Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TÌNH TRẠNG CẤP CỨU ĐỐI VỚI BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 Ở TRẺ EM
Ở Pháp, 24.000 trẻ em và/hoặc thiếu niên bị bệnh đái đường loại 1
Những biểu hiện ban đầu thường đột ngột, nhưng những chậm trễ chẩn đoán vẫn thường gặp.PEDIATRIE. Trong các khoa nhi, việc không gặp những trẻ bị một đái đường loại 1 (diabète insulinodépendant) đang còn mang tả trở nên hiếm. Ở Pháp, cũng như ở trên thế giới, bệnh đái đường này đang tiến triển và xảy đến ở những trẻ em ngày càng nhỏ tuổi, mà ta không hiểu tại sao. ” Hôm nay, đất nước của chúng ta có 24.000 trẻ em và/hay thiếu niên có một đái đường loại 1, với những vùng bị nhiều hơn những vùng khác. Trong số những trẻ em bị loại đái đường này, 22% dưới 4 tuổi vào lúc khám phá bệnh đái đường. Điều đó càng gây quan ngại khi ta ước tính hơn 40.000, số những trẻ em bị liên hệ bởi bệnh đái đường này vào năm 2030, khi đó 1/4 trong số chúng sẽ có một bệnh đái đường loại 1 từ hơn 15 năm, với những nguy cơ bị những biến chứng mãn tính và do đó những hậu quả y tế-kinh tế quan trọng “, GS Rachel Reymaud, của khoa nhi đa chuyên khoa, ở bệnh viện La Timone Enfants (Marseille) và chủ tịch của Société d’endocrinologie et diabétologie pédiatrique (SFEDP), đã nhấn mạnh như vậy. Chủ đề gây quan ngại khác : khung cảnh trong đó chẩn đoán bệnh đái đường loại 1 được thực hiện. ” Trong 44% các trường hợp, chính một biến chứng nghiêm trọng, acidocétose diabétique, đưa đến sự khám phá nó. Thế mà, acidocétose là nguồn gốc của nhiều tử vong hàng năm ở Pháp. Dĩ nhiên điều đó không thể chấp nhận được !” Carine Choleau, docteur en physiologie và đồng giám đốc của Association Aide aux jeunes diabétiques, đã định rõ như vậy.
Sự khám phá bệnh đái đường loại 1 không giống chút nào với sự khám phá của bệnh đái đường loại 2 : sự chẩn đoán của bệnh đái đường loại 1 luôn luôn tương ứng với một cấp cứu điều trị. Khi một bệnh đái đường loại 1 bắt đầu khiến nói về nó, 90% các tế bào beta của tụy tạng (tiết insuline) đã bị tiêu hủy. Không còn đủ insuline nữa để làm cho đường vào trở lại trong các tế bào và cung cấp cho chúng năng lượng mà chúng cần, vì vậy các vấn đề tiếp nối nhau.
Một mặt, đường huyết tăng cao lên những mức quan trọng và được bài xuất bởi thận, điều này gia tăng thể tích nước tiểu được sản xuất (tả tràn đầy nước tiểu) và tần số muốn đi tiểu. Sự mất nước này gây nên một cảm giác khát mạnh. Thế mà sự cần thiết bù mất nước này trở nên ngày càng khó, thậm chí không thể : đứa bé mất nước. Mặt khác, gan cố bù sự thiếu năng lượng này bằng cách biến đổi mỡ thành năng lượng thay thế. Cơ chế này dẫn đến sự sản xuất những corps cétoniques, độc ở những nồng độ cao. Thân thể bị tước mất năng lượng có thể sử dụng (do đó bệnh nhân rất mệt) và máu trở nên acide ; điều này dẫn đến nguy cơ hôn mê được gọi là coma acido-cétosique, thậm chí trong những trường hợp nặng nhất, tử vong.
” Chính vì vậy, đứng trước mọi trẻ em, ngay cả nhỏ tuổi, bắt đầu khát nước nhiều, thường đi tiểu một cách bất thường, thậm chí bị đái dầm (énurésie) mặc dầu trẻ đã sạch. Không được mất một giây phút nào : phải kiểm tra không trì hoãn nồng độ đường của nó bằng một bandelette urinaire hay một glycémie capillaire bằng chích một giọt máu ở đầu ngón tay, tại phòng mạch bác sĩ điều trị (đa khoa hay nhi khoa) hay đến khoa cấp cứu nhi ở một bệnh viện gần, thậm chí gọi 15 nếu đứa trẻ không được khỏe.Trong tất cả các trường hợp không được hoãn lại việc đo này muộn hơn, ngay cả hoãn lại đến ngày mai, bởi vì phải khẩn cấp tiêm insuline cho đứa trẻ này, nếu đó đúng là một đái đường loại 1. Đứa bé càng nhỏ tuổi, những biểu hiện của bệnh đái đường càng đột ngột và nhanh “, BS Choleau đã bảo như vậy.
Sau giai đoạn cấp cứu, sự điều trị bệnh đái đường có thể bắt đầu. Thật vậy, nhất thiết phải chữa tạm sự thiếu insuline : insuline là điều trị duy nhất và hiện nầy chỉ có thể được thực hiện dưới dạng tiêm 4 đến 6 lần mỗi ngày, bằng stylo hay bằng pompe à insuline.Như BS Marc de Kerdanet, phụ trách Unité d’endocrinologie-diabétologie pédiatriques ở CHU de Rennes và chủ tịch của hiệp hội Aide aux jeunes diabétiques, đã giải thích, ” sự điều trị đồng thời dựa trên sự quản lý chế độ ăn uống, sự tiêm insuline bằng stylo hay bằng pompe, dựa trên một hoạt động vật lý đều đặn và, sau cùng, dựa trên sự thụ đắc những năng lực của đứa trẻ và của gia đình để có thể theo dõi nồng độ đường trong máu của nó và thích ứng những như cầu insuline của nó theo những kết quả và những biến cố trong ngày.
(LE FIGARO 26/11/2018)

2/ TRỞ NÊN MỘT NGƯỜI CHỦ CHỐT CỦA ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG LOẠI 1 LÀ MỘT BỔN PHẬN.” Vào lúc này, không thể chữa lành một bệnh đái đường loại 1. Vậy phải đành từ bỏ sự mong muốn chữa lành để tiến lên. Điều đó không muốn nói cứ thụ động, nhưng học “sống với bệnh đái đường của mình”. Đó là vai trò của giáo dục điều trị : đứa trẻ bị đái đường và gia đình của nó phải thụ đắc những năng lực để biết quản lý căn bệnh và cuộc sống hàng ngày của mình như thế nào “, BS Marc de Kerdanet, truởng unité d’endocrinologie-diabétologie pédiatrique ở CHU de Rennes và chủ tịch của Aide aux jeunes diabétiques, đã giải thích như vậy.
Giáo dục điều trị là một trụ cột của mọi bệnh mãn tính và thiết yếu đối với những người trẻ bị đái đường loại 1. ” Thế mà, theo một điều tra, được tiến hành bởi Aide aux jeunes diabétiques và Société française d’endocrinologie et diabétologie pédiatrique ở 120 centre de diabétologie pédiatrique và 3377 gia đình, 43% trẻ em không được tiếp cận giáo dục điều trị. Điều đó biểu hiện sự mất cơ may tự trị và đó là điều không thể chấp nhận được “, GS Rachel Reynaud, thuộc service de pédiatrie multidisciplinaire của bệnh viện La Timone Enfants, Marseille, đã phàn nàn như vậy. Lúc căn bệnh được chẩn đoán, cần phải nhập viện vài ngày, khi đó đứa bé (nếu ở lứa tuổi để hiểu) và/hay cha mẹ của nó sẽ nhận những lời giải thích về bệnh đái đường loại 1 là gì, sự điều trị và theo dõi gồm những gì, nhưng điều đó không hẳn là đủ. Gia đình bị choáng khi được loan báo căn bệnh và, vậy, gia đình không nhất thiết thụ cảm cũng như có năng lực nhận lấy sự quản lý những gò bó mới này. Sau cùng, đứng trước những bổn phận hàng ngày của gia đình và của đứa bé, giáo dục điều trị phải được thích ứng và cá thể hóa.
SEJOURS PRATIQUES.
” Vậy phải dự kiến những hiệu chính rất gần nhau sau một tuần, 15 ngày, một tháng, một lần mỗi tam cá nguyệt và, nếu có thể, tạo những tình huống trong đời sống thật, trong gia đình hay những nơi nghỉ dành cho các trẻ cùng lứa tuổi. Những nơi nghỉ thực hành (séjours pratiques) này, được đề nghị bởi Aide aux jeunes diabétiques, có hai lợi ích : cho các trẻ liên hệ thấy rằng chúng không sống đơn độc với bệnh đái đường và đặt chúng trong những tình huống rất cụ thể, thí dụ khi thực hành thể thao, ăn uống giữa bạn bè “, BS de Kerdanet đã nói như vậy.
Và để tạo động cơ cho chúng, làm cho chúng mong muốn thụ đắc những năng lực này, BS de Kerdanet không bao giờ thiếu thí dụ : ” Thí dụ, tôi giải thích với chúng rằng nếu tôi bị bệnh đái đường và nếu tôi thèm ăn bánh kẹo, tôi có nhiều khả năng. Hoặc là tôi ăn ngay bánh kẹo này và tôi làm cho nồng độ đường leo cao trong máu, điều này nhiên hậu sẽ tạo cho tôi những vấn đề sức khỏe. Hoặc tôi không ăn nó và tôi cảm thấy thất vọng, không nhất thiết chịu được trong thời gian dài hạn. Hoặc tôi làm cho tôi vui lòng, nhưng dùng nó vào đúng lúc bởi vì tôi đã học cách quản lý bệnh đái đường của tôi, và như thế tôi vẫn có sức khỏe tốt mà không phải nhịn ăn, đồng thời tôi tự hào về tôi. Vậy khi tôi học cách săn sóc cho mình, tôi cũng quan tâm đến hạnh phúc của tôi.” Cả một chương trình !
(LE FIGARO 29/11/2018)

3/NHỮNG ĐỊNH KIẾN VỀ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG : ĐỦ RỒI !
” Không, bệnh đái đường loại 1 không liên quan gì với việc cho con mình quá nhiều đường. Bố mẹ của các trẻ liên hệ đã nghe khá đủ định kiến này, trong khi bệnh đái đường loại 1 là một bệnh tự miễn dịch (những kháng thể của đứa trẻ quay lại chống những tế bào của tụy tạng của nó, cơ quan sản xuất insuline, và tiêu hủy chúng, và cho đến nay, không có một phương thuốc nhiệm màu nào để ngăn cản điều đó “, Cécile Berthelin-Montillet, chủ tịch của conseil des familles của Aide aux jeunes diabétiques, đã chứng thực như vậy.
” Thật vậy sự loan báo của căn bệnh này luôn luôn là một choáng. Khi đó, ta phải hiểu rằng ta phải giã từ cuộc sống trước đây. Thêm vào sự đau khổ này là những đau khổ khác, như những suy nghĩ về lối sống ” nó có ăn tốt hơn không, nó có thực hành thể thao nhiều hơn không, điều đó sẽ không xảy đến “, ” điều đó sẽ qua đi “, điều này cực kỳ sai, điều đó rất gây nản lòng. Sự gây nản lòng này có thể gia tăng khi những khó khăn của cuộc sống hàng ngày tích tụ : thí dụ, để tìm một chỗ trong nhà trẻ rồi ở trường mẫu giáo. Ngoài ra Aide aux jeunes diabétiques xuất bản những “kits scolaires” với những fiche dành cho giáo sư doàn, nhân viên của cantine…Rồi, ở trường tiểu học, trung học, những vấn đề khác có thể xuất hiện : mặc dầu đứa trẻ tự trị hơn, nhưng nó có thể cần đi ra khỏi lớp giữa giờ học để đi tiểu, ăn một miếng đường trong trường hợp khó ở hay gọi một người thân nếu điều đó không ổn và điều đó, vài giáo sư không muốn.
” Sau cùng, vài gia đình gặp những khó khăn về tài chanh, nhất là khi cha hoặc mẹ phải dừng làm việc để sửa những thiếu sót (không tiếp cận một cơ sở tiếp đón những trẻ nhỏ, không thể ăn trưa ở trường…).
(LE FIGARO 20/11/2018)

4/ TỤY TẠNG NHÂN TẠO MUỐN ĐƠN GIẢN HÓA CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Một capteur, một algorithme, một pompe à insuline được phát khởi khi cần thiết : thiết bị nhằm làm bệnh nhân nhẹ bớt một sự theo dõi nhiều lần trong ngày.TECHNOLOGIE. Công việc hàng ngày của những người đái đường loại 1 bao hàm một sự theo dõi thường trực : lúc thức dậy, lúc đi ngủ, trước mỗi bữa ăn hay hoạt động thể thao, họ phải đo nồng độ đường huyết và điều chỉnh nó bằng cách tự tiêm insuline, để chữa tạm tình trạng tụy tạng của họ không hoạt động. Mặc dầu matériel mà họ có để sử dụng đã cải thiện nhiều trong những năm qua, giữa minipompe portative và capteur connecté, sự theo dõi vẫn còn dựa vào chính họ.” Chính tụy tạng nhân tạo cho phép làm nhẹ bớt cái gánh nặng tinh thần này “, Elise 27 tuổi, được chẩn đoán cách nay 19 tháng, đã làm chứng như vậy.
Trong 3 tháng người phụ nữ trẻ đã có thể trắc nghiệm tụy tạng nhân tạo Diabeloop, start-up française, được thành lập bởi GS Guillaume Charpentier, thầy thuốc chuyên khoa đái đường ở Centre hospitalier sudfrancilien. Thiết bị này, vừa nhận “marquage CE”, mở đường cho sự thương mãi hóa nó trong Liên hiệp châu Âu, thiết bị đầu tiên thuộc loại này đi vào thị trường Pháp. Thiết bị cạnh tranh duy nhất, MiniMed 670G de Medtronic, cũng đãđược chuẩn nhận nhưng xí nghiệp Hoa Kỳ không dự kiến thương mãi hóa nó tức thời ở Pháp.
Trái với điều mà từ ngữ “tụy tạng nhân tạo” làm liên tưởng, thiết bị không được đặt để thế cho cơ quan tụy tạng bị suy. Nó cố gắng bắt chước sự sản xuất tự nhiên của insuline nhờ một triptyque hoạt động theo vòng kín (en boucle fermé) : một smartphone chứa một algorithme, “tête pensante” của hệ thống, phát khởi một pompe à insuline được gắn vào cánh tay của bệnh nhân, trên cơ sở những thông tin được truyền bởi một capteur được đặt ở bụng. Tất cả được nối với Bluetooth. Pompe và capteur là những modèle đã có trên thị trường.
Trong trường hợp thay đổi quan trọng cần một can thiệp bằng tay, hệ thống bắt đầu biper. Những kết quả cũng được theo dõi từ xa bởi các y tá. ” Tôi đã từng bị đánh thức vào 3 giờ sáng bởi thầy thuốc của tôi, bởi vì người ta đã báo cho ông ta một hạ đường huyết khá rõ rệt “, Elise lấy làm thích thú như vậy. Không gì là nghiêm trọng trong trường hợp này, nhưng có khả năng cứu sống ở những bệnh nhân khác.
Thiết bị đã được trắc nghiệm trên 130 bệnh nhân trong 3 công trình nghiên cứu. Công trình sau cùng, gồm 63 người tình nguyện, nhằm so sánh trong 3 tháng một nhóm được trang bị tụy tạng nhân tạo với một nhóm được điều trị với một pompe và một capteur, được điều khiển bằng tay.
Những kết quả, theo dự kiến được trình bày ở hội nghị của Société française de diabétologie vào tháng ba năm 2019, cho thấy rằng thời gian với một nồng độ đường huyết tốt đã gia tăng 19%.
” Khi anh bị đái đường, điều quan trọng là tránh những biến thiên của đường huyết và nhất là những tăng đường huyết bởi vì trong thời gian dài hạn chúng gây nên những biến chứng nghiêm trọng trên thận, thị giác, hệ tim mạch hay ở các bàn chân”, Guillaume Charpentier đã giải thích như vậy.
Về hạ đường huyết, ” điều đó rất quan trọng đối với bệnh nhân và đôi khi hơi bị coi thường bởi những người điều trị, thầy thuốc đái đường nói tiếp. Mặc dầu hiền tính, những đợt hạ đường huyết gây khó chịu : nhịp tim tăng nhanh, người bệnh vã mồ hôi, nói lúng túng, những tư duy rối lên…Gây khó chịu trong một khung cảnh nghề nghiệp hay riêng tư, thậm chí nguy hiểm lúc lái xe. Phải lao vào một bữa ăn đường dự bị để phục hồi. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, may mắn thay là hiếm, bệnh nhân có thể mất tri giác, co giật và rơi vào hôn mê.
Cho đến đây được trắc nghiệm trong một khung cảnh thí nghiệm, thiết bị Diabeloop là đối tượng của một demande de remboursement ở Sécurité sociale từ nay đến cuối năm. Để có thể sử dụng nó, sau đó phải qua ” những équipe bệnh viện được đào tạo, vốn đã trắc nghiệm nó trong giai đoạn nghiên cứu”, Guillaume Charpentier đã xác định như vậy.
BS Lucy Chaillons, trưởng khoa diabétologie cua CHU de Nantes, thuộc équipe này. ” Đó là một bước tiến nhằm cải thiện sự thoái mái cho bệnh nhân, nhất là những người khó cân bằng bệnh đái đường bởi chính mình. Khi bệnh nhân tự quản lý bởi chính mình, có thể có những lúc mệt mỏi quan trọng hơn.”
Mặc dầu thiết bị được dành cho tất cả, nhưng tốt nhất là không dị ứng với những kỹ thuật mới. ” Trong toàn thời gian phải chấp nhận được nối kết và mang một smartphone “. Ngoài ra, hệ thống được gọi là ” hybride” chưa hoàn toàn được tự động hóa và bệnh nhân cần phải thông báo hàng ngày về chất lượng của các bữa ăn hay những hoạt động thể thao sắp đến.
” L’algorithme không điều chỉnh 100% những biến thiên, vẫn còn có những thiếu sót mà chúng tôi đang xem xét “, Guillaume Charpentier đã công nhận như vậy. Ông nói thêm rằng một công trình nghiên cứu được dự kiến đối với những bệnh nhân đái đường loại 2, cần 4 mũi tiêm mỗi ngày. ” Tôi có một danh sách chờ đợi những bệnh nhân có động cơ “, Lucy Chaillous đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 3/12/2018)

5/ MỘT HƯỚNG ĐỂ TÁI KÍCH HOẠT SỰ SẢN XUẤT INSULINE.
Nằm dưới dạ dày, tụy tạng có nhiệm vụ như một table de controle nồng độ đường trong máu. Để thực hiện điều đó, tụy tạng có hai kích thích tố : insuline, được sản xuất bởi những tế bào bêta, làm hạ đường huyết, và glucagon, được sản xuất bởi những tế bào alpha, nâng cao đường huyết.
Ở những người bị bệnh đái đường loại 1 (10% những bệnh nhân đái đường), các tế bào sản xuất insuline dần dần bị phá hủy bởi hệ miễn dịch của bệnh nhân. Chính vì vậy, điều trị dựa trên những mũi tiêm đều đặn insuline để tránh tăng đường huyết, nguyên nhân của những biến chứng nặng trong thời gian dài hạn. Mặc dầu insulinothérapie đã làm những tiến bộ lớn trong những thập niên qua và tiếp tục cải thiện sự thoải mái đối với bệnh nhân, ý tưởng vẫn còn là làm tái sinh một cách trực tiếp những tế bào bêta.
Đó là điều được nghiên cứu từ 20 năm qua bởi Patrick Collombat, giám đốc nghiên cứu ở Inserm. Cùng với équipe của ông ở Viện sinh học Valrose (Nice), ông đã khám phá rằng những tế bào alpha, cấu trúc gần giống với những tế bào bêta, có thể sản xuất insuline nếu ta phát khởi sự biểu hiện của một gène (Pax4). Các nhà nghiên cứu đã liên kết với nhiều viện ngoại quốc (MIT-Harvard, Max-Planck) để phân tích hàng ngàn phân tử khả dĩ bắt chước biểu hiện của Pax4. Và chính Gaba, một chất dẫn truyền thần kinh có nhiều trong não và đôi khi được sử dụng như complément alimentaire, nhất là ở Hoa Kỳ, đã tỏ ra có hiệu quả.
COMLEMENT ALIMENTAIRE
Được trắc nghiệm ở chuột, Gaba đã cho phép biến đổi những tế bào alpha thành những tế bào bêta chức năng, trong khi có thể bù sự mất cân bằng bằng cách sản xuất những tế bào alpha mới. ” Đó là một phương pháp thật sự đáng quan tâm, Patrick Collombat đã lấy làm vui sướng. Chức năng đã được phục hồi và sự sản xuất những tế bào bêta vẫn có thể kiểm soát được.”
Phân tử hiện nay được trắc nghiệm ở khoảng 100 bệnh nhân và những kết quả của thử nghiệm được dự kiến cuối năm 2019. ” Ưu điểm đó là ta đã biết rằng Gaba không độc bởi vì nó đã được sử dụng từ nhiều năm như complément alimentaire, nhất là bởi những bodybuilder “, Patrick Colombat đã chỉ như vậy.
Tuy nhiên đó chỉ là một giai đoạn đầu. Laboratoire pharmaceutique NovoNordisk đã nghiên cứu, bởi vì có thể cần phải liên kết Gaba với những chất làm suy giảm miễn dịch yếu để tránh những tế bào bêta mới đến lượt chúng bị loại bỏ bởi hệ miễn dịch của bệnh nhân.
(LE FIGARO 3/12/2018)

6/ TẠI SAO PHỤ NỮ CÓ THAI THƯỜNG BỊ NÔN ?
Đó không phải là một pathologie marginale, vì lẽ 50 đến 80% phụ nữ có thai bị nôn và mửa liên tiếp. Nhưng, như GS Philippe Deruelle, thầy thuốc sản phụ khoa và tổng thư ký của Collège national des gynécologues et obstétriciens français, công nhận điều đó, ” ta đúng là đã định rõ cơ chế của nôn và mửa thai nghén, nhưng chúng ta không hiểu được nguyên nhân của chúng “..
Những triệu chứng này chủ yếu xảy đến vào tam cá nguyệt đầu của thai nghén, khi nồng độ tiết của HCG (hormone chorionique gonadotrope) (tham gia vào sự gìn giữ phôi thai và ngừng kinh kỳ) được tăng lên gấp nghìn. Và các nhà nghiên cứu đã chứng thực một sự tương quan, mà họ không giải thích được, giữa sự gia tăng sản xuất HCG và những bất thường của hoạt động giáp trạng, một hoạt động chủ yếu trong sự điều hòa của nhiều quá trình chuyển hóa, mà sự rối loạn gây nên nôn và mửa thai nghén.
Mối liên hệ này có thể có nguồn gốc di truyền : vào tháng ba vừa rồi, một công trình nghiên cứu mới đã buộc tội hai gène được biết đóng một vai trò trong sự điều hòa cảm giác ăn ngon và sự tạo thành nhau, mà sự biến dị có thể gây nên một sự gia tăng sản xuất HCG…” Chủ đề, từ lâu bị bỏ rơi bởi vì khó làm sáng tỏ, sau cùng lại làm quan tâm giới nghiên cứu “, nhà sản khoa đã lấy làm vui sướng.
(SCIENCE ET VIE 12/2018)

7/ Ô NHIỄM VÀ SỨC KHOẺ CỦA TRẺ EM : KHÔNG THỂ BẢO VỆ ?

Docteur Bertrand Delaisi
Pneumopédiatre
Hopital Robert-Debré (Paris)

***5
Trốn xa thành phố. Vào tháng tư năm 2014, có lẽ đó là ước muốn của nhiều cha mẹ, và nhất là những người sống ở Paris. Phải nói rằng, từ tháng giêng 2014, Ile-de-France dường như đặc biệt không thể thở được : 44 ngày vượt quá ngưỡng thông tin ô nhiễm những hạt nhỏ đã được hạch toán, làm vùng này vi phạm quy định của châu Âu. Xét vì những hậu quả được chứng minh của sự ô nhiễm này lên sức khỏe của trẻ em, sự kích thích đường hô hấp và sự bộc phát của các đợt hen phế quản, những nguy cơ tim mạch gia tăng, ung thư,.., tất cả cha mẹ có lẽ mơ ước một choc lat trốn khỏi thành phố, để đến một căn nhà ở bờ biển hay thí dụ ở giữa vùng quê.
Ngoại trừ, đầu tháng tư năm 2014, Anses (Agence nationale de sécurité sanitaire de l’alimentation, de l’environnement et du travail) đã công bố một báo cáo về ô nhiễm…của không khí nội thất (air intérieur). Qua báo cáo này ta biết rằng, dầu cho vị trí của ngôi nhà hay trường học của chúng ở đâu, những đứa con của chúng ta thường thở ở đó benzène, các dung môi, monoxyde de carbone, radon, mặc dầu chúng không là những nạn nhân thụ động của chứng nghiện thuốc lá, cần biết rằng báo cáo chỉ xét đến một số nhỏ những chất gây ô nhiễm nội thất (polluants intérieurs) vì thiếu dữ kiện. Lại còn gây hoảng sợ hơn : những chất gây ô nhiễm này chịu trách nhiệm những trường hợp tử vong ở trẻ em và các thiếu niên. Với tất cả những thận trọng bắt buộc, Anses giả định rằng 22 người từ 0 đến 19 tuổi có thể đã chết do leucémie gây nên bởi benzène của khí nội thất vào năm 2004.
Cuối cùng, cùng những bố mẹ này, mơ ước một ngôi nhà ở bờ biển hay ở giữa vùng quê, có lẽ đã nghĩ rằng ngôi nhà này sẽ không có mọi tiện nghi hiện đại (meubles, peintures…) để tôn trọng capital santé của đứa trẻ. Tin vui đầu tiên, đó là, để bảo vệ các trẻ nhỏ, trốn khỏi thành phối không phải là giải pháp. Để được thuyết phục về điều đó, chỉ cần xem xét địa lý của bệnh hen phế quản, bệnh hô hấp thường gặp nhất ở các trẻ nhỏ và là một trong những chủ đề của hội nghị của các hiệp hội nhi khoa Phap, diễn ra từ 22 đến 24/5 năm 2014 ở Lyon : theo một công trình nghiên cứu được công bố năm 2012 và được thực hiện trên những trẻ lớp mẫu giáo, tỷ lệ lưu hành của hen phế quản là1,7 lần cao hơn ở Basse-Normandie so với ở Ile-de-France. Tỷ lệ này của 1,3 lần cao hơn ở Bretagne ! Nguyên nhân ? Độ ẩm, tạo điều kiện cho sự xuất hiện của acariens, do đó những phản ứng dị ứng viêm. Thật vậy, hen phế quản ngay cả không còn thường gặp ở môi trường đô thị hơn môi trường nông thôn. Ngay cả trái lại : theo cùng công trình nghiên cứu này được công bố năm 2012, tỷ lệ hen phế quản trẻ em trong khu vực mậu giap là 10,4% trong vùng nông thôn, hoặc 0,4 điểm cao hơn trong những thành phố 200.000 dân ! Phải nói rằng nông thôn đầy những yếu tố gây dị ứng (acariens, nấm mốc…)
Tin vui thứ hai, đó là sự việc từ bỏ tiện nghi cũng không phải là một quyết định tốt. Thật vậy, một lối sống theo kiểu nông thông không đảm bảo sự vắng mặt của các hạt nhỏ trong không khí (thí dụ lửa lò sưởi sinh ra những hạt nhỏ), cũng không đảm bảo sự vắng mặt của dioxyde d’azote phát xuất từ những sản phẩm đốt cháy được sử dụng trong nhà bếp. Cuối cùng, vào lúc này, không ai có thể chứng thực rằng, đối với trẻ em, tốt hơn là ở trong mot túp lều ở thôn quê hơn là trong một appartement ở Paris.
Mặc dầu một giải pháp có thể cho phép tăng cường khả năng phòng vệ của trẻ em chống lại những dị ứng nguyên hiện diện trong môi trường. Đó là sự trở lại một cuộc sống hoàn toàn nông thôn, trong đó các bà mê uống sữa không được tiệt trùng (lait non pasteurisé), tiếp xúc hàng ngày với các động vật, thậm chí ngủ trong chuồng bò. Chỉ có lối sống này mới cho phép các trẻ sơ sinh phát triển tức thời một loại tế bào lympho đặc biệt, có thể giúp chúng chống lại một cách hiệu quả những vi sinh vật gây bệnh. Nhưng giải pháp này có thể không dễ áp dụng. Nhất là, nếu được theo kèm bởi một sự thụt lùi trên mặt trận vệ sinh, đến độ cuối cùng những bệnh như listériose hay choléra gây những thiệt hại lên sức khỏe của trẻ em nhiều hơn những ô nhiễm khác nhau của cuộc sống hiện đại.
(LE FIGARO 19/5/2014)
Đọc thêm : TSYH số 348 : bài số 6

8/ OMEGA-3 CUỐI CÙNG ÍT CÓ TÁC DỤNG LÊN TIM
Các oméga-3 là những axit béo, hiện diện trong cá và vài loại dầu thực vật, thiết yếu cho sức khỏe của chúng ta. Nhưng trái với niềm tin dân gian, việc tiêu thụ nhiều hơn, nhất là dưới dạng complément, không ngăn ngừa hay rất ít những bệnh tim mạch. Các công trình nghiên cứu cũng không chứng minh những tác dụng đáng kể lên sự mất cân. (Cochrane Library. Juillet 2018)
(SCIENCE ET VIE 9/2018)

9/ CON TÔI NGÁY, ĐIỀU ĐÓ CÓ NGHIÊM TRỌNG KHÔNG ?” Khoảng 10% những trẻ em dưới 6 tuổi ngáy khi ngủ, GS Françoise Denoyelle (ORL pédiatrique, groupe hospitalier Armand-Trousseau, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Phần lớn những trường hợp ngáy đều hiền tính, ngoại trừ 2% những trẻ em dưới 6 tuổi. Những trẻ em này có một hội chứng apnée du sommeil thật sự, với những ảnh hưởng lên sự tăng trưởng và sức khỏe của chúng : chính vì vậy phát hiện chúng càng sớm càng tốt là điều rất quan trọng.”
Đúng đó là cả sự khó khăn. Ngoài sự xuất hiện những ngừng hô hấp (pauses respiratoires) trong đêm, một dấu hiệu thật sự báo động cha mẹ, hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ (syndrome d’apnées du sommeil) của trẻ em được biểu hiện nhất là bởi một giấc ngủ không yên, những ác mộng, một sự vã mồ hôi quá mức và đôi khi “đái dầm” (énurésie) sau một thời kỳ sạch sẽ. Buổi sáng, những trẻ này thức dậy với đau đầu và cáu gắt. Trong ngày, chúng có thể dễ cáu, không yên với khó tập trung. Những tháng trôi qua, nếu hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ vẫn không được chẩn đoán, đó là một cassure của đường cong trọng lượng, cuối cùng báo động thầy thuốc. Vào giai đoạn này, không còn thời gian để mất nữa !
NHỮNG KỸ THUẬT NGOẠI KHOA.
Nguyên nhân đầu tiên, và thường gặp nhất, đó là phì đại các amygdale (trong hơn 85 % các trường hợp) : chúng lớn đến độ chúng gặp nhau. Sự phì đại này được gặp nhất ở khoảng 4-5 tuổi và đó là một chỉ định cắt amygdale không còn phải chờ đợi nữa. Ta mổ dưới gây mê tổng quát và ta theo dõi đứa bé ít nhất trong 6 giờ tiếp theo để kiểm tra không có xuất huyết. ” Phẫu thuật được gọi là “lạnh”, cổ điển, vẫn là kỹ thuật quy chiếu, bởi vì chính nó được kèm theo nguy cơ xuất huyết thấp nhất, 8 đến 15 ngày sau mổ ” GS Denoyelle đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên, có những kỹ thuật mổ khác với những dụng cụ khác nhau : chúng lấy đi các amygdale mà không đụng đến capsule bọc chúng, điều này có thể làm giảm đau và những nguy cơ xuất huyết hậu phẫu (nhưng vào luc này, những kỹ thuật này đang được đánh giá và không được đảm trách bởi Sécurité sociale). Phẫu thuật cho phép giải quyết một cách khá ngoạn mục toàn thể những rối loạn đã dẫn đến chẩn đoán ; đứa bé ngủ ngon hơn. Nó không còn nữa những rối loạn vigilance vào ban ngày. Và nhất là, đối với những đứa bé mà sự lên cân bị rối loạn, sự tăng trưởng tái tục nhanh chóng, điều này là thiết yếu.
Trong những trường hợp rống khác (không phải hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ), mổ không được thực hiện một cách hệ thống. ” Nếu không có những đợt ngừng thở ngắn, những dấu hiệu ban ngày và nếu không bị ảnh hưởng trong ngày, ta thường chỉ cần theo dõi. Những amygdale hay végétation quá lớn có khuynh hướng tiến triển một cách ngẫu nhiên với tuổi tác, và phần lớn những trường hợp ngáy đơn giản biến mất vào khoảng 8-10 tuổi. Nếu ngáy vẫn dai dẳng, thí dụ vì những lý do cơ thể học (voile du palais hơi quá dài, vách mui vẹo…), một phẫu thuật có thể được đề nghị, nhưng không cấp cứu : vào tuổi thiếu niên hay ở tuổi trưởng thành “, GS Denoyelle đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 22 /11/2010)
Đọc thêm : TSYH số 450 : bài số 2

10/ BỆNH TỰ KỶ VÀ NHỮNG RỐI LOẠN LƯỠNG CỰC : HƯỚNG VIÊM ĐƯỢC XÁC NHẬN
Phải chăng một quá trình viêm đơn thuần có thể gây nên những rối loạn tâm thần ? Hai công trình nghiên cứu làm nòng cốt cho giả thuyết này. Cắc nhà nghiên cứu Pháp đã séquencer những bộ phận của génome của hàng trăm người bị bệnh tự kỷ hay những rối loạn lưỡng cực. Họ tập trung vào những gène mã hóa những pièce thiết yếu trong hệ miễn dịch : complexe HLA. Thật vậy phức hợp này tạo một tổng thể những motif đánh dấu những “cellules du soi” để hệ miễn dịch không tấn công chúng. Thế mà sự phân tích chúng phát hiện rằng vài motif HLA đúng là thường gặp hơn ở những người bị những bệnh lý này ; và những motif khác tương ứng với những biến thể trong sự biểu hiện chúng. Phải chẳng một sự xếp loại (étiquetage) không đúng của những cellules du soi có thể phát khởi một quá trình viêm ảnh hưởng đến những neurone và những nối kết của chúng ? ” Hiện nay, ta không biết hiện tượng viêm là yếu tố quyết định trong sự xuất hiện của những rối loạn tâm thần, hay đó chỉ là một hậu quả”, Eric Lemonnier, thuộc CHU de Limoges đã xác nhận như vậy.
(SCIENCE ET VIE 8/2018)
Đọc thêm : Thời Sự Y Học số 437, 485

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/12/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 493 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s