Cấp cứu chấn thương số 63 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HỘI CHỨNG TỦY TRUNG TÂM
(CENTRAL CORD SYNDROME)

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

TEST 2

Một người đàn bà 81 tuổi đến khoa cấp cứu sau khi vấp phải lề đường và té lên cằm gây tăng ưỡn cổ. Bệnh nhân được paramedics đặt một cervical collar. Lúc khám bệnh nhân không có chức năng cảm giác vận động ở các chi trên. Bệnh nhân không thể ngọ nguậy các ngón chân, có 1/5 chức năng vận động của cơ tứ đầu đùi, và cảm giác chi dưới chỉ từng mảng. Khám trực tràng phát hiện giảm trương lực trực tràng.
Chẩn đoán nào sau đây khả dĩ nhất ?
x a. Hội chứng tủy trung tâm (central cord syndrome)
b. Hội chứng tủy trước (anterior cord syndrome)
c. Hội chứng tủy bên (Brown-Séquard syndrome)
d. Transverse myelitis
e. Cơn bộc phát của bệnh Parkinson

Câu trả lời đúng là (a) : Hội chứng tủy trung tâm (central cord syndrome) thường được thấy ở những bệnh nhân với hư khớp các đốt sống, mà cổ của những bệnh nhân này buộc bị tăng ưỡn (forced hyperextension). Hội chứng này được thấy khi một người già ngã ra phía trước lên trên mặt. Điều này khiến ligamentum flavum bị oằn vào tủy sống, dẫn đến dập phần trung tâm của tủy sống. Chấn thương này gây thương tổn chất xám trung tâm và những phần trung tâm nhất của các bó tháp và gai-thị (pyramidal and spinothalamic tracts).
Những bệnh nhân này thường có những thiếu sót thần kinh ở các chi trên nhiều hơn so với các chi dưới, bởi vì các sợi thần kinh phân bố những phản xạ nằm ở ngoại biên của tủy sống. Ngoài ra, những bệnh nhân với hội chứng tủy trung tâm thường có trương lực cơ vòng trực tràng giảm và những thiếu sót cảm giác từng mảng, không thể tiên đoán được.
HỘI CHỨNG TỦY TRUNG TÂM (Syndrome médullaire central)Hội chứng này thường xuất hiện sau một thương tổn tăng duỗi ở một bệnh nhân có một ống tủy cổ hẹp (canal médullaire cervical étroit), thí dụ khi té ra phía trước với va chạm ở mặt. Có thể không có gãy xương hay trật cột sống. Ta ghi nhận một bại liệt mềm ở các cánh tay, cực đại ở phần xa, với một sự giảm cảm giác đau ở các cánh tay và vai, và trái lại hiện hữu vận động tương đối ở các cẳng chân và cảm giác ở thân và các cẳng chân.
Những rối loạn cơ vòng bàng quang và những dị cảm (dysesthésie) ở các chi trên thường gặp, thuong vùng cùng không bị ảnh hưởng. Sự phục hồi thường theo một thứ tự thời gian chính xác, với trước hết lực của các chi dưới, rồi bàng quang, sau đó các đầu của các chi trên và những bàn tay sau cùng. Vùng cổ bị ảnh hưởng nhất. Những xác suất của một phục hồi vận động chức năng có thể đạt 75%.
Hội chứng tủy trung tâm (Central cord syndrome) là do thương tổn ở vùng trung tâm của tủy sống. Thường được tìm thấy ở những bệnh nhân với hẹp ống sống cổ (cervical stenosis) có từ trước do thoái hóa đốt sống (spondylosis). Điều đặc trưng là những thiếu sót nghiêm trọng ở các chi trên hơn là chi dưới. Chức năng vận động thường bị ảnh hưởng hơn là chức năng cảm giác.(b) Hội chứng tủy trước (anterior cord syndrome) đưa đến những mức độ liệt vận động khác nhau và mất cảm giác nhiệt và đau dưới mức thương tổn. Dấu hiệu xác nhận là bảo tồn cảm giác rung và cảm thụ bản thể (proprioception) bởi vì cột sống lưng nguyên vẹn.
Hội chứng tủy trước (Anterior cord syndrome) là do thương tổn của 2/3 trước của tủy sống (phân bố của động mạch tủy trước : anterior spinal artery), mang những đường vận động, cảm giác đau và nhiệt. Cảm giác xúc giác nhẹ và cảm thụ bản thể còn nguyên vẹn bởi vì các cột sau (posterior column) không bị thương tổn.
(c) Hội chứng Brown-Séquard dẫn đến mất cùng bên lực vận động, cảm giác rung và cảm thụ bản thể, và mất bên đối diện cảm giác đau và nhiệt.Hội chứng Brown-Séquard (syndrome médullaire latéral) đặc biệt được nhận thấy ở những vết thương xuyên, nhưng cũng có thể được thấy ở chấn thương kín (blunt injury), đặc biệt với các thoát vị đĩa một bên do chấn thương. Hội chứng này do thương tổn một nửa tủy sống. Về phương diện lâm sàng, cảm giác vận động, tư thế, và rung bị ảnh hưởng cùng phía với thương tổn ; những đường này bắt chéo ở thân não. Cảm giác đau và nhiệt bị hủy bỏ ở phía đối diện với thương tổn ; những đường thần kinh này bắt chéo trong tủy sống ở hay gần mức phân bố thần kinh.
Reference : Emergency Medicine. Pretest
Đọc thêm :
– Cấp cứu chấn thương số 19, 26, 32, 45, 62
Xử trí bệnh nhân bị chấn thương nặng. Chương X. Phần IV

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(30/12/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chấn thương, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Cấp cứu chấn thương số 63 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu chấn thương số 64 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Cấp cứu chấn thương số 65 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Cấp cứu tiền bệnh viện số 9 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s