Cấp cứu ngộ độc số 58 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NGỘ ĐỘC ÉTHYLÈNE GLYCOL
(ETHYLENE GLYCOL POISONING)

Advanced Medical Life Support (AMLS)
National Association of Emergency Medical
Technicians (NAEMT)

Ethylène glycol, một trong những alcool toxique, có trong chất chống đông (antigel : antifreeze) dùng cho xe hơi, trong dịch rửa kính và trong những dung dịch chống đông giá) (dégivreur : de-icing solutions). Ethylène glycol được sử dụng để tránh sự quá nhiệt (surchauffe) hay sự đóng băng của những yếu tố mà ta tìm thấy trong những sản phẩm này. Do vì nhẹ, nó có thể được nuốt dễ dàng do tai nạn và với những lượng lớn bởi trẻ em hay những động vật nuôi trong nhà. Tuy nhiên, 70% những trường hợp ngộ độc éthylène glycol xảy ra ở những người trưởng thành, phần lớn những ngộ độc này là do tai nạn. Độc tính do sự biến đổi của alcool thành những chất chuyển hóa. Theo báo cáo thường niên năm 2007 của Association des centres antipoisons américains, gần 900 trường hợp ngộ độc nhẹ đã được liệt kê, với khoảng 150 ngộ độc nặng và 16 trường hợp tử vong do loại chất này.
Nuốt là đường ngộ độc chính, bởi vì éthylène glycol không để hấp thụ qua da và chỉ có một áp lực hơi thấp, điều này ngăn cản effet aérosol khi hít.

I. NHỮNG DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Độc tính của éthylène glycol xảy ra trong 3 giai đoạn :
– Giai đoạn 1 (1 đến 12 giờ sau khi nuốt) : được đặc trưng bởi những tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, bao gồm những dấu hiệu ngộ độc như những rối loạn diễn đạt (trouble de l’élocution), thất điều (ataxie), ngủ gà, nôn và mửa, co giật, ảo giác, sững sờ và hôn mê
– Giai đoạn 2 (13 đến 36 giờ sau nuốt) : được đặc trưng bởi những tác dụng lên hệ tim phổi, có thể gồm tim nhịp nhanh, xanh tía, phù phổi hay ngừng tim.
– Giai đoạn 3 (24 đến 72 giờ sau khi nuốt) : ảnh hưởng hệ thận, có thể gồm đau hông, oligurie, cristallurie, protéinurie, anurie, huyết niệu hay urémie.
Không phải tất cả các bệnh nhân đều trải qua mỗi giai đoạn. Tùy theo sinh lý của bệnh nhân, những tiền sử và lượng được uống và, vài bệnh nhân phát triển sớm những triệu chứng với đe dọa sinh tồn. Những dấu hiệu và triệu chứng như thế gồm đau đầu, giảm áp hệ thần kinh trung ương, khó thở, nhiễm toan chuyển hóa, truy tim mạch, suy thận, co giật và hôn mê.

II. SINH BỆNH LÝ
Ethylène glycol được chuyển hóa thành acide glycolique và acide oxalique bởi một enzyme, alcool déshydrogénase, trong gan. Hai chất chuyển hoa này gây phần lớn độc tính, nhiễm toan và những thương tổn gan liên kết với sự nuốt éthylène glycol. Acide oxalique tích tụ và liên kết với calcium trong cơ thể để tạo thành những oxalate de calcium, điều này đẩy nhanh sự tạo thành của các tinh thể. Quá trình này có hai tác dụng có hại. Thứ nhất là sự xuất hiện của một hạ canxi huyết, điều này làm gia tăng nguy cơ loạn nhịp. Thứ hai là những đau khớp cấp tính ở những nơi các tinh thể lắng đọng. Những tỉnh thể acide oxalique này có thể gây những tàn phá ở gan và thận, những sự phá hủy nói chung không xảy ra trước một sự tích tụ quan trọng của những chất chuyển hóa độc. Ngưỡng độc tính đối với éthylène glycol đã được ghi nhận 1 đến 2 ml/kg.

III. CHẨN ĐOÁN
Những bệnh nhân, đã uống vào éthylène glycol, lúc ban đầu có thể có một khám vật lý gần như không triệu chứng cho đến khi những chất chuyển hóa tích tụ đủ để gây nên những dấu hiệu và triệu chứng. Osmolalité sérique có thể được sử dụng để tính trou osmolaire. Nếu không, một test colorimétrique có thể được thực hiện để phát hiện sự hiện diện của éthylène glycol trong huyết thanh. Ngoài ra, phân tích nước tiểu và đo nồng độ calcium sérique cũng như GDS được chỉ định. Phân tích nước tiểu có thể phát hiện sự hiện diện của những tinh thế oxalate de calcium, một dấu hiệu muộn.

IV.ĐIỀU TRỊ
Điều trị triệu chứng, cho chất đối kháng và thẩm tách máu là những điều trị cơ bản đối với ngộ độc éthylène glycol. Điều trị triệu chứng phải dựa trên xử trí đường khí. Ethanol hay fomépizole (Antizol) có thể được cho như chất đối kháng. Hai thuốc này là những inhibiteur compétitif của alcool déhydrogénase. Thérapie par cofacteurs nhằm cho pyridoxine (vitamine B6) và thiamine (vitamine B1), điều này có thể kích thích chuyển hóa của éthylène-glycol. Tuy nhiên, thẩm tích máu là điều trị quyết định của ngộ độc éthylène glycol.
1. TIỀN VIỆN
Ngoài điều trị căn bản, điều quan trọng là có được những tiền sử y khoa chi tiết của bệnh nhân, nhất là giờ uống vào. Một đường tĩnh mạch được thiết đặt để réhydratation và cho những chất đối kháng trong những trường hợp nặng. Nếu dưới 1 giờ trôi qua từ khi uống, than hoạt có thể có lợi nếu không có chống chí định. Cho bicarbonate de sodium trong trường hợp nhiễm toan chuyển hóa và cho diazépam (Valium) đối với những cơn động kinh phải được xét đến nếu cần. Hãy chuyển nhanh bệnh nhân đến một trung tâm bệnh viện để thầm tách
2. BỆNH VIỆN
Chất đối kháng truyền thống đối với ngộ độc éthylène glycol là éthanol, được cho bằng đường tĩnh mạch, nhưng cũng có thể bằng đường miệng. Một chất đối kháng mới, fomépizole (Antizol), hoạt động một cách tương tự với éthanol. Ethanol là một chất ức chế cạnh tranh của alcool déshydrogénase và ngăn cản sự tạo thành những chất chuyển hóa độc. Ethylène glycol tự nó không nguy hiểm, được thải bởi thận. Ở người, thời gian bán hủy của éthylène glycol bình thường là 5 giờ, nhưng lên đến 17 giờ khi điều trị với éthanol. Điều đó tạo điều kiện cho một sự thải dài hơn. Những mức éthanol máu phải được theo dõi để duy trì một liều éthanol thích đáng.
Magnésium và pyridoxine là những cofacteur khi khử độc một ngộ độc bởi éthylène glycol. Người ta đã chứng minh rằng điều trị bằng cofacteur làm giảm tỷ lệ bệnh liên kết với ngộ độc do éthylène glycol bằng cách biến đổi acide glyoxylique thành một acide aminé không độc, glycine.
Một giảm canxi huyết có thể hiện diện trong trường hợp ngộ độc quan trọng. Nó cần được điều trị vì oxalate de calcium không hòa tan được tạo thành khi những chất chuyển hóa độc của acide oxalique liên kết với calcium tự do của cơ thể. Bicarbonate de sodium được chỉ định đối với nhiễm toan chuyển hóa.
Thẩm tách máu (hémodialyse), cho phép loại bỏ vĩnh viễn những chất chuyển hóa độc của máu, được chỉ định trong trường hợp suy thận, nồng độ éthylène glycol đáng quan ngại trong máu và nhiễm toan rõ rệt.

Reference : AMLS. Prise en charge des urgences médicales
Đọc thêm : Cấp cứu ngộ độc số 15, 25, 57

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/1/2019)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu ngộ độc, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Cấp cứu ngộ độc số 58 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu ngộ độc số 59 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Cấp cứu ngộ độc số 60 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s