Cấp cứu bệnh nhiễm khuẩn số 20 – BS Nguyễn Văn Thịnh

VIÊM MÀNG NÃO DO VIRUS
(MENINGITE VIRALE)

Advanced Medical Life Support (AMLS)
National Association of Emergency Medical
Technicians (NAEMT)

Hơn 90% các trường hợp viêm màng não có nguồn gốc virus. Căn bệnh phổ biến trên thế giới này không tạo một nguy cơ đối với nhân viên y tế. Tuy nhiên nó có thể đe dọa tiên lượng sinh tồn của các bệnh nhân.

I. NHỮNG DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG
Những dấu hiệu và triệu chứng bao gồm sự xuất hiện đột ngột đau đầu, sợ ánh sáng, sốt, cứng gáy và mửa. Vài souche viêm màng não do virus gây nổi ban da, có thể phủ nhiều phần của cơ thể hay chỉ các cánh tay và cẳng chân. Ban nổi đỏ và phần lớn phẳng. Nó khác với ban của viêm màng não do màng não cầu trùng (méningite à méningocoque), được đặc trưng bởi những vết chấm nhỏ đỏ tươi phủ phần lớn của cơ thể.
Bệnh cảnh lâm sàng của viêm màng não do virus có thể dường như hiền tính. Thường thường, bệnh nhân có sốt, đau đầu, nôn và mửa. Sợ ánh sáng và cứng gáy thường ít gặp hơn. Những rối loạn tri giác chỉ sự cần thiết của một điều trị cấp cứu. Khi đánh giá anh phải nhận diện mọi dấu hiệu thuận lợi cho một sự gia tăng của áp lực nội sọ hay những cơn co giật. Hãy theo dõi liên tục những dấu hiệu co giật, đông máu rải rác trong lòng mạch, loạn nhịp và gia tăng áp lực nội sọ.

II. SINH BỆNH LÝ
Viêm màng não do virus là một bệnh thường gặp và tương đối hiền tính, có thể lây truyền do tiếp xúc với phân bị nhiễm trùng hay những chất tiết của mũi và họng. Thời gian tiềm phục là 2 đến 10 ngày.Virus lan tràn nhanh hơn ở những trẻ em nhỏ và trong số những trẻ sống cộng đồng. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè và đầu thu, nhất là trong môi trường học đường, với những dịch bệnh mùa. Phần lớn trẻ em và người lớn phục hồi trong 10 đến 14 ngày. Ngoài ra, bất cứ ai cũng có thể mắc bệnh và phần lớn những người trên 40 tuổi đã phát triển một miễn dịch đối với nó.

III. CHẨN ĐOÁN
Đi du lịch mới đây đến vài vùng có thể hướng định về một căn nguyên đặc hiệu. Một sự trầm trọng của triệu chứng đau đầu khi ho, khi hách xì hay khi gấp mình ra trước phải khiến gợi lên một sự gia tăng của áp lực nội sọ.
Một thăm khám thần kinh hoàn toàn, kể cả khám các dây thần kinh sọ cũng phải được thực hiện. Chẩn đoán phân biệt phải xét đến một căn nguyên vi khuẩn, do tụ cầu và liên cầu khuẩn.
Cấy máu, phản ứng huyết thanh và phân tích dịch não tủy phải được thực hiện để phân biệt một căn nguyên vi khuẩn, virus hay nấm. Một dạng vẻ đục của dịch não tủy chỉ một sự gia tăng của các bạch cầu. Sự hiện diện của một tỷ lệ cao của các bạch cầu trong dịch não tủy hướng về một viêm màng não vi khuẩn hay một áp xe não. Nhuộm Gram giúp nhận diện và có thể hướng về một antibiothérapie ciblée.Trước khi thực hiện chọc dò tủy sống, nồng độ glucose huyết tương được xác định. Nồng độ này là một chỉ dấu chẩn đoán bởi vì những vi khuẩn hiện diện tiêu thụ glucose. Một nồng độ glucose thấp trong dịch não tủy (< 60% mg/dl của nồng độ glucose huyết) gợi ý viêm màng não. Ngoài ra, những thăm dò như điện não đồ, chụp cắt lớp vi tính hay IRM có thể cung cấp những thông tin quý giá về những biến chứng nặng.

IV. ĐIỀU TRỊ
Sự nhận diện những nguyên nhân của viêm màng não có thể được điều trị, cho phép cải thiện tiên lượng. Ngoài ra, hỏi bệnh, khám lâm sàng được thực hiện tốt và một xử trí thích ứng trên bình diện hô hấp và huyết động cho phép một tiến triển tốt hơn.
Điều trị chữa lành bao gồm cho các thuốc kháng sinh, những thuốc chống virus và những thuốc chống nấm. Điều trị triệu chứng gồm hydratation thích đáng và cho những thuốc hạ nhiệt và chống đau. Mọi cơn động kinh phải được điều trị bởi một thuốc chống co giật. Hãy tôn trọng protocole địa phương bằng cách báo cho các service de santé publique để giúp nhận diện sớm mọi gia tăng của tỷ lệ vài bệnh viêm màng não trong vùng. Trong vài tình huống, một xử trí trong milieu de rééducation có thể cần thiết sau thời kỳ cấp tính.

V. PHÒNG NGỪA.
Tiêm chủng dự phòng là phương tiện hiệu quả để phòng ngừa vài bệnh viêm màng não. Hãy tôn trọng những précaution standard và nhất là vệ sinh các bàn tay. Hãy dùng những trang bị bảo vệ cá nhân (EPI : équipement de protection individuelle) thích hợp khi xử trí một bệnh nhân nghi bị viêm màng não.

Reference : AMLS. Prise en charge des urgences médicales.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(8/12/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu bệnh nhiễm khuẩn, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s