Thời sự y học số 491 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÁC THUỐC TRỪ SÂU : NHỮNG NGUY CƠ ĐƯỢC XÁC NHẬN
Để đánh giá những nguy hiểm của những sản phẩm này lên sức khỏe, sự tiếp xúc của population được quan sát phải được định rõ.
POLLUTION. Là nước đứng đầu châu Âu về diện tích nông nghiệp, Pháp, với 75.000 tấn được bán năm 2014, cũng là nước tiêu thụ thuốc trừ sâu đứng thứ hai châu Âu. Vậy trước hết trong những nghề nông mà vấn đề về tính độc hại của những sản phẩm này được đặt ra, mặc dầu sự sử dụng trong gia đình của chúng cũng tạo vấn đề.Những thuốc trừ cỏ, những chất diệt nấm (fongicide), những thuốc trừ sâu bọ, những chất chống acarien,…, gần 500 thuốc trừ sâu được cho phép ở Pháp, thuộc những lớp hóa học khác nhau : organophosphorés, carbamates, pyréthrinoides, triazines, pyridines… Mỗi thuốc trừ sâu có cách tác dụng và những mục tiêu sinh học của nó và đôi khi những tác dụng CMR (carcérigène, mutagène, reprotoxique : sinh ung thư, sinh biến dị, độc đối với sinh sản), hay những chất làm rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien) tác động với liều rất thấp. Nếu ta cũng tính đến những thuốc trừ sâu hôm nay bị cấm nhưng có thể tồn tại lâu trong môi trường và trong đất, như những organochlorés đặc biệt độc, ta vượt hàng ngàn.
Xác lập mối liên hệ giữa các thuốc trừ sâu và những bệnh lý ở người không có gì là hiển nhiên. Điều này giả định rằng những trường hợp phải khá thường gặp để mối liên hệ này có thể xác định được và để cho nguy cơ này có thể được định lượng, xác lập, như đó là trường hội đối với vài thuốc trừ sâu, để những biện pháp phòng ngừa được áp dụng. Tính chất và tầm quan trọng của sự tiếp xúc, thời gian tiếp xúc, mức độ nghiêm trọng và sự tồn tại của những rối loạn là những yếu tố quan trọng của sự xác định này.
Trong khi những công trình nghiên cứu thí nghiệm in vitro và trên động vật cho một ý nghĩ về độc tính của chúng, ở người hậu quả của những tiếp xúc này chủ yếu được khảo sát ở những nông gia, những công nhân nông nghiệp và những nhà nghề bị tiếp xúc nhất. Những công trình nghiên cứu dịch tễ học, chủ yếu được thực hiện trên 100.000 người khai khẩn nông nghiệp Hoa Kỳ và trên 180.000 nông gia hay công nhân nông nghiệp, đã cho phép phát hiện vài mối liên hệ. Expertise collective về những hậu quả của các thuốc trừ sâu lên sức khỏe, được thực hiện bởi Inserm chứng rõ một sự suy đoán mạnh về mối liên hệ giữa sự tiếp xúc với các thuốc trừ sâu và vài loại ung thư máu (myélome multiple, nhất là lymphome non hodgkinien), với lymphome non hodgkinien sự tăng gấp đôi trong vài công trình nghiên cứu.
Cũng như vậy đối với ung thư tiền liệt tuyến. “Theo những công trình nghiên cứu, người ta tìm thấy một sur-risque từ 10 đến 30% ở những nhà nghề tiếp xúc với các thuốc trừ sâu. Khuynh hướng vẫn như nhau từ expertise này “, nhà dịch tễ học Luc Multigner đã giải thích như vậy. Một sự suy đoán về mối liên hệ cũng đã được nhận diện đối với những nhà nghề này giữa tiếp xúc với thuốc trừ sâu và leucémie.
Môi trường nông nghiệp rất tạp nham. ” Trong cohorte Agrican, chúng tôi xem xét mỗi ung thư bởi mỗi khu vực sản xuất nông nghiệp, và trong mỗi khu vực bởi công việc : những công việc liên kết với sự sử dụng trực tiếp các thuốc trừ sâu, với một sự tiếp xúc gián tiếp, hay không tiếp xúc “, Pierre Lebailly, épidémiologiste (Inserm, Caen) đã giải thích như vậy.” Người ta đã chứng minh trong ít nhất 3 khu vực, nghề trồng nho, nghề trồng cây và nghề trồng rau, sự tiếp xúc gián tiếp, lúc những công việc trong những đất trồng được xử lý, đôi khi cao hơn sự tiếp xúc của những người sử dụng trực tiếp ” Ngoài ra, không nên lẫn lộn nguy cơ thấp và nguy cơ bị hòa loãng. ” Ở những người làm nghề trồng cây, nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt hơi cao hơn nguy cơ của population générale. Nhưng hai lần cao hơn ở những người thu hoạch pomme từ hơn 20 năm.”
Mối liên hệ khác được phát hiện ở những nông gia, liên hệ giữa các thuốc trừ sâu và bệnh Parkinson. Năm vừa qua, một công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ bị bệnh Parkinson ở những người khai khẩn nông nghiệp là 13% cao hơn. ” Một công trình nghiên cứu tháng hai 2018 xác nhận rằng nguy cơ này hiện hữu đối với tất cả khu vực nông nghiệp “, Pierre Lebailly đã chỉ như vậy. Bệnh Parkinson hôm nay được công nhận như là bệnh nghề nghiệp ở những nông gia, cũng như vài ung thư máu. Một sự liên kết giữa tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc trừ sâu và nguy cơ gia tăng bị bệnh Alzheimer và SLA (sclérose latérale amyotrophique hay maladie de Charcot) bị nghi ngờ nhưng chưa được chứng minh.
Mặc dầu liên hệ thống kê không có nghĩa là liên hệ nhân quả. Nhưng tỷ lệ của những bệnh lý này cao hơn so với population générale, cho thấy rõ sự liên quan ngay cả chỉ một phần của những thuốc trừ sâu trong vài bệnh lý. ” Chúng tác động bằng cách làm rối loạn sự sử dụng đúng đắn oxygène trong hô hấp của tế bào và những quá trình khử độc tế bào, như thế tạo một stress oxydant có hại “, Xavier Coumoul, toxicologue đã giải thích như vậy. Đối với population générale, những hậu quả của chúng khó phát hiện hơn bởi vì sự tiếp xúc khuếch tán hơn, bị hòa loãng hơn. Sự tiếp xúc này chủ yếu qua thức ăn. Nó cũng có thể qua đường hô hấp.
(LE FIGARO 19/11/2018)

2/ THUỐC TRỪ SÂU : CHÚ Ý TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ CÓ THAI
Vài lứa tuổi của đời sống chịu tính độc hại của các thuốc trừ sâu hơn, nhất là trẻ em, ngay thời kỳ tiền sinh. Ở Pháp, mỗi năm khoảng 1700 trẻ em dưới 15 tuổi bị một ung thư, mà một nửa trước 5 tuổi, các leucémie và những u não thường gặp nhất ở trẻ em. Vậy nhưng ung thư này là hiếm.
Geneviève Van Maele, nhà dịch tễ học (UC Louvain, Bruxelles), bằng sự phân tích những dữ kiện hiện có, cố gắng định lượng vai trò của các thuốc trừ sâu trong hai loại ung thư này, trong trường hợp tiếp xúc nghề nghiệp của bố mẹ với những thuốc trừ sâu (những nông gia, những người làm vườn, công nghiệp hóa học..) và khi chúng được sử dụng trong gia đình. ” Về mặt thống kê có một sự gia tăng đáng kể nguy cơ bị leucémie ở trẻ em khi người cha bị tiếp xúc do nghề nghiệp với các thuốc trừ sâu trước khi thụ thai (do tác dụng lên các giao tử) và cũng trong thời kỳ thai nghén do sự tiếp xúc gián tiếp của em bé.” Thí dụ do những quần áo bị nhiễm bẩn. ” Khi người mẹ tiếp xúc vì nghề nghiệp với những thuốc trừ sâu, nguy cơ này lại còn cao hơn, dầu sự tiếp xúc này xảy ra trước khi thụ thai hay trong thời kỳ thai nghén.” Khi sự tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc trừ sâu chỉ xảy ra sau khi sinh các em bé, nguy cơ leucémie chỉ gia tăng nếu chính người mẹ bị tiếp xúc.
Sự gia tăng nguy cơ u não ở đứa bé cũng đáng kể, dầu cho người mẹ hay người cha bị tiếp xúc do nghề nghiệp với những thuốc trừ sâu trước khi thụ thai hay trong thời kỳ thai nghén.
MỘT SỰ ĐÓNG NHÃN ĐÁNG TIN CẬY LÀ BẮT BUỘC
Về sự tiếp xúc trong gia đình với các thuốc trừ sâu (vườn, nhà ở…), sự tiếp xúc này khó đánh giá hơn bởi vì có ít công trình nghiên cứu. ” Nhưng sự tiếp xúc trong nhà cũng được liên kết với một nguy cơ thống kê gia tăng bị leucémie hay u não ở trẻ em, đặc biệt đối với những người sử dụng thuốc trừ sâu trong nhà ở. Các tiếp xúc này, ở trẻ em, chắc chắn cũng quan trọng như, nếu không muốn nói là hơn, cách tiếp xúc liên kết với sự tiếp xúc nghề nghiệp của cha mẹ, GS Van Maele đã chỉ như vậy. Mặc dầu ta không thể xác lập mối liên hệ nhân quả, mà chỉ là những liên kết thống kê, những kết quả của chúng ta biện minh khuyến nghị hạn chế sự sử dụng các thuốc trừ sâu trong nhà ở, đặc biệt trong những nhà ở mà các phụ nữ có thai sống, ở lứa tuổi sinh đẻ, hay những trẻ nhỏ.”
Đó cũng là điều được gọi ý bởi những công trình nghiên cứu khác về ảnh hưởng của các thuốc trừ sâu lên sự phát triển của đứa trẻ. Vài cohorte, được theo dõi trong những vùng nhất là nông thôn (Bretagne, Picardie), phát hiện những rối loạn phát triển thần kinh nhẹ, sau 6 tuổi. Nhưng phải có thể theo dõi những trẻ em này ít nhất đến tuổi thiếu niên. Phải bắt buộc sự dán nhãn chi tiết về thành phần của các thuốc trừ sâu dùng trong gia đình. Nhưng trên thực tế không phải là như vậy.
(LE FIGARO 19/11/2018)

3/ CHLORDECONE, MỘT SỰ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ồ ẠT
Được sử dụng rộng rãi cho đến năm 1993 ở Antilles trong các công trường chuối, chlordécone là một thuốc trừ sâu organochloré, vẫn tồn tại cho đến 500 năm trong môi trường. Trong những département rất nông nghiệp này, nó làm ô nhiễm đất, dòng nước, động vật, thực vật trên đất và dưới nước…Hôm nay, chlordécone được phát hiện ở 90% dân số. Hầu như tất cả các công nhân của khu vực chuối đã tiếp xúc với thuốc trừ sâu này trước khi bị cấm vào năm 1993.
Profil độc chất học của phân tử này, rất ít được sử dụng ngoài Antilles thuộc Pháp, khá được biết rõ. ” Phân tử được xếp loại cancérogène possible vào năm 1979 bởi Circ, hôm nay nó đang được xếp loại ít nhất như cancérogène probable, nhà dịch tễ học Luc Multigner đã đánh giá như vậy. Đó cũng là một phân tử độc cho sự sinh sản (reprotoxique), độc đối với thần kinh (neurotoxique), và một chất làm rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien), với một tác dụng sinh oestrogène (action oestrogénique).
EFFETS OESTROGENIQUES.
Một công trình nghiên cứu ở Guadeloupe, được tái cập nhật năm 2105, đã cho thấy, ở người, một sự liên kết dương tính, có thể quy một mình cho chlordécone, giữa nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến và sự tiếp xúc với chlordécone, được đo trong máu. ” Như ở khắp nơi, đó là ung thư thường gặp nhất. Thế mà ở môi trường lành mạnh, trong population générale, đó luôn luôn là những nguy cơ thấp. Nhưng dầu cho tác dụng đặc hiệu của chlordécone chỉ trách nhiệm 10% của những ung thư này, điều đó có nghĩa rằng trên 500 ung thư tuyến tiền liệt hàng năm ở Antilles, phần có thể quy cho chlordécone là 50, và đó là 50 ung thư nhiều hơn. Sur-risque này có thể được giải thích bởi những tác dụng sinh oestrogène của chlordécone. Cohorte mère-enfant Timoun ở Guadeloupe cũng đã nhận diện một nguy cơ gia tăng bị sinh non, một sự giảm thời gian thai nghén, những rối loạn tối thiểu vóc người-trọng lượng và ở những bé trai 18 tháng, nhưng chỉ số vận động tinh tế (score de motricité fine) ít tốt hơn. Những công trình nghiên cứu theo dõi đang được tiến hành. Các viêm gan hoạt động (hépatite active) cũng là đối tượng của một sự theo dõi đặc biệt.
Một cohorte “historique” phải cho phép so sánh những nguyên nhân tử vong, nhất là bởi ung thư, của những công nhân tiếp xúc nghề nghiệp với chlordécone với population générale.
(LE FIGARO 19/11/2018)

4/ ẢNH HƯỞNG NÀO CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ LÊN SỨC KHOẺ CỦA CHÚNG TA ?

Professeur Bruno Housset
Président de la Fondation du souffle
Chef de service pneumologie
au CHI de Créteil

Tác động của sự ô nhiễm không khí lên sức khỏe của chúng ta là một sự kiện từ nay được xác nhận : theo OMS, sự ô nhiễm không khí là nguồn gốc của tử vong của 3 triệu người, điều này chiếm 5% những tử vong hàng năm trên thế giới. Nếu nó gây nên những rối loạn tim-mạch, nó cũng là nguyên nhân của các bệnh hô hấp, nhất là ở những người nhạy cảm nhất : những phụ nữ có thai, các trẻ em, những người già. Những hậu quả của nó thay đổi tùy theo mức độ tiếp xúc : thí dụ những người sống gần một trục giao thông mạnh sẽ bị ảnh hưởng hơn những người khác.
Ở Pháp, mỗi năm, 48.000 trường hợp chết sớm là do sự ô nhiễm không khí. Từ nay nhiều công trình nghiên cứu đề cao mối liên hệ nhân quả giữa môi trường và sức khỏe, nhất là bằng cách gây nên sự phát sinh, sự trầm trọng và sự bộc phát của những bệnh tim mạch. Những người dân thành thị là những kẻ tiếp xúc nhiều nhất với những hạt nhỏ (particules fines). Theo OMS, chính trong những thành phố của các nước công nghiệp mà ta quan sát những mức ô nhiễm tăng cao, với một tỷ lệ tử vong vượt quá 15-20% tỷ lệ tử vong trong những thành phố khác, ở đây không khí tượng đối lành mạnh hơn. Đó là những hạt nhỏ, những hợp chất rắn treo lơ lửng, được phát ra nhất là do sự đốt của các động cơ, những yếu tố chính của sự ô nhiễm không khí.
Một công trình nghiên cứu được tiến hành ở Luân Đôn (và được công bố mới đây trong le Lancet) đã so sánh tình trạng tim-hô hấp của những người trưởng thành lành mạnh (nhưng cũng những người bị bệnh phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính hay suy tim) hơn 60 tuổi, bước hai giờ, hoặc ở Oxford Street (khu phố đặc biệt bị ô nhiễm), hoặc Hyde Park (khu phố ít ô nhiễm của thành phố). Công trình này đã cho thấy rằng hai giờ bước trong một khu phố rất ô nhiễm đủ để biến đổi tình trạng tim-hô hấp của một người lành mạnh với những hậu quả muộn đến 26 giờ sau tiếp xúc…
Nếu những hạt nhỏ chủ yếu là hậu quả của hoạt động của con người (giao thông đường xa, vận chuyển đường biển, đốt củi, các công trường, những công trường đá, thuốc lá), chúng cũng có thể phát xuất từ những nguồn tự nhiên : cát, muối, lửa thiên nhiên, tro núi lửa…Và chúng càng nhỏ, chúng càng độc. Những hạt nhỏ được xếp loại theo đường kính của chúng : PM10 (đường kính dưới 10 mcm), PM2,5 (những hạt đường kính dưới 2,5 mcm) và những nanoparticule (dưới 100 nanomètre). Đối với cùng một khối lượng, các hạt càng nhỏ, số lượng của chúng càng gia tăng. Chính nó phản ứng với cơ thể và đảm bảo độc tính : Lúc đi sâu vào trong bộ máy hô hấp hay/và đi qua trong máu, những hạt treo này trong không khí kéo theo cùng với chúng những dị ứng nguyên, những kim loại nặng và hydrocarbures. Sự thải chúng ra khỏi cơ thể có thể cần thời gian.
Để kiểm tra điều đó, một công trình nghiên cứu đã cho, trong hai giờ, những người lành mạnh hít những nanoparticule vàng (không độc đối với cơ thể và có thể phát hiện). Công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng những nanoparticule vàng hiện diện trong nước tiểu của phần lớn những người tham gia 15 phút sau khi hít và có thể được phát hiện đến 3 tháng sau. Điều đó có thể góp phần giải thích những biểu hiện tim mạch tương quan với sự ô nhiễm (thí dụ diesel). Sự sưởi ấm khí hậu (réchauffement climatique) là một yếu tố nguy cơ khác gây bộc phát những bệnh hô hấp, với những cao điểm ô nhiễm ozone thường gặp hơn, nhất là trong những thời kỳ có ánh mặt trời mạnh. Trong số những hậu quả thường gặp nhất, ta quan sát một sự gia tăng của các cơn hen phế quản hay/và những dị ứng hô hấp liên kết với một mùa phấn hoa (saison pollinique) dài hơn và mạnh hơn. Mọi làn sóng nhiệt (vague de chaleur) dẫn đến một sự gia tăng những trường hợp nhập viện vì những vấn đề hô hấp và một tỷ lệ tử vong lớn hơn ở những người trên 75 tuổi. Những bệnh nhân bị những bệnh tim mạch, suy hô hấp, những nhũ nhi, những trẻ nhỏ cũng dễ bị thương tổn hơn.
Trong số những hành động cụ thể phải được tiến hành để giảm những hậu quả của sự ô nhiễm lên dân chúng và nhất là bảo vệ những người sống gần một trục giao thông, phải giảm sự sử dụng diesel và một cách tổng quát hơn những động cơ nhiệt. Điều đó là một bộ phận của những chủ trương bởi một consortium của những thủ phủ lớn trên thế giới, họp đều đặn trong một projet d’observatoire mondial về chất lượng của không khí đô thị. Được thiết đặt bởi Clean Air Forum, đã diễn ra ở Paris tháng 11 năm 2017, nó cho phép chia xẻ những thực hành tốt trên thế giới và có thể đề nghị những giải pháp đổi mới để chống lại tai ương của sự ô nhiễm.
(LE FIGARO 22/1/2018)

5/ ĐỐI VỚI CÁC TRẺ EM : ÍT NHÌN MÀN ẢNH, TRÍ NHỚ NHIỀU HƠN
Các trẻ ngồi hơn hai giờ mỗi ngày trước các màn ảnh có ít capacité cognitive (năng lực nhận thức) hơn những trẻ mà sự tiếp xúc ít hơn. Phát xuất từ những chủ trương của y tế Canada (tối thiểu 1 giờ hoạt động vật lý/ngày, dưới 2 giờ màn ảnh /ngày và ngủ từ 9 đến 11 giờ), các nhà nghiên cứu đã quan sát rằng những trẻ tôn trọng 3, hay 2 (giấc ngủ và màn ảnh), thậm chí 1 (màn ảnh) thành công những trắc nghiệm trí thông minh (tests intelligents) tốt hơn những trẻ không tôn trọng một khuyến nghị nào. (The Lancet Child & Ado.Health. September 2018)
(SCIENCE ET VIE 12/2018)

6/ TAN CƠ (FONTE MUSCULAIRE) : ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC DỰ KIẾN ?
Sự giảm các năng lực cơ, liên kết với tuổi già, được gọi là sarcopénie, là một nguyên nhân quan trọng của sự mất tự trị của những lão niên. Những nhà nghiên cứu của Toulouse (Inserm-université Paul-Sabatier và Gerontopole của CHU) đã phát hiện vai trò của apeline, một kích thích tố được nhận diện năm 1988, trong sự vận hành hoạt động của các cơ. Được sản xuất bởi sự co cơ trong khi thể dục, nó kích thích sự chuyển hóa của các cơ và sự tái sinh của chúng. Được cho ở những con chuột già, apeline phục hồi những chức năng cơ của chúng. Vì lẽ sự sản xuất của apeline khi thể dục giảm với tuổi, nên định lượng nó để phát hiện một sarcopénie đang xảy ra và/hoặc cho nó để điều trị tan cơ, khi không còn có thể thực hiện cố gắng vật lý, có vẻ là một hướng điều trị đầy hứa hẹn.
(PARIS MATCH 22/11-28/11/2018)

7/ NHỮNG ĐIỀU BẤT LỢI KHI NHÌN NHIỀU MÀN ẢNH
Một công trình nghiên cứu Trung Quốc-Hoa Kỳ, được thực hiện trên 81 người tình nguyện, đã cho thấy rằng một sự nghỉ 15 phút ở vùng quê làm gia tăng một cách đáng kể những năng lực chú ý (capacités d’attention), nhưng sự việc tham khảo ordinateur portable của mình trong một lúc nghỉ ngơi như thế hủy hoàn toàn những lợi ich này. Theo các nhà nghiên cứu, sự chiêm ngưỡng thiên nhiên tạo điều kiện cho sự bất định của trí tuệ (vagabondage de l’esprit), điều này cho phép sự tập trung được nghỉ ngơi và cải thiện. Thế mà những technologies numériques ngăn cản sự đi đến “fascination douce” này.
Càng ngày càng có nhiều cha mẹ xác nhận đã có những đứa con quá hoạt động (hyperactif). Một trong những nguyên nhân của sự gia tăng này có lẽ đã được nhận diện bởi những nhà nghiên cứu của đại học Californie. Họ đã theo dõi 2587 học sinh trung học trong hai năm. Họ đã quan sát rằng 9,5% những học sinh này, đã khai báo sử dụng rất thường xuyên những média numérique, đã phát triển một TDAH (trouble du déficit de l’attention avec hyperactivité). Giả thuyết : trong lúc không ngừng lơ đãng xuyên qua những bản thông báo hay những tương tác ngắn ngủi với những người sử dụng khác, sự tập trung, sự kiên nhẫn và sự kiểm soát những xung động bị tối loạn. (JAMA, juillet 2018)
(SCIENCE ET VIE 10/2018)

8/ MÃN KINH KHÔNG ẢNH HƯỞNG TÌNH DỤC.
ETUDE. Sự xuất hiện của những khó khăn tình dục vào lúc mãn kinh không phải do…thời kỳ mãn kinh. Những chuyên gia Pháp của équipe Inserm-Ined “Genre, santé sexuelle et reproductive” xác nhận điều đó, bằng các con số, trong một bài báo được công bố trong Journal of Sexual Medicine : ” Những biến đổi sinh học và kích thích tố, đặc trưng thời kỳ mãn kinh, không ảnh hưởng âm tính đời sống tình dục của các phụ nữ trung niên, vào lúc đầu của thời kỳ mãn kinh”. Vậy đó là một niềm tin sai lạc.
Tuy vậy, không thiếu những giai thoại các phụ nữ đã trải nghiệm thời kỳ mãn kinh như một bước ngoặc thảm hại trong đời sống tình dục của họ. Đúng là có nhiều lời chứng báo cáo ngược lại một sự chuyển tiếp hạnh phúc. Vì lẽ để phân rõ thật giả, không gì bằng những thống kê vững chắc, BS Virhginie Ringa và những đồng nghiệp đã có ý tưởng lấy lại những dữ kiện về những phụ nữ tuổi từ 45 đến 55 trong công trình nghiên cứu lớn mới nhất về sexualité của những người Pháp được thực hiện năm 2006.
Về những thực hành tình dục (pratiques sexuelles) trong năm qua, không có sự khác nhau nào giữa những phụ nữ mãn kinh và những phụ nữ khác, dầu đó là pénétration vaginale (95%), pénétration anale (12%), fellation (65%) hay cunnilingus (71%). Các tác giả chỉ nhân diện 2 khác nhau : ” Sự thủ dâm (masturbation) được các phụ nữ mãn kinh báo cáo ít thường hơn (13%) những phụ nữ khác (23%) ; những giao hợp không pénétration trong nhóm phụ nữ mãn kinh không điều trị hormone (34%) thường hơn một cách đáng kể so với những phụ nữ không mãn kinh (28%).
Ngoài hai tình huống này, được giải thích dễ dàng bởi những tham số khác với statut hormonal, không có một khác nhau nào về những khó khăn tình dục mà những phụ nữ này gặp phải : 60% đã có những khó khăn trong năm qua, chủ yếu những rối loạn về ham muốn hay kích dục. Sự thỏa mãn tình dục cũng tương tự.
Đối với các nhà nghiên cứu, ” điều rất quan trọng là đả thông các phụ nữ sẽ bước vào giai đoạn đầu của mãn kinh, cũng như những bạn đường phối ngẫu (partenaires) của họ rằng mọi khó khăn tình dục được báo cáo có lẽ là do một sự dự kiến (anticipation) hay những biểu tượng âm tính (représentations négatives) hơn là do những tác dụng sinh học hay hormone”.
(LE FIGARO 2/9/2013)

9/ NHỮNG NGƯỜI LIỆT HAI CHÂN BƯỚC TRỞ LẠI NHỜ KÍCH THÍCH ĐIỆN TỦY SỐNG.Bằng cách liên kết kích thích điện của tủy sống và sự phục hồi chức năng tích cực, vài bệnh nhân ngay cả đã có thể bước không cần sự giúp đỡ.
3 bệnh nhân trở nên bị liệt hai chân sau một tai nạn đã có thể bước trở lại, trước hết nhờ những kích thích điện rồi không cần một sự giúp đỡ nào ! Một kỳ công được thực hiện nhờ kíp nghiên cứu Thụy Sĩ, được chỉ đạo bởi Grégoire Courtine, thuộc Trường bách khoa liên bang Lausanne và chuyên gia giải phẫu thần kinh Jocelyne Bloch, thuộc đại học Lausanne. Công trình nghiên cứu mới này, được gọi là STIMO (Stimulation Movement Overground) ; phối hợp một kích thích điện của tủy sống thắt lưng và một phục hồi chức năng tích cực.
NHỮNG XUNG ĐỘNG THỂ HIỆN LẠI SỰ KÍCH HOẠT TỦY SỐNG TRONG KHI BƯỚC.Được trắc nghiệm trước hết ở chuột, khỉ rồi người, sự kích thích được gọi là không-thời gian hoạt động nhờ 16 điện cực được đặt trên tủy sống, dưới mức thương tổn. Mỗi điện cực nằm gần những rễ thần kinh tương ứng với những cơ khác nhau của các cẳng chân, các cơ gấp hay duỗi. Một máy kích thích thần kinh (neurostimulateur), được đưa vào trong bụng và được nối với các điện cực, gởi một chương trình kích thích điện để kích hoạt tủy sống trong chu kỳ bước.
ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT PREMIERE NHƯNG HIỆU QUẢ LẦN NÀY DÀI LÂU.
Vào tháng 9 năm 2018, hai kíp Hoa Kỳ của đại học Louisville và của la Mayo Clinic de Rochester (Hoa Kỳ) đã công bố một công trình nghiên cứu tương tự về kích thích tủy những bệnh nhân bại liệt hai chi dưới (xem số trước). Tuy nhiên phương pháp của họ khác. ” Những kíp này dựa trên một kích thích điện liên tục để gia tăng một cách toàn bộ hoạt động của tủy sống, Fabien Wagner, neuro-ingénieur của trường bách khoa liên bang Lausane, và là tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu Thụy Sĩ được công bố trong tạp chí Nature, đã giải thích như vậy. Còn chúng tôi, chúng tôi thể hiện lại hoạt động tự nhiên của tủy sống, cho phép bước, bằng cách gởi một loạt những xung động, đặc hiệu và từng lúc, sau nhiều tháng tập luyện, được cá thể hóa đối với mỗi bệnh nhân.” Với phương pháp này, sau nhiều tháng luyện tập (từ sáu tháng đến một năm), chức năng vận động tồn tại ngay cả khi kích thích điện bị cắt đứt.
KẾT QUẢ GÂY NGẠC NHIÊN CHÍNH CÁC THẦY THUỐC
” Sau 3 tháng phục hồi chức năng, bệnh nhân đầu tiên, một vận động viên thể thao đã từng có cẳng chân trái hoàn toàn bị liệt, đã loan báo với chúng tôi rằng ông ta đã cử động được ngón cái không cần kích thích, Fabien Wagner đã kể lại như vậy. Chúng tôi đã hiểu rằng tính dẻo (plasticité), nghĩa là sự tái tổ chức của các circuit neuronal, được biểu hiện.” Dần dần, người thanh niên đã thành công giơ rồi đưa cẳng chân lên.” Sau một năm, anh ta đã làm vài bước không kích thích, giữa hai thanh song song.”
TỦY SỐNG NỐI KẾT LẠI
Ở những người bị tai nạn này, tủy sống bị thương tổn không còn truyền đủ những mệnh lệnh đến các chi để cho phép bước, tuy nhiên vẫn còn đủ những sợi thần kinh. Kích thích và phục hồi chức năng mạnh có lẽ gia tăng những nối kết thần kinh, điều này cho phép những mệnh lệnh của não lại được cảm nhận.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2018)
Đọc thêm :
– Thời Sự Y Học số 489 bài số 5
– Thời Sự Y Học số 236 bài số 3
– Thời Sự Y Học số 227 bài số 1

10/ SỰ ĐA DẠNG HÓA CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG NGAY 3 TUỔI CẢI THIỆN GIẤC NGỦ.
Ở nhưng em bé 3 tháng được nuôi với những thức ăn rắn, các đêm dài hơn và những thức giấc ít thường hơn so với những trẻ chỉ được nuôi bằng sữa. Nhất là, những vấn đề ngủ ảnh hưởng tinh thần và khí chất của người mẹ hai đến ba lần hiếm hơn. Lợi ích này xuất hiện sau khi bắt đầu đa dạng hóa thức ăn (diversification alimentaire) và tồn tại hơn một năm. Đó là kết luận của một công trình nghiên cứu, được thực hiện trên 1303 em bé người Anh. Ở Pháp, các thầy thuốc nhi khoa khuyến nghị một diversification alimentaire bắt đầu từ 4 đến 6 tháng. (Jama Pediatrics, juillet 2018)
(SCIENCE ET VIE 9/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/12/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 491 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 493 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 516 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s