh trong thời thơ ấu tạo điều kiện cho những bệnh lý này.
Hỏi : Những dấu hiệu và những biến chứng khả dĩ của chúng là gì ?
GS Matthieu Allez : Những triệu chứng thay đổi đối với mỗi bệnh nhân : ỉa chảy, đi cầu ra chất nhớt (glaires) và máu, đau bụng liên kết với một sự gầy ốm, do mất cảm giác ăn ngon hay sợ thức ăn. Mệt thường gặp. Những dấu hiệu ngoài tiêu hóa (khớp hay da) đôi khi hiện hữu.Trong bệnh Crohn, những thương tổn có thể tiến triển theo chiều sâu và tạo những áp xe, những rò hay những hẹp của ruột non, đến độ biện minh cho một cure chirurgicale. Ngoài ra, viêm mãn tính của Mici, nhất là nếu nó không được kiểm soát tốt, tạo điều kiện cho những ung thư tiêu hóa.
Hỏi : Những điều trị hiện nay là gì ?
GS Matthieu Allez :
1. Những thuốc cũ, những aminosalicylé, hiệu quả trong RCH.
2. Những corticoides thường được sử dụng trong hai căn bệnh, nhưng tránh sử dụng kéo dài vì những tác dụng phụ trong thời gian dài hạn.
3. Những thuốc làm suy giảm miễn dịch (chủ yếu azathioprine) có thể được sử dụng.
4. Những tiến bộ lớn đã được thực hiện với sự ra đời của những kháng thể đơn dòng (ACM : anticorps monoclonal) chống lại những protéine của viêm tiêu hóa, nhất là protéine được gọi là TNF. Tính hiệu quả của chúng cho phép những đợt thuyên giảm kéo dài. Bất hạnh thay chúng không hiệu quả ở tất các các bệnh nhân. Khi đó ta sử dụng những ACM mới, nhắm những protéine viêm khác với TNF hay có khả năng làm giảm phản ứng miễn dịch.
Hỏi : Ảnh hưởng của chế độ ăn uống lên những bệnh viêm này ?
GS Matthieu Allez : Theo một điều tra mới đây, được thực hiện ở gần 2000 bệnh nhân, 78% trong số họ rất chú ý đến chế độ ăn uống và 73% so vài thức ăn. Trong thời kỳ bộc phát, một chế độ ăn uống giảm những cung cấp sợi và chất bã (không trái cây, rau hay rau quả ăn sống) được khuyến nghị. Trái lại, trong thời kỳ ổn định, chúng tôi khuyến nghị một chế độ ăn uống đa dạng, chất lượng tốt. Những chiến lược nhằm biến đổi microbiote đang được đánh giá, như ghép phân (transplantation fécale), chuyển phân của một người lành mạnh vào trong ruột già của một bệnh nhân ?
Hỏi : Những điều trị chữa lành phải chăng đang được dự kiến ?
GS Matthieu Allez : Bất hạnh thay là chưa ! Mục tiêu, ngoài sự kiểm soát những triệu chứng, là dập tắt dài lâu sự viêm với một điều trị lâu dài. Những liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) hiệu năng hơn đang được phát triển. Để điều trị những fistule không đáp ứng với những điều trị hiện nay (trong đó có ngoại khoa), sự sử dụng những tế bào gốc nguồn gốc mỡ làm tái sinh các mô cho những kết quả khá tốt.
(PARIS MATCH 7/6-13/6/2018)

Đọc thêm : TSYH số 384 : bài số 5, 6, 7, 8 (Maladie de Crohn)
TSYH số 336 : bài số 5, 6 (Rectocolite hémorragique)

6/ MỔ RUỘT THỪA VIÊM BẢO VỆ CHỐNG LẠI BỆNH PARKINSON
Bệnh Parkinson và ruột thừa của chúng ta, cục bướu nhỏ nằm ở ruột già, phải chăng chúng có một liên hệ ? Ý tưởng có vẻ làm ngạc nhiên, nhưng tuy vậy đó chính là điều được gợi ý bởi một công trình nghiên cứu của kíp của Viviane Labrie (Van Andel Research institute, Hoa Kỳ). Phát xuất từ những dữ kiện dịch tễ học bao gồm hơn 1,6 triệu người, các nhà nghiên cứu đã khám phá rằng nguy cơ phát triển bệnh Parkinson được giảm gần 20% ở những người đã bị mổ cắt bỏ ruột thừa. Và ở những bệnh nhân Parkinson, sự việc đã bị phẫu thuật này đã cho phép làm chậm lại sự xuất hiện của bệnh này hơn 3 năm. ” Cũng như tất cả những công trình nghiên cứu dịch tễ học, phát hiện một sự liên kết giữa hai điều không có nghĩa rằng nhất thiết có một mối liên hệ nhân quả giữa chúng với nhau “, Viviane Labrie đã công nhận như vậy. Tuy nhiên, bà nói thêm, ” chúng ta cũng đã chứng minh rằng những kết tụ (agrégat) alpha-synucléine hiện diện trong ruột thừa của tất cả chúng ta. ta biết rằng khi phân tử này này kết tụ trong não, điều đó tham gia vào sự phát triển của bệnh Parkinson “. Do đó nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng, ở vài người, những kết tụ này thoát ra khỏi ruột thừa để đến tận não và khởi phát bệnh Parkinson. Tuy vậy, Viviane không khuyên tất cả mọi người phải cắt bỏ ruột thừa. Nhất là sự mổ chỉ bảo vệ nếu nó được thực hiện ít nhất 20 năm trước tuổi mà những triệu chứng xuất hiện, và ở những người mà bệnh Parkinson không do những biến dị di truyền. Ngược lại, bà chỉ rõ, ” sự khám phá của chúng tôi có thể dẫn đến sự hiệu chính những chiến lược điều trị mới, không nhằm vào não mà là ruột, điều này dễ thực hiện hơn “.
(SCIENCE & AVENIR 2/2019)

Đọc thêm : TSYH số 383 : bài số 2
TSYH số 381 : bài số 8

7/ GASTROPLASTIE ENDOSCOPIQUE : ĐIỀU TRỊ BỆNH BÉO PHÌ
BS Julien Branche, gastro-entérologue, endoscopiste, centre intégré de l’obésité de l’hôpital Claude-Huriez, CHU de Lille, mô tả một kỹ thuật mới điều trị bệnh béo phì, vi xâm nhập, bằng nội soi, đang được phát triển ở Pháp.
Hỏi : Tần số của bệnh béo phì ở Pháp ?
BS Julien Branche : Bệnh béo phì đã trở thành dịch bệnh. Ta đánh giá nó với IMC (chỉ số khối lượng cơ thể), tỷ suất giữa trọng lượng tính bằng kilo trên bình phương kích thước tính bằng mét. Những người trọng lượng bình thường có một IMC giữa 20 và 25 kg/m2, những người tăng thể trọng (surpoids) giữa 25 và 30, những người béo phì trên 30. Ở Pháp, 54% dân chúng bị tăng thể trọng, 17% bị béo phì, đàn ông hơi nhiều hơn đàn bà.Hỏi : Nguyên tắc của kỹ thuật này là gì ?
BS Julien Branche : Nguyên tắc là làm giảm bớt 70% kích thước của dạ dày bằng cách biến đổi hình dạng bầu dục của nó thành hình ống. Sự giảm thể tích này hạn chế năng lực hấp thụ các chất dinh dưỡng và gây một cảm giác no. Thủ thuật này tìm cách tạo lại tác dụng hạn chế (effet restrictif) của một “sleeve gastrectomy” (cắt bỏ dọc dạ dày với nội soi), phẫu thuật của chứng béo phì thường được thực hiện nhất ở Pháp. Gastroplastie endoscopie không lấy đi gì hết nhưng loại bỏ, bằng remodelage interne, một thể tích quan trọng của dạ dày. Hiệu quả của nó hơi ít mạnh hơn phẫu thuật, nhưng đó là một thủ thuật vi-xâm nhập (mini-invasive), đảm bảo một sự phục hồi nhanh chóng và vẫn có thể đảo ngược trong trường hợp thất bại.
Hỏi : Kỹ thuật này đến từ đâu ?
BS Julien Branche : Từ Hoa Kỳ. Từ 2008, kỹ thuật này tiếp theo sau những tiến bộ kỹ thuật đã cho phép thiết đặt ở đầu của các endoscope một système miniaturisé de suture fiable, có thể được đưa xuống qua thực quản vào trong dạ dày. Những gastroplastie đầu tiên với matériel này đã được thực hiện bởi BS Christopher Gostout (clinique Mayo, Hoa Kỳ) năm 2012, và ở Pháp bởi équipe của chúng tôi cách nay hơn 2 năm.
Hỏi : Những chỉ định của nó là gì ?
BS Julien Branche : Ở CHU de Lille, chúng tôi dành nó cho những bệnh nhân hội đủ điều kiện cho chirurgie bariatique (IMC trên 35) nhưng có một nguy cơ giải phẫu cao vì những tiền sử mổ bụng.
Hỏi : Kỹ thuật này được thực hiện như thế nào ?
BS Julien Branche : Dưới gây mê tổng quát, ta đưa qua miệng một ống mềm xuống thực quản để bảo vệ nó, rồi ta đưa vào trong ống này endoscope với système de suture. Sau đó ta may những thành trước và sau của dạ dày vào nhau trên 2/3 chiều dài của chúng.
Hỏi : Những hậu quả và những biến chứng khả dĩ là gì ?
BS Julien Branche : Sự phục hồi là nhanh, với trong 5 đến 10 ngày đau bụng và nôn, được làm thuyên giảm bởi thuốc. Các bệnh nhân theo một chế độ ăn uống lỏng rồi nhão trong một tháng. Thủ thuật có thể là ngoại trú nhưng chúng tôi ưa giữ bệnh nhân ở lại một đêm hơn. Những biến chứng là hiếm (2%), do những rò vi thể (microfuite) của dịch dạ dày qua những lỗ khâu, nguồn gốc của những nhiễm trùng được điều trị bởi kháng sinh và đôi khi xuất huyết. Sự nhờ đến ngoại khoa để giải quyết những vấn đề này là ngoại lệ. Sự theo dõi nhiều chuyên môn (nutritionniste, diététicienne, psychologue) với kiểm tra lâm sàng, X quang và xét nghiệm đều đặn (phát hiện những thiếu hụt vitamine)
Hỏi : Những kết quả là gì ?
BS Julien Branche : Trung bình sứ mất cân là 15% lúc 6 tháng và 18-19% lúc 2 năm, điều này là một tỷ lệ tốt (tuy nhiên dưới 10% với sleeve chirurgicale). Kỹ thuật này phải được mở rộng bởi vì đáng tin cậy, có thể đảo ngược, với một tỷ suất lợi ích/nguy cơ thuận lợi. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để xác nhận và định rõ tất cả những chỉ định khả dĩ.
(PARIS MATCH 6/12-12/12/2018)

https://restez-mince.com/ballon-gastrique/conseils/sleeve-endoscopique-expli
Đọc thêm : TSYH số 315 : bài số 1

8/ NHỒI MÁU CƠ TIM : NHỮNG TRIỆU CHỨNG KHÔNG ĐIỂN HÌNH Ở PHỤ NỮ.
Một công trình nghiên cứu của Thụy Sĩ (bệnh viện Triemli, Zurich), đã đưa vào 4360 bệnh nhân bị nhập viện cấp cứu vì một nhồi máu cơ tim, trong đó 3393 đàn ông và 967 phụ nữ, đã cho thấy rằng những phụ nữ này bị xử trí bởi secours chậm hơn những người đàn ông, trung bình 37 phút chậm hơn. Hai lý do giải thích điều đó: 1. Các phụ nữ ít có khuynh hướng hơn đàn ông gán những triệu chứng của mình cho một bệnh đòi hỏi một điều trị cấp cứu. 2. Những dấu hiệu báo động được biết nhất và được xem là điển hình là những dấu hiệu của những người đàn ông : đau giữa ngực, như co khít lại, gây lo lắng và/hay đau của cánh tay trái. Thế mà những dấu hiệu lâm sàng của phụ nữ thường khác : đau ở lưng, vai, hay dạ dày. Các tác giả đánh giá rằng những đặc điểm này giải thích thời hạn dài hơn giữa lúc xuất hiện của các triệu chứng ở phụ nữ và sự tiếp xúc y tế đầu tiên.
(PARIS MATCH 14/2-20/2/2019)

9/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CAFÉINE Ở TRẺ SINH NON
Được cho ở những trẻ sinh rất non tháng (grands prématurés), giữa ngày thứ 3 và thứ 10 của đời sống, caféine cải thiện chức năng hô hấp của chúng và làm giảm nguy cơ phế tật thần kinh. Theo một công trình nghiên cứu của Canada (hơn 2000 em bé), cho caféine ngay 2 ngày đầu của đời sống sẽ còn làm tối ưu hơn sự phát triển thần kinh-nhận thức (neurocognitif) của chúng.
(PARIS MATCH 14/2-20/2/2019)

10/ UNG THƯ TỤY TẠNG : PHÁT HIỆN SỚM
Tiên lượng xấu của ung thư tụy tạng phần lớn là do chẩn đoán muộn. Một nhóm nghiên cứu của Lund University (Thụy Điển) đã hiệu chính một trắc nghiệm phát hiện sớm, hiệu quả trong 96% những trường hợp, khi một phẫu thuật thành công còn có thể thực hiện.
(PARIS MATCH 14/2-20/2/2019)

Đọc thêm : TSYH số 472 : bài số 6
TSYH số 384 : bài số 1, 2, 3

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/2/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s