Thời sự y học số 496 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ SỰ LIỀN SẸO : MỘT HIỆN TƯỢNG KHÓ NẮM VỮNG
21 ngày là thời gian trung bình của quá trình hóa sẹo, mà ta không thể làm nhanh hơn.DERMATOLOGIE. Ngay khi một vết thương vượt quá lớp nông của da và đạt lớp bì (derme), quá trình hóa sẹo được phát khởi để đóng lỗ hổng, hạn chế những mất chất (pertes de substance) và nguy cơ nhiễm trùng đối với cơ thể. Thường nhất không lo lắng ở người có sức khoẻ tốt, nhưng nó có thể bị làm thất bại bởi những bệnh như suy tuần hoàn hay một bệnh đái đường.
Sự hóa sẹo bình thường luôn luôn theo cùng chuỗi của những biến cố. Giai đoạn đầu tiên, tức thời, ngừng xuất huyết, với những tiểu cầu máu (plaquettes sanguines) trong vai trò chủ yếu. Những tiểu cầu này làm dễ sự co mạch, sự phóng thích những yếu tố đông máu (facteurs de coagulation), kích thích sự tạo thành cục máu đông từ chất sợi huyết (fibrine) hay lôi kéo về vết thương những tế bào viêm.
Phản ứng viêm, kéo dài 2 đến 3 ngày, cụng được phát khởi ngay khi bị vết thương, với sự đi đến của những bạch cầu, trong do những đại thực bào (macrophage) sẽ phóng thích nhiều enzyme, các chất trung gian (médiateur), và phát khởi giai đoạn rửa sạch vết thương (phase de détersion) bằng cách loại bỏ những cặn bã, những tế bào chết và những mảnh vi khuẩn, …cần thiết để cho phép giai đoạn sinh sản nẩy chồi (phase de bourgeonnement). Những nguyên bào sợi (fibroblaste) sản xuất collagène và những thành phần khác của chất cơ bản ngoài tế bào (matrice extracellulaire), sau đó sẽ dần dần lấp đầy vết thương, trong khi những huyết quản mới được tạo thành. Giai đoạn cuối, các kératinocyte của biểu bì sẽ di chuyển từ các mép của vết thương và hội tụ để phủ kín nó dần dần.
Quá trình lành sẹo kéo dài khoảng 21 ngày và không thể đẩy nhanh ” Nhưng một vết sẹo còn có thể tiến triển, thay đổi thành phần lâu dài. Vậy khó đánh giá chất lượng của nó trước 6 tháng đến một năm “, GS Marc Revol, chirurgien plastique (Hôpital Tenon, Paris) đã giải thích như vậy.
Khi những vết thương nhỏ, ở một người có sức khoẻ tốt, chúng chỉ cần rửa với nước và xà phòng, nếu cần phải chải để loại bỏ những chất bẩn. Các thuốc khử trùng không có lợi ích. Đối với GS Revol, ” chúng cho phép lau chùi da lành mạnh khi thực hiện một động tác xâm nhập, vết chích hay vết xẻ, nhưng chúng không có tác dụng nào lên vết thương “. Cùng ý kiến của BS Sylvie Meaume, dermatologue và gériatre (Bệnh viện Rothschild, Paris). ” Nhưng một vết thương do chấn thương của bàn tay hay bàn chân phải được khám bởi một thầy thuốc để xem có bị thương tổn của một dây thần kinh dưới sâu, của một khớp, hay một nguy cơ nhiễm trùng.”
” Để bảo vệ vết thương, trong đó các tận cùng thần kinhbị lộ trần, không nên đặt compresse, vì bị dính vào da, nhưng một pansement en polyuréthane “, thầy thuốc chuyên khoa đã đã chỉ rõ như vậy.” Những pansement giữ cho môi trường hơi ẩm được ưa thích hơn. Bằng cách giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng và sự tạo thành một vảy kết (croute) tạo một cái bẫy vi trùng, chúng làm giảm nguy cơ sẹo không thẩm mỹ.” Đó cũng là ý kiến của BS Jean-Michel Amici, dermatologue (CHU Bordeaux), đối với ông ” những pansement hydrocolloide này, bằng cách đảm bảo một tính ẩm vừa phải, tạo điều kiện cho sự lành sẹo, nhất là giai đoạn viêm của nó “. Nhưng đối với GS Revol, ” nếu không mưng mủ, để khô vài vết thương có thể có lợi, vảy kết được tạo thành cho phép trong vòng 20 ngày một ré-épithialisation (biểu mô hóa) hoàn toàn bên dưới. Pansement cải thiện sự thoải mái của người bệnh nhưng không có vai trò nào trong sự hóa sẹo “.
Tuy nhiên, dạng vẻ của vết sẹo vẫn bấp bênh. ” Nó bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố cá nhân, di truyền, sinh lý…Đó như thể một túi quà bí mật (une pochette-surprise) “, GS Revol đã giải thích như vậy. Đối với BS Amici, ” với điều trị giống hệt nhau, nhưng chúng ta rất không bình đẳng đứng trước sự hóa sẹo. Các sắc dân da đen, châu Á hay hispanique có một nguy cơ lớn hơn bị những sẹo bệnh lý, chéloides (tăng sinh) hay phì đại (hypertrophique) “. Những người hút thuốc cũng lành sẹo ít tốt hơn nhiều.Vài biện pháp thận trọng cho phép không làm trầm trọng nguy cơ cá nhân này khi thực hiện một động tác ngoại khoa. ” Khâu đã được thực hiện trong mặt sâu của bì cho phép một vết sẹo chắc không để lại quá nhiều dấu vết “, thầy thuốc ngoại khoa đã chỉ như vậy. Ta cũng có thể có giảm bớt những sức căng da (tensions cutanées).” Những thử nghiệm trắc nghiệm toxine botulinique để bất động các muscles peauciers bên dưới trong vài vị trí “, BS Jean-Michel Amici đã giải thích như vậy.
Không bao giờ cho tiếp xúc với ánh nắng mặt trời một vết sẹo mới xảy ra gần đây và khi đó có thể bị nhiễm sắc tố vĩnh viễn. Cùng nguyên tắc đối với những da có khuynh hướng bị những sẹo bệnh lý. ” Ở những bệnh nhân này, hay đối với những vùng nguy cơ như deltoide, vùng ngực-vai hở (décolleté), những stéristrips được đặt trong chiều của đường xẻ, ngay khi những chỉ khâu được lấy đi, như thế hạn chế những lực kéo (tractions) “, BS Meaume đã nói thêm như vậy. ” Viêm, cần thiết vào giai đoạn đầu của sự hóa sẹo, nếu vẫn tồn tại, có thể gây ngứa, chỉ được làm dịu bởi cortisone.” Những pansements, gels de silicone, cũng có thể ngăn ngừa những sẹo phì đại ngay khí vết thương được đóng lại.
(LE FIGARO 14/1/2019)

2/ ĐIỀU TỐT HƠN TRONG NHỮNG VẾT THƯƠNG MÃN TÍNH
Để có một sự lành sẹo tốt, các mô bên dưới phải lành mạnh và được phân bố mạch một cách đúng đắn. Với tuổi tác, nhiều người có, thường không biết điều đó, một tuần hoàn tĩnh mạch hay động mạch ít tốt hơn, một suy tĩnh mạch hay, nếu họ hút thuốc, một viêm động mạch (artérite). Trên thể địa này, chỉ một vết thương nhỏ, một cú đánh nhẹ, có thể được biến đổi thành loét cẳng chân, thành vết thương, vẫn không luôn lành sẹo sau 6 tuần.Mặc dầu tần số của nó đã giảm nhiều, loét cẳng chân (ulcère de jambe) xảy ra ở khoảng 1% những người trên 60 tuổi, 5% những người trên 80. Loét cẳng chân 80% có nguồn gốc tĩnh mạch, nếu không động mạch hay hỗn hợp.Sự xử trí những vết thương mãn tính này thường muộn. ” Nhiều loại pansement trong môi trường ẩm chủ yếu cho phép cải thiện sự thoải mái của bệnh nhân bằng cách hấp thụ những dịch rỉ (exsudat), bằng cách phòng ngừa sự nhiễm trùng…Và theo kèm sự hóa sẹo tự nhiên “, BS Meaume đã giải thích như vậy. Thật vậy, chính sự bất túc tĩnh mạch bên dưới mà phải điều trị càng sớm càng tốt. ” Một công trình nghiên cứu mới đây cho thấy rằng cắt bỏ ngoại khoa sớm những hồi lưu tĩnh mạch (reflux veineux) ở những bệnh nhân này đẩy nhanh quá trình hóa sẹo và phòng ngừa sự tái phát tốt hơn nếu nó được thực hiện sau khi vết loét lành sẹo. ” Những vết loét này của cẳng chân thường được điều trị trong những đơn vị chuyên môn. Ở đây có nhiều máy, bằng cách tác động một áp suất âm tính lên vết thương, kích thích sự tiếp tục của quá trình hóa sẹo (processus cicatriciel).
CÂN BẰNG ĐƯỜNG HUYẾT
Nhưng như GS Revol nhấn mạnh, ” ta sẽ không chữa lành một vết loét cẳng chân nếu không ép (compression) hay stripping để giảm bất túc tĩnh mạch và nếu không rửa sạch vết thương để cho phép sự sinh sản nảy chồi của một mô lành mạnh, cũng như ta sẽ không chữa lành một vết thương ở bàn chân đái đường nếu không trước hết cân bằng đường huyết “.
Ở những bệnh nhân đái đường, bị nhiễm trùng, cân bằng đường huyết là cần thiết để chữa lành những vết thương này. Những rối loạn tuần hoàn được kèm theo một thương tổn của các tận cùng thần kinh, làm họ không có cảm giác với đau đớn, nhất là ở những vết thương nhỏ của bàn chân, điều này có thể bị điều trị muộn, với một nguy cơ nhiễm trùng trầm trọng, thậm chí cắt cụt. Ta ước tính từ 3 đến 7% những bệnh nhân đái đường bị những biến chứng này của bệnh đái đường, chịu trách nhiệm ở Pháp 8000 cắt cụt mỗi năm.
” Moi vết thương của bàn chân, dầu rất nhỏ, ở một bệnh nhân đái đường, phải được cho thầy thuốc xem “, BS Meaune đã nhấn mạnh như vậy. Các pansement, mà tính hiệu quả đã được cải thiện, thường cũng giống như trong loét cẳng chân. Sự điều trị dựa trên một sự đánh giá toàn bộ bàn chân và statique của nó, cũng được điều chỉnh nếu cần. Sự điều trị những ulcère de pression (loét do đè ép), có thể xảy ra ở những người bại liệt hai chân đi xe lăn và ở những người bị liệt liên tục, thuộc về những professionnels spécialisés và có thể, trong những trường hợp nặng, nhờ đến ngoại khoa và ghép da.
(LE FIGARO 14/1/2019)

3/ SỰ LIỀN SẸO : MỘT QUÁ TRÌNH PHỨC TẠP CẦN NGHIÊN CỨU
Trong diễn biến của chúng, hôm nay những giai đoạn của sự hóa sẹo được biết rõ, với sự cầm máu (hémostase), rồi sự làm sạch lòng của vết thương bởi những tế bào viêm (cellules inflammatoires) phóng thích những yếu tố tăng trưởng (facteur de croissance) để lôi kéo những loại tế bào khác để tái xây dựng da. Những biến cố này, diễn ra luôn luôn giống hệt nhau, có thể du kien được. ” Điếu vẫn khó hiểu, đó là sự điều hợp giua tất cả các tác nhân của những giai đoạn này, không kế tiếp nhau mà chằng chịt với nhau, theo một quá trình rất tinh tế, ở đó mỗi giai đoạn là cần thiết cho những giai đoạn tiếp theo, nhưng cũng phù du, theo một quy định thời gian chính xác mà ta không biết rõ “, Patricia Rousselle, nhà nghiên cứu (CNRS, Lyon) đã giải thích như vậy. Vậy theo một cách chính xác sự tiến triển của một vết thương để nhận diện những yếu tố chẩn đơn và tiên lượng vẫn rất là khó.
ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC TẾ BÀO
Dầu sao, đã có được vài tiến bộ. ” Thí dụ, ta đã hiểu rằng quá trình viêm trong một vết thương mãn tính tạo một vòng luẩn quẩn gây nên sự phóng thích của những enzyme. Những men này làm thoái hóa liên tục collagène được tạo thành bởi các tế bào để lấp đầy vết thương và ta đã hiểu rằng bằng cách ức chế những enzyme này bằng những pansement có hoạt tính sinh học (bioactif) với collagène, ta làm dịu quá trình viêm này”, nhà nghiên cứu giải thích như vậy. ” Tiến bộ khác trong những năm qua đó là sự kiện đã hiểu rằng các vết thương là khác nhau, rằng thể địa của bệnh nhân là yếu tố quyết định và rằng đó không chỉ điều trị một vết thương, mà còn những bệnh lý đứng phía sau : bệnh đái đường, những rối loạn mạch máu,…”
Điều cũng mới, đó là sự phát hiện một sự đối thoại giữa các tế bào thần kinh và những loại tế bào khác. ” Sự phân bố thần kinh (innervation) cũng đóng một vai trò trong việc phát những tin hiệu đối với chính quá trình hóa sẹo.”
Trong sự đối thoại giữa những loại tế bào khác nhau liên quan trong quá trình lành sẹo, các protéine của chất cơ bản ngoài tế bào (matrice extracelluleire) cũng can thiệp. ” Chúng tạo một loại thảm (tapis) trên đó những tế bào có thể cắm chặt vào, di chuyển và gởi cho chúng những tín hiệu để làm chúng tăng sinh, biệt hóa…Điều hợp với những yếu tố tăng trường hòa tan (facteurs de croissance solubles) “, Patricia Rousselle đã giải thích như vậy.
(LE FIGARO 14/1/2019)

4/ TRỨNG ĐƯỢC PHỤC QUYỀN !
Từ gần một thế kỷ nay, trứng, rất giàu cholestérol, đã bị cấm trong những chế độ ăn uống được khuyến nghị cho những bệnh nhân có một bệnh động mạch liên kết với xơ vữa động mạch, dầu đó là những động mạch của tim, não, các chi dưới… Các nhà nghiên cứu Trung hoa và Anh đã phân tích những dữ kiện của 416.213 người có sức khỏe tốt, tuổi từ 39 đến 79 và được theo dõi trong 5 năm. Trong số những người này, 13% tiêu thụ trứng mỗi ngày và 9% không bao giờ hay rất hiếm. Những kết quả chỉ rằng sự tiêu thụ trứng hàng ngày là có lợi : nó làm giảm nguy cơ tỷ lệ tử vong tim mạch 18% và sự xuất hiện tai biến mạch vành 12% ! Trứng giàu protéine, vitamine, các antioxydant và các chất khoáng có lợi. Trứng không chịu trách nhiệm một sự thặng dư cholestérol.
(PARIS MATCH 26/12/2018- 2/1/2019)

5/ MỆT MÃN TÍNH (FATIGUE CHRONIQUE) : MỘT HỘI CHỨNG VẪN CÒN KHÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN
Mặc dầu những triệu chứng hiển nhiên như kiệt sức, khó ở hay đau cơ dữ dội, các bệnh nhân tránh các khoa cấp cứu vì không được xem trọng.MEDECINE INTERNE. Một triệu chứng mệt kéo dài từ nhiều tháng, sự không có thể phục hồi nhờ giấc ngủ, khó ở, đau dữ dội trong các cơ và khớp, sốt, hạ huyết áp…Tất cả những dấu hiệu lâm sàng này là những dấu hiệu của hội chứng mệt mãn tính (syndrome de fatigue chronique). Bệnh lý này xảy đến cho từ 150.000 đến 300.000 người ở Pháp, vẫn còn quá không được biết đến bởi chính những người điều trị, như một công trình nghiên cứu, được công bố ngày 10/1 trên site của tạp chí Emergency Medicine, đã nhắc lại như vậy. Thật vậy, 42% những người bị hội chứng mệt mãn tính đã đến phòng cấp cứu, xác nhận rằng những triệu chứng của họ được xem là tâm thần-thân thể (psychosomatique), theo thăm dò được thực hiện bởi một kíp những nhà nghiên cứu của đại học Georgetown (Hoa Kỳ)
Sự lo sợ bị cho là không quan trọng làm nản lòng những bệnh nhân do dự phải nhờ đến những khoa cấp cứu khi họ bị bệnh. Trong công trình nghiên cứu Hoa Kỳ, 41% những người được hỏi đã không đến khoa cấp cứu mặc dầu họ cảm thấy khó chịu vì lý do này hay bởi vì họ nghĩ rằng không gì có thể làm họ thuyên giảm. ” Thế mà, nếu đúng là ta không chết vì một malaise post-effort, việc từ chối không nhờ đến khoa cấp cứu khi ta cảm thấy bị bệnh đó cũng là chấp nhận nguy cơ không được chẩn đoán những cấp cứu sinh tử “, GS Jean-Dominique de Korwin, trưởng khoa nội của CHU de Nancy và chủ tịch của hội đồng khoa học của Association française du syndrome de fatigue chronique (AFSFC) đã cảnh giác như vậy.
Phải nói rằng những bệnh nhân này có cái để đánh lạc hướng các thầy thuốc. Họ đến khoa cấp cứu với những dấu hiệu lâm sàng nặng như đau cổ không chịu nổi, tim nhịp nhanh, không thể đứng một mình…” Nhưng khi ta thực hiện những thăm dò, ta không tìm thấy gì hết “, GS Jean-Dominique de Korwin đã giải thích như vậy. Bởi vì, hiện nay, không có một bất thường sinh học hay X quang nào đặc hiệu cho hội chứng mệt mãn tính.
Chính vì vậy những bệnh nhân kêu ca thường được xem như những người bệnh tưởng và được khuyên đi khám một thầy thuốc tâm thần. ” Đó là một tai họa cho những người bệnh khi họ không hề thuộc lãnh vực tâm thần một chút nào. Tuy vậy nhiều người trong số họ được xem là trường hợp tâm thần, điều này gây nên một sai lầm chẩn đoán. Sự sai lầm này trung bình kéo dài 4 đến 5 năm “, Robert Schenck, chủ tịch của AFSFC đã xác nhận như vậy. Điều này không có gì ngạc nhiên bởi chẩn đoán là khó khi không có những chỉ dấu của bệnh.
Ngoài ra, lại càng rắc rối hơn, nguồn gốc của chứng bệnh cực mệt này vẫn luôn luôn không được giải thích và vẫn được tranh luận rộng rãi trong cộng đồng y khoa. Một lý thuyết tâm thần-thân thể (théorie psychosomatique) nhấn mạnh sự hiện diện của một sự mệt tinh thần (fatigue mentale) và một détresse psychique. Nhưng đối với giáo sư Korwin lý thuyết khả dĩ nhất hôm nay là lý thuyết của hướng viêm và miễn dịch.
Một cách sơ đồ, hội chứng mệt mãn tính là do sự tương tác của những yếu tố phát khởi (facteurs déclenchants), có lẽ của những nhiễm trùng hay những stress tâm lý và những yếu tố duy trì (facteurs d’entretien), tâm lý hay viêm. Tất cả xảy ra trên một thể địa thuận lợi. ” Ở khoảng 30 % những bệnh nhân, ta tìm thấy một stress posttraumatique trong thời thơ ấu “, GS Patrick Cherin, thầy thuốc nội khoa ở bệnh viện La Pitié-Salpetrière, Paris, đã nhấn mạnh như vậy.
Nhưng hiện nay, vì đã không nhận diện được một hay nhiều cơ chế bệnh lý, các thầy thuốc chỉ biết đề nghị làm thuyên giảm bệnh nhân. Sự điều trị dựa trên những thérapie cognitivo-comportementale để học cách làm chủ năng lượng của mình và tránh những malaise sau gắng sức. ” Cũng phải thiết đặt những chiến lược để tiếp tục cử động mặc dầu mệt “, GS Cherin đã xác nhận như vậy. Thật vậy mặc dầu vài người bị hội chứng mệt mãn tính bị kiệt sức bởi chút ít gắng sức, nhưng sự nghỉ ngơi kéo dài có khuynh hướng làm gia tăng mệt và tình trạng yếu ớt.
(LE FIGARO 14/1/2019)

6/ SINH RA ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH VỀ MẶT DI TRUYỀN
He Jiankui, một nhà nghiên cứu Trung quốc của đại học Shenzhen, đã biến đổi gène CCR5, cần thiết cho sự đi vào của virus du sida trong những tế bào người, ở hai phôi thai phát xuất từ một cặp vợ chồng có một nguy cơ cao truyền virus VIH cho các con mình. Sau đó ông ta truyền những phôi thai này vào trong tử cung của người mẹ và người mẹ này đã sinh ra những em bé “được điều chỉnh về mặt di truyền” (bébés génétiquement corrigés) trước khi sinh : đó là một première trong lịch sử của nhân loại ! Nhà nghiên cứu đã sử dụng những chiếc dao phân tử (ciseaux moléculaires) thế hệ mới nhất (Crispr-Cas9), được hiệu chính bởi người Pháp Emmanuelle Charpentier và người Mỹ Jennifer Doudna. Những chiếc dao phân tử này, trong phòng thí nghiệm, cho phép nhắm đích rất đơn giản và chính xác hơn trước đây một phần gène để biến đổi nó. Như thế Crispr-Cas 9 làm cho việc điều chỉnh nhiều bệnh di truyền có thể dự kiến. Một cuộc cách mạng, hiện nay gần như là một nghiên cứu. Mặc dầu những em bé Trung Quốc này được miễn dịch chống lại VIH, nhưng cộng đồng khoa học nhất trí lên án nhà nghiên cứu vì ông này đã đi ra khỏi khung đạo đức cho phép, mà ngay cả không báo cho trường đại học của mình biết. Lại nữa việc quy định sự thao tác génome trở nên một điều khẩn cấp !

7/ FIBROMYALGIE : MỘT BỆNH ĐÚNG LÀ CÓ THẬT
GS Françoise Laroche, rhumatologue, phụ trách centre de la douleur của bệnh viện Saint-Antoine, Paris XII : Fibromyalgie (Hội chứng đau cơ xơ hóa) từ lâu được cho là bệnh tưởng tượng, nhưng không phải thế. GS Françoise Laroche giải thích hội chứng đau mãn tính và khuếch tán này.
Hỏi : Fibromyalgie là gì ?
GS Françoise Laroche : Đó là một tập hợp những triệu chứng đau, xảy ra ở bộ máy vận động một cách lan tỏa, dai dẳng từ ít nhất 3 tháng, tiến triển mãn tính. Tuy vậy không có một thương tổn thực thể nào có thể được phát hiện, như trong những bệnh kinh diễn. Chụp hình ảnh và xét nghiệm máu đều bình thường, điều này khiến từ lâu quy hội chứng này cho một tình trạng tâm lý xấu (mauvais état psychologique) hay một bệnh tưởng tượng. Fibromyalgie đã được công nhận “bệnh” bởi OMS năm 1992, bởi Bộ y tế và Assurance năm 2017.
Hỏi : Tần số của fibromyalgie ở Pháp ?
GS Françoise Laroche : 1,6% dân số bị bệnh này, đàn bà 7-10 lần nhiều hơn đàn ông. Tuổi xuất hiện trung bình giữa 40 và 50 tuổi. Gần 30% các trường hợp là nặng. Những yếu tố có thể làm dễ sự xuất hiện của fibromyalgie : một tố bẩm di truyền, một sự giảm oestrogène, một tình huống tâm lý mỏng manh (những rối loạn lo âu, trầm cảm), đôi khi một chấn thương. Những biến cố đời sống khó khăn (nghề nghiệp, sức khỏe..) hay một grand stress có thể là những yếu tố phát khởi ; sự không được công nhận là benh và sự surmenage là những yếu tố duy trì.
Hỏi : Những dấu hiệu đặc trưng của bệnh này ?
GS Françoise Laroche :
1. Đau : đúng là đau thật sự, xảy ra ở những chỗ bám của dây gân, các cơ và/hoặc các vỏ bọc chúng (cân mạc, fascia). Chúng tiến triển thành từng cơn trên một nền gần như thường trực, hay di chuyển, thường xảy ở những vùng của cổ, các vùng thắt lưng, các cùi chõ và các đầu gối. Khi ta yêu cầu bệnh nhân chỉ trên một hình vẽ những vùng đau, những vùng này phải liên quan ít nhất 4/5 thân thể và 4 đến 6 vị trí. Khám lâm sàng kiểm tra sự vắng mặt của những bệnh lý thương tổn (sưng khớp, thương tổn dây chằng, cơ hay da).
2. Những rối loạn giấc ngủ : hằng định với một cảm giác thức dậy “non reposé”.
3. Mệt, với mất tập trung, mất trí nhớ, sự chú ý : thường được kèm theo ù tai, đau đầu căng thẳng (céphalée de tension), những rối loạn tiêu hóa và/hay tiểu tiện cơ năng. Nếu cần, những thăm khám phụ sẽ loại bỏ những bệnh khác (viêm đa khớp dạng thấp, lupus, giảm năng tuyến giáp…), đôi khi được liên kết.
Hỏi : Ta có một ý nghĩ về cơ chế bệnh không ?
GS Françoise Laroche : Vâng. Đó là những bất thường điều biến đau (anomalie de modulation de la douelur) có thể được thể hiện bằng chụp hình ảnh, nhất là nhờ IRM chức năng. Những vùng não kiểm soát những dạng vẻ cơ thể, nhận thức và xúc cảm của đau bị rối loạn, điều này dẫn đến sự suy yếu của các đường thần kinh có nhiệm vụ ức chế đau. Do đó những ngưỡng chịu đau (seuil de tolérance à la douleur) thấp một cách bất thường.
Hỏi : Điều trị như thế nào ?
GS Françoise Laroche :
1. Chủ yếu là loan báo chẩn đoán và giải thích bằng những phương tiện viết (brochuré dédiée).
2. Những điều trị không dùng thuốc được ưu tiên, nhất là exercice physique d’aérobie đều đặn, nhẹ nhàng, fractionné, cá thể hóa (bước, vélo, bơi lội, aquagym…) và những môn làm dễ sự làm chủ stress (tai-chi, qi gong, yoga, méditation de pleine conscience).
3. Một hỗ trợ tâm lý là hữu ích trong trường hợp trầm cảm, rối loạn lo âu và khó khăn trong việc đối phó.
4. Điều trị thuốc là hữu ích. Dùng những thuốc giảm đau cổ điển loại paracétamol ít hiệu quả trừ để phòng ngừa đau. Vài thuốc chống trầm cảm và chống động kinh có tác dụng giảm đau. Sự xử trí là nhiều chuyên khoa. Trừ phi không làm gì hết, tiến triển tự nhiên của bệnh không phải là sự trầm trọng thêm. Nếu ta hành động, ta hy vọng có một cuộc sống thỏa mãn nhưng với cái giá của vài thích ứng.
(PARIS MATCH 26/12/2008-2/1/2019)

8/ VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG : NHỮNG CẤP CỨU NỘI KHOA
Một trường hợp tử vong đối với 3 triệu hành khách và một biến cố y khoa đối với 20.000 hành khách, xảy ra lúc bay (Air France). Theo một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ mới đây, những cấp cứu thường gặp nhất là ngất xỉu (syncope) (32,7%), những rối loạn tiêu hóa (14,8%) và hô hấp (10,1%), những tai biến tim mạch (7%). Chỉ nguy cơ huyết khối tĩnh mạch (thrombose veineuse), nguồn nghẽn tắc động mạch phổi (embolie pulmonaire), trong 5 trường hợp trên 1 triệu hành khách đối với những chuyến bay ngắn hơn (thống kê của phi trường Charles-de-Gaulle), dường như được gia tăng một cách rõ ràng trong cabine bởi sự ứ máu tĩnh mạch (stase veineuse), bởi áp lực không khí thấp làm giảm oxygénation của máu, và bởi hydratation không khí thấp, những yếu tố này tạo điều kiện cho sự tạo thành cục máu đông tĩnh mạch (caillot veineux). Thống kê này không đề cập đến nhiều trường hợp huyết khối và nghẽn tắc động mạch phổi được chẩn đoán hay tử vong nhiều ngày sau chuyến bay ! Sự phòng ngừa ở những người có nguy cơ (tiền sử tim mạch, varices…) liên kết bas de contention, thuốc chống đông dưới da trước khi đi máy bay (héparine) hơn là aspirine, hydratation và cử động đều đặn các cẳng chân trong cabine.
(PARIS MACH 24/1-30/1/2019)

Đọc thêm : TSYH số 226, 232, 390

9/ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT : ĐỪNG SỢ NÓ NỮA
GS Raphael Gaillard, GS và trưởng khoa ở bệnh viện Sainte-Anne, Paris XIV, chủ tịch của Fondation Pierre Deniker : Benh tâm thần phân liệt là một bệnh phổ biến, bị công chúng hiểu sai nhưng càng ngày càng được điều trị tốt hơn.Hỏi : Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrénie) là gì ?
GS Raphael Gaillard : Đó là một rối loạn tâm thần, liên kết những ảo giác (hallucination), những ý tưởng mê sảng (idée délirante), một thiếu sót trong sự thèm muốn và sáng kiến (déficit d’envie et d’initiative), cũng như một rối loạn của tư duy (désorganisation de la pensée). Bệnh nhân như thể là tù nhân của một thực tế khác, nguồn của một sự đau khổ to lớn.
Hỏi : Tần số của căn bệnh này ở Pháp.
GS Raphael Gaillard : Bệnh liên quan 1% dân số, hoặc 670.000 người, đồng đều ở hai giới tính. Có tính dễ thương tổn di truyền (vulnérabilité génétique) vận dụng một nhóm gènes đang được nhận diện. Nguy cơ bị 5 đến 10 lần cao hơn khi một người bà con cấp một (parent au premier degré) bị bệnh. Những yếu tố làm dễ là những nhiễm trùng virus trong thời kỳ thai nghén cũng như sự tiêu thụ cannabis ở tuổi thiếu niên. Tuổi của những triệu chứng đầu tiên nằm giữa 15 và 25 tuổi, thời kỳ chủ yếu của sự thành thục não
Hỏi : Những triệu chứng là gì ?
GS Raphael Gaillard : Những ảo giác (thường là những tiếng nói với nội hàm xấu nghĩa), những mê sảng (tin chắc bị truy hại..), một thiếu sót năng lượng sinh tử với mất sự thích thú đối với những chuyện đời, một sự rối loạn của cuộc sống hàng ngày. Tỷ lệ các triệu chứng thay đổi tùy theo mỗi bệnh nhân. Giữa những thể nhẹ, chẩn đoán khó, và những thể nặng (30% những trường hợp), tất cả những thể trung gian hiện hữu. Nhưng, với điều trị, vài bệnh nhân có thể có một đời sống xã hội và nghề nghiệp hạnh phúc.
Hỏi : Bệnh tiến triển như thế nào ?
GS Raphael Gaillard : Bằng những tái phát, với một sự ổn định giữa các đợt cấp tính. Hy vọng sống bị giảm 10 năm do một sự xử trí quá muộn những bệnh khác. Tỷ lệ tử vong do tự tử là 10%. Yếu tố tiên lượng quan trọng là điều trị sớm : nó cho phép giảm nguy cơ tái phát và phế tật.
Hỏi : Cơ chế thần kinh-sinh học (mécanisme neurobiologique) của bệnh ?
GS Raphael Gaillard : Một sự mất đồng bộ (désynchronisation) của các neurone với nhau, làm rối loạn sự vận hành chức năng tâm thần và dường như liên kết với hai quá trình.
1. Những bất thường trong sự di trú của vài neurone trong quá trình phát triển trong tử cung và trong quá trình thành thục ở người trưởng thành trẻ.
2. Sự rối loạn của nhiều chất dẫn truyền thần kinh, nhất là glutamate và dopamine. Ủng hộ nghiên cứu để xác định rõ hơn nhưng cơ chế này và hiệu chính những điều trị mới là chủ yếu.
Hỏi : Điều trị như thế nào ?
GS Raphael Gaillard :
1. Những thuốc chống loạn thần (médicaments antipsychotiques) mỗi ngày bằng đường miệng hay mỗi hai hay ba tháng bằng tiêm mông những thuốc có tác dụng kéo dài, như thế làm dễ sự tuân thủ điều trị. Những tác dụng phụ của chúng (vô cảm, cứng thân thể, lên cân) thay đổi tùy theo thuốc.
2. Tâm lý liệu pháp hỗ trợ (psychothérapie de soutien), gồm sử dụng những kỹ thuật cho phép ít bị xâm chiếm bởi những triệu chứng và thực tế ảo (réalité virtuelle).
3. Giúp đỡ hội nhập xã hội và trở lại việc làm. Trong trường hợp còn cấp tính, bệnh nhân duoc nhập viện cho đến khi ổn định sau vài tuần.
Hỏi : Một thông điệp cuối cùng ?
GS Raphael Gaillard : Đó là bệnh tâm thần nổi tiếng nhất và ít được công chúng biết nhất. Ta tưởng rằng bệnh nhân tâm thần phân liệt là hung dữ : điều đó là sai ! Không nên sợ những người bị bệnh này cũng như không được lên án họ ; thái độ này có hại cho sự tiếp cận điều trị của họ…Tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của điều trị sớm, điều này làm thay đổi rõ rệt tiến triển của bệnh.
(PARIS MATCH 13/12-19/12/2018)

Đọc thêm : TSYH số 192

10/ CANNABIS CHỐNG BỆNH LOẠN THẦN ?Cannabis chứa gần 500 hợp chất hóa học khác nhau, trong đó vài chục cannabinoides biện minh sự quan tâm mà ta có. Dồi dào nhất trong số những cannabinoide này, và cũng có hại nhất, được gọi là ” thuốc ma túy gây nghiện nhẹ ” (drogue douce addictive), là tétrahydrocannabinol (THC). Đáng quan tâm nhất, bởi vì không gây nghiện và có nhiều tác dụng điều trị (chống đau, chống lo âu, nôn, ung thư) là cannabidiol.Một kíp nghiên cứu ở Luân Đôn của King’s College đã nghiên cứu năng lực của CBD trong việc điều biến hoạt động của não của 33 người có nguy cơ cao bị bệnh loạn thần (psychose) : 16 người đã nhận một liều duy nhất CBD, 17 người kia một placebo. Hai nhóm đã được so sánh với 19 người lành manh bằng IRM fonctionnlle cérébrale. Kết quả : hoạt động của 3 vùng chủ yếu của não bị ảnh hưởng trong những bệnh loạn thần (striatum, mésencéphale, cortex temporal médian) đã được bình thường hóa trong nhóm CBD nhưng không trong nhóm placebo.
(PARIS MATCH 17/1-23/1/2019)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/1/2019)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 496 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 497 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s