Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 48 – BS Nguyễn Văn Thịnh

BÃO GIÁP
(THYROID STORM)

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

TEST 2

Một người đàn bà 36 tuổi được mang đến khoa cấp cứu từ nơi làm việc. Bệnh nhân đã được nhận thấy trong tình trạng kích động và có những hành động lạ kỳ. Tiền sử và điều trị thuốc thường ngày không được biết rõ. HA của bệnh nhân là 162/92 mmHg, tần số tim là 140 đập mỗi phút, nhiệt độ là 101,8 độ F và tần số hô hấp là 18 hơi thở mỗi phút. Lúc khám, bệnh nhân mê sảng, run, và có một bướu cổ lớn. Xử trí thích hợp nhất của bệnh nhân này là :
(a) Cho dantrolene
(b) Cho acetaminophen và kháng sinh kháng khuẩn phổ rộng
(c) Bảo vệ đường khí, cho iodine
(d) Cho diazepam
(e) Bảo vệ đường khí, cho acetaminophen, propranolol, và PTU

Câu trả lời đúng là (e)
Bệnh nhân này ở trong trạng thái tăng giao cảm (hyper-adrenergic state), biến đổi trạng thái tâm thần, và một bướu cổ lớn, đặt bão giáp (thyroid storm) trên đầu danh sách chẩn đoán phân biệt. Bệnh nhân có thể có một tăng năng tuyến giáp không được chẩn đoán. Đây là một chẩn đoán lâm sàng và phải được điều trị một cách thường nghiệm và một cách nhanh chóng vì tỷ lệ tử vong cao mặc dầu điều trị. Xử trí bão giáp gồm điều trị hỗ trợ (bảo vệ đường khí, oxygenation, IV hydration) và điều trị đặc hiệu để điều trị những triệu chứng giao cảm và để làm giảm sự tổng hợp và phóng thích kích thích tố tuyến giáp.
Những thuốc chẹn beta giao cảm (beta-adrenergic blockers) được cho để đảo ngược tăng hoạt tính giao cảm (adrenergic hyperactivity). Propranolol để giảm những triệu chứng beta-adrenergic và dập tắt sự biến đổi ngoại biên T4 thành T3.
Propylthiouracil (PTU) phong bế sự tổng hợp mới của kích thích tố tuyến giáp và cũng giúp propranolol trong việc làm giảm sự biến đổi ngoại biên của T4 thành T3.
Iodine phong bế sự phóng thích kích thích tố được tạo trước nhưng có thể chỉ được cho sau khi PTU đã có hiệu quả, bằng không nó sẽ gia tăng sự sản xuất thêm nữa hormone.
(a) Dantrolene được sử dụng trong điều trị tăng thân nhiệt ác tính (malignant hyperthermia) và neuroleptic malignant syndrome.
Những thuốc chống loạn thần (haloperidol) là những thuốc thường gây Neuroleptic malignant syndrome nhất, làm kiệt dopamine trung ương. Rối loạn được đặc trưng bởi tăng thân nhiệt, cứng cơ, trạng thái tâm thần bị biến đổi, và bất ổn định hệ thần kinh tự trị. Vì NMS có một tý lệ tử vong cao, nên điều quan trọng là điều trị tích cực với những thuốc giãn cơ, như benzodiazepines tĩnh mạch, dantrolene, và những dopamine agonists
(b) Cho acetaminophen và kháng sinh kháng khuẩn phổ rộng hay (d) diazepam không xử lý nguyên nhân của căn bệnh của bệnh nhân
(c) Iodine không được cho trước khi cho PTU.

Reference :
– Emergency Medicine. PreTest
– 101 Clinical Cases in Emergency Room

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/12/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu nội tiết và chuyễn hóa, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 48 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 49 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Cấp cứu nội tiết và chuyển hóa số 50 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s