Thời sự y học số 489 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THAI NGHÉN : ĐIỀU MÀ MỖI CẶP VỢ CHỒNG CẦN PHẢI BIẾT
Để làm tốt, phải đi khám ngay khi muốn có con : ngay trước khi có thai.OBSTETRIQUE. ” Consultation prénuptiale đã được hủy bỏ năm 2007 bởi vì nhiều trẻ sinh ngoài giá thú. Thay vào nó, một consultation préconceptionnelle được chủ trương với một thầy thuốc đa khoa, một thầy thuốc phụ khoa hay một sage-femme, nhưng rất ít cặp nhờ đến điều đó “, GS Olivier Picone, thầy thuốc phụ sản, phụ trách Unité de diagnostic prénatal của khoa phụ sản của bệnh viện Louis Mourier ở Colombes, đã lấy làm tiếc như vậy.
Tuy vậy sự thăm khám này hữu ích bởi vì nó dùng để điểm tình hình về nhung tiếp xúc với các độc chất. ” Thuốc lá không chỉ độc đối với fécondité của người mẹ tương lai. Đó là một tai họa đối với tinh trùng. Vậy khi muốn có con tôi khuyên cả hai ngừng hút thuốc và ngừng uống rượu “, GS Picone đã nhấn mạnh như vậy. Thai nghén là một động cơ đủ mạnh để phần lớn những phụ nữ nghiện rượu tạm ngừng sự tiêu thụ của họ “, GS Fatma Bouvet, thầy thuốc tâm thần, addictologue thuộc bệnh viện Sainte-Anne (Paris), tác giả của le Choix des femmes, đã đánh giá như vậy. ” Nhưng sự tiêu thụ này nhằm đáp lại những nhịp điệu quá độ và những hung bạo lời nói, vật lý và tinh thần, nguy cơ tái phát là quan trọng. Xã hội phải làm nhiều hơn vì lợi ích của các phụ nữ.
Mục tiêu khác của consultation préconceptionnelle : kiểm tra những tiêm chủng (rubéole, rougeole và grippe có thể có hại đối với thai nghén) và thảo luận về sự đúng lúc của vaccin chống bệnh thủy đậu ở những phụ nữ chưa bao giờ được tiêm chủng. Còn về vaccin chống bệnh ho gà để tránh lây nhiễm em bé tương lai, cả hai bố mẹ tương lai phải được tiêm chủng. Thăm khám này còn dùng để kiểm tra xem đã bị nhiễm virus của sida hay của viêm gan B (phải được điều trị) hay không. Sau cùng consultation này cho phép đảm bảo rằng những điều trị mà người đàn bà đang theo không thể gây nên những dị dạng thai nhi và rằng, trong gia đình, không có những tiền sử về bệnh di truyền hay những gián đoạn thai nghén vì những lý do y khoa, điều này cần một consultation de génétique.
Nếu phải áp dụng những biện pháp phòng ngừa trước khi có thai, dĩ nhiên phải như vậy trong lúc mang thai. Khoảng 0,4% những trẻ sơ sinh bị nhiễm bởi một cytomégalovirus. Đó là nguyên nhân thứ hai của những rối loạn thính giác ở trẻ em, và nhiễm bởi cytomégalovirus có thể, hiếm, gây nên những di chứng thần kinh nặng. ” Vì lẽ virus này được truyền qua máu, nước dãi, nước mắt, nước tiểu, phân và những chất tiết sinh dục, khuyên không nên hôn miệng của một em bé, không nên chùi mũi của nó và lau nước mắt của nó, không nên sử dụng chiếc thìa của nó để ăn, ly của nó để uống hay bàn chải răng của nó và rửa tay kỹ với xà phòng sau khi thay quần áo, tắm rửa, cho ăn, sắp xếp các đồ chơi. Còn toxoplasmose, nó đã không biến mất, nhưng ít gặp hơn bởi vì ký sinh trùng không đề kháng với surgélation và sự nấu chín ở 60 độ C. Còn về listériose, nó có thể được tránh bằng cách tôn trọng chaine de froid và bằng cách không tiêu thụ sửa sống hay xông khói. Sau cùng tôi khuyên không nên du lịch vùng nhiệt đới vì nguy cơ bị bệnh sốt rét, dengue hay zika,…những nguồn biến chứng sản khoa thường gặp “, GS Picone đã cảnh giác như vậy.
Thêm vào những nguy cơ được biết này là những nguy cơ khác. Trong vụ các em bé sinh ra không bàn tay hay không cánh tay trên 3 site ở Pháp, những nguyên nhân không được nhận diện. Cái khó là có thể có nhiều nguyên nhân (effet “cocktail”). Trong lúc chờ đợi điều tra cho phép biết rõ hơn, GS Patrick Brochard, thầy thuốc lao động, và BS Fleur Delva, thầy thuốc y tế công cộng (Centre Artémis, service santé travail environnement, CHU Bordeaux), biện hộ rằng ” những nguy cơ gia đình được xử trí tốt hơn bởi vì ta tìm thấy ở đó những chất hóa học tiềm năng độc. Chúng hiện diện ở những mức thấp hơn trong môi trường làm việc, nhưng các phụ nữ tự bảo vệ ít tốt hơn để sử dụng chúng : họ không chú ý mang một mặt nạ, gant…thí dụ để sơn”.
Trong khi mang thai, nhờ những người khác làm những công việc vặt, rửa kỹ trái cây và rau xanh để loại bỏ những chất diệt côn trùng và, sau cùng, tránh những mỹ phẩm, đặc biệt nhưng mỹ phẩm không được giũ rửa và mua trên internet không có phương tiện kiểm tra. ” Những mỹ phẩm không được giũ rửa cũng có thể lây nhiễm qua da em bé một khi được sinh ra đời. Chính cũng những ingrédient khả dĩ có những ảnh hưởng lên sự phát triển của nó, tac động trong tử cung và trong thời kỳ thơ ấu “, GS Brochard đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 5/11/2018)
Đọc thêm : TSYH 477 bài số 6, TSYH số 310

2/ KHÁM THẦY THUỐC LAO ĐỘNG CÀNG SỚM CÀNG TỐT
Cùng một môi trường làm việc như nhau, sự kiện thai nghén xuất hiện ở một lứa tuổi muộn hơn được kèm theo bởi một nguy cơ gia tăng có một bất thường. Vì vậy không có thời gian để đánh mất. ” Chúng tôi chủ trương khám thầy thuốc lao động càng sớm càng tốt (ngay khi muốn có thai) bởi vì nguy cơ sinh quái thai là quan trọng ở tam cá nguyệt thứ nhất. sự khám sớm này cho phép điểm lại tình hình về sự hiện hữu của những yếu tố nguy cơ và, nếu có, áp dụng những biện pháp phòng ngừa : sự bố trí ou sự rút lui nhiệm sở, tùy theo trường hợp”, GS Patrick Brochard (Centre Artémis, service santé travail environnement, CHU de Bordeaux), đã đánh giá như vậy.
Chú ý, thăm thầy thuốc lao động rất sớm không liên quan gì với khai báo thai nghén, nói chung được làm vào tháng thứ ba ở employeur. Vả lại thấy thuốc lao động phải giữ bí mật y khoa : ” Tất cả điều người đàn bà nói vẫn được giữ kínGS Brochard đã đảm bảo như vậy. Tuy nhiên nếu nhiệm sở cần một sự thay đổi hay một sự rút lui hoàn toàn, démarche phải trở nên chính thức đối với chủ. Nhưng trong trường hợp này, người đàn bà có thai được bảo vệ và không thể bị đuổi việc, ngay cả trong thời kỳ thử việc và ngay cả với contrat à durée déterminée.
COI CHỪNG NHỮNG SẢN PHẨM HÓA HỌC
” Vào tam cá nguyệt thứ nhất của thai nghén, nguy cơ chính là hóa học (nguồn của những biến dạng bẩm sinh). Những dung môi hữu cơ, những thuốc trừ sâu, những kim loại, những hợp chất perfluoré, những chất tổng hợp, vài loại thuốc,..thuộc về những chất độc đối với sinh sản (reprotoxiques) và có những quy chế nghiêm túc đối với chúng khi chúng được Liên hiệp châu Âu xếp loại như thế “, BS Fleur Delva, thầy thuốc y tế công cộng (Centre Artémis, Bordeaux) đã nhấn mạnh như vậy.
Điều đó rõ ràng đối với những phụ nữ làm việc trong nhà máy hóa dầu, nhưng ít rõ ràng hơn đối với những người khác, như thợ cắt tóc. ” Tuy vậy hoạt động này có thể khiến phụ nữ có thai tiếp xúc với những yếu tố nguy cơ đối với thai nghén. Đó cũng là trường hợp của các y tá tiếp xúc với những chất hóa học thuốc, khí gây mê hay những bức xạ ion hóa, GS Brochard tiếp tục nói. Ngay khi có thao tác lên những sản phẩm hóa học hay tiếp xúc với những phóng xạ, khuyên nên tiếp cận service de santé au travail để biết đó là một reprotoxique hay không. ”
Cũng không nên xem thường những nguy cơ mới. ” Khi một phụ nữ có thai khả dĩ tiếp xúc với những nanoparticule có thể đi vào máu thai nhi, nhiệm sở làm việc phải được đánh giá và được thích ứng “, GS Patrick Brochard đã nhấn mạnh như vậy.
Sau cùng đặt vấn đề stress mà các phụ nữ phải chịu. Trong khi xã hội cần em bé, quá nhiều phụ nữ “trả giá đắt” cho thai nghén của mình. ” Loan báo có thai với người chủ được sống như một sự lo âu bởi nhiều phụ nữ. Và điều đó còn tệ hại hơn từ cơn khủng hoảng năm 2008, với sự gia tăng tình trạng thất nghiệp. Thế mà sức ép không ngừng này có thể nặng nề hậu quả : sự bắt làm việc quá sức, trầm cảm, tiêu thụ rượu. Những tâm tính phải thay đổi “, BS Fatma Bouvet, psychiatre addictologue (Paris) đã nổi giận như vậy.
(LE FIGARO 8/11/2018)

3/ “TẠI SAO CON GÁI TÔI ĐÃ BỊ DỊ TẬT “
Laure Bernie, serveuse 25 tuổi, và chồng cô Alain, cuisinier 28 tuổi trong vùng Bordeaux, đã có một bé gái vào mùa xuân. ” Lúc đứa bé sinh ra đời, nó đã được mổ vì một dị đang tiêu hóa và hai tuần sau, nhận thấy cháu trắng bệt và amorphe, tôi đã tức thời báo cho thấy thuốc nhi khoa : may mắn thay bởi vì đó là một bất thường tim, cũng đã được mổ. Vì chúng tôi không có một tiền sử gia đình nào, không có một vấn đề nào khả dĩ giải thích những dị tật này, người ta đã gọi chúng tôi đến một trung tâm có nhiệm vụ tiến hành một cuộc điều tra.” Đó là Centre Artémis (Aquitaine reproduction enfance maternité et impact de santé environnement), được thiết đặt bởi service de santé travail environnement của CHU de Bordeaux.
” Ở Centre Artémis, người ta hỏi về những gì tôi uống, tôi có hút thuốc không, những thói quen ăn uống của chúng tôi, những sản phẩm nội trợ nào chúng tôi sử dụng, nhưng điều đó không cho kết quả nào bởi vì chúng tôi sống một cuộc sống lành mạnh. Và vì tôi bị mửa quan trọng trong 4 tháng đầu của thai nghén, tôi đã được nhập viện và theo dõi sát, nhưng tôi đã chưa từng làm việc, vậy tôi đã không tiếp xúc những produit d’entretien professionnel. Centre Artémis cũng đã quan tâm về môi trường của chúng tôi : chúng tôi sống không xa lắm một chỗ đổ rác ở vùng quê (có thể tiếp xúc với những thuốc trừ sâu). Mặc dầu bị cấm, người láng giềng của chúng tôi vẫn đốt lửa, vì vậy lúc trời có gió, chúng tôi nhận những hạt nhỏ. Vào lúc này, người ta đã không mang lại cho chúng tôi lời giải thích khả dĩ về những dị dạng của con của chúng tôi. Tuy nhiên Centre Artémis đã khuyên chúng tôi khám trước khi dự kiến một thai nghén thứ hai và khám thầy thuốc lao động.
(LE FIGARO 5/11/2018)

4/ GIỮ Ở NHÀ TRẺ CÓ LỢI CHO EM BÉ
PEDIATRIE. Những trẻ em được giữ ở nhà trẻ, từ 0 đến 3 tuổi, có một sự phát triển tình cảm tốt hơn được giữ ở nhà, theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trên hơn 1400 trẻ em trong 8 năm. Chúng có ít những rối loạn hành vi như tình trạng tăng hoạt động (hyperactivité) hơn và thích giao du hơn. Tác dụng có lợi của nhà trẻ cao hơn tác dụng của garde partagée.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2018)

5/ KÍCH THÍCH TỦY SỐNG ĐỂ BƯỚC TRỞ LẠI
Một implant gởi những xung động điện đã cho phép 3 người bị bại liệt sử dụng lại 3 cẳng chân của họ.NEUROLOGIE. 3 bệnh nhân bị liệt hoàn toàn hai chân (paraplégie complète) (mất hoàn toàn vận động và cảm giác dưới thương tổn) do một thương tổn của tủy sống, đã có thể bước trở lại với một déambulateur, trong một cử động được kiểm soát bởi não bộ. Đó là tin vui được phổ biến bởi université de Louisville et de la Mayo Clinic de Rochester (Hoa Kỳ). Phương pháp : một implant, được đặt quanh màng cứng (en péridurale) ở mức thương tổn, gởi những xung động điện. ” Nó kích thích tủy sống nguyên vẹn dưới thương tổn để làm nó tiếp nhận hơn với thông tin, Claudia Angeli, nhà nghiên cứu của đại học Louisville đã giải thích như vậy. Được kích thích như vậy, phần tủy sống này nhận lệnh bước từ não bộ và kích hoạt nhưng cơ của các cẳng chân.”
Sau vài chục tuần (đến 85) kích thích và huấn luyện tích cực, phương pháp đã có hiệu quả, ngay cả 3 năm sau thương tổn. Trong số những hạn chế cần ghi nhận : không phải tất cả các bệnh nhân đều có thể bước trở lại (hai trên bốn ở Louisville), và hiệu quả có thể đảo ngược : nếu kích thích ngừng lại, bại liệt sẽ xuất hiện trở lại.
(SCENCES ET AVENIR 11/2018)

6/ CANNABIS ĐƯỢC CHẤP NHẬN Ở ANH TRONG MỤC ĐÍCH ĐIỀU TRỊ
Từ 1/11/2018, cannabis thérapeutique có thể được kê đơn một cách hợp pháp ở Anh. Tuy nhiên, chính phủ hạn chế nó vào những trường hợp lâm sàng mà những thuốc thông thường không thể làm thuyên giảm, nhưng không định rõ chỉ định chính xác. Chỉ một thầy thuốc chuyên khoa (thần kinh, nhi khoa…) mới có thể kê đơn những dược phẩm này.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2018)

7/ RỐI LOẠN CỦA SỰ CHÚ Ý : KÊ ĐƠN NHỮNG THUỐC KÍCH THÍCH
BS Eric Konofal, médecin au Centre pédiatrique des pathologies du sommeil, benh vien Robert-Debré, Paris, nói về TDAH (trouble déficitaire de l’attention avec hyperactivité)
Những rối loạn của sự chú ý, có hay không có tăng hoạt động (hyperactivité), được gọi là TDAH, rất phổ biến, hôm nay được hiểu rõ hơn.Hỏi : Những dấu hiệu nào khiến nghi ngờ TDAH ?
BS Eric Konofal. Một sự mất năng lực tập trung, duy trì một sự chú ý chọn lọc (attention sélective), được điều khiển và không giảm sút (do đó khó khăn trong học tập). Nó được liên kết với : 1. Một sự thôi thúc (impulsivité) không kiểm soát được, bằng lời, xúc cảm, được phát khởi bởi mọi biến cố bất ngờ hay câu nói bị hiểu sai. 2. Một sự tăng hoạt động (hyperactivité) (thuật ngữ xưa để chỉ rối loạn này), được biểu hiện bởi một sự kích động vận động (agitation motrice) quá mức trong tất cả những tình huống, làm mệt nhoài những người thân cận. Tuy vậy, những người bị bệnh có năng khiếu, ham biết, quá nhạy cảm, rất thích giao du và rất lịch sự.
Hỏi : Tần số của rối loạn này ở Pháp ?
BS Eric Konofal. Rối loạn này xảy ra ở 3,5 đến 5% các trẻ em, 2,5 % những người lớn, 5 đến 7% những sinh viên, ở hai giới tính, mặc dầu ở con gái những triệu chứng ít rõ ràng hơn trong thời thơ ấu. Ở tuổi trưởng thành, những dấu hiệu hơi giảm bớt (nhất là sự tăng hoạt động)
Hỏi : Bệnh này có di truyền không ? Làm sao giải thích điều đó ?BS Eric Konofal. Rối loạn này được thừa hưởng từ cha mẹ (ít nhất một trong hai người). Rối loạn là do sự hoạt động kém của các chất dẫn truyền thần kinh như dopamine, noradrénaline, nhưng cũng orexine (chef d’orchestre de l’éveil), một chất được sinh ra bởi hypothalamus. Nồng độ orexine bị sụt giảm trong narcolepsie (chứng rủ ngủ), bệnh thần kinh hiếm, gây những cơn buon ngủ đột ngột. Không có những cơn rủ ngủ như vậy trong TDAH nhưng có một rối loạn của sự thức tỉnh (trouble de l’éveil), do đó thiếu chăm chú theo dõi và kiểm soát (không chú ý và sự thôi thúc) : một đứa bé không nghe câu hỏi được đặt ra, bị bắt quả tang bởi một biến cố bởi vì đứa trẻ “đảng trí”, sẽ trả lời và hành động khẩn cấp và một cách không thích ứng. Hoạt động quá mức tương ứng với một cuộc chiến đấu vô thức chống lại một sự buồn ngủ. Café, Coca, nicotine và cho những thuốc kích thích làm thuyên giảm những người bị TDAH. Những neuroleptique và những thuốc an thần, được kê đơn lầm nhằm chống lại tình trạng tăng hoạt động, lai có hại cho chúng.
Hỏi : Ảnh hưởng của rối loạn này trong cuộc sống hàng ngày ?
BS Eric Konofal. Ảnh hưởng là quan trọng : xã hội, gia đình, học đường và nghề nghiệp. Không điều trị, nhưng thất bại học đường thường gặp. Cũng như một sự đặt ra ngoài lề xã hội của người thiếu niên, một tật hay vắng mặt lúc làm việc và, do lơ đãng, những tai nạn gia đình hay trên công lộ.
Hỏi : Điều trị có đúng là được xác lập không ?
BS Eric Konofal. Một công trình nghiên cứu quốc tế và được thực hiện trên hơn 11.018 trẻ em và 5362 người trưởng thành, đã xác nhận rằng những thuốc hiệu quả nhất là amphétamine, méthylphénidate (Rilatine) và atomoxétine. Hai loại thuốc đầu là những chất kích thích được kê đơn khắp nơi ở châu Âu và ở Hoa Kỳ và bình thường hóa những bệnh nhân. Ở Pháp, amphétamines bị giới hữu trách cấm để điều trị TDAH. Chỉ méthylphénidate (Rilatine), dành cho các trẻ em có triệu chứng, là được cho phép.
Hỏi : Còn đối với những người lớn ?
BS Eric Konofal. Họ không có quyền và điều trị không được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tế ! Vì thế càng ngày càng ít người sử dụng. Đó là một sự kiện duy nhất trong thần kinh học hay trong tâm thần học : một rối loạn mãn tính, được công nhận ngay thời thơ ấu, lại không được công nhận ở tuổi trưởng thành. Chúng ta là một ngoại lệ ở châu Âu. Và ở Pháp, chỉ 30.000 trẻ em ở lứa tuổi học đường nhận một điều trị, hoặc 0,3% của toàn thể những người bị bệnh trong đất nước của chúng ta. Đó là điều không thể chấp nhận được !
(PARIS MATCH 31/10-7/11/2018)
Đọc thêm : TSYH số 434

8. SPONDYLOARTHRITE : NHỮNG DẤU HIỆU,TIẾN TRIỂN, ĐIỀU TRỊ
GS Bruno Fautrel, trưởng khoa rhumatologie của bệnh viện Pitié-Salpetrière, Sorbonne université, Paris, mô tả cũng như điều trị bệnh spondyloarthrite, căn bệnh có chẩn đoán còn quá muộn và nghiêm trọng một trường hợp trên hai.
Hỏi : Ông hãy giải thích cho chúng tôi spondyloarthrite là gì ?
GS Bruno Fautrel. Đó là một tập hợp những bệnh phong thấp viêm mãn tính. 1. Những forme axiale (thương tổn ở đốt sống) ảnh hưởng cột sống và có thể làm cứng nó. 2. Những thể ngoại biên gây thương tổn các khớp (gối, mắt cá chân, bàn tay, bàn chân) và có thể làm biến dạng chúng. 3. Những thương tổn của mắt (uvéite), của ống tiêu hóa (những bệnh viêm của ruột), của da (psoriasis) cũng hiện hữu.
Hỏi : Tần số của spondyloarthrie ở Pháp ?
GS Bruno Fautrel. Khoảng 200.000 người bị liên hệ, hai giới tính ngang nhau, mặc dầu 90% những forme axiale nặng xảy ra ở đàn ông. Thường nhất đó là những người trẻ (16-50 tuổi). Một kháng nguyên (HLA-B27) tạo một thể địa thuận lợi cho căn bệnh : Nó hiện diện ở 8 đến 10% dân Pháp, nhưng chỉ một số nhỏ biểu hiện căn bệnh. Những yếu tố phát khởi được nhận diện rõ ràng là những nhiễm trùng vi khuẩn nguồn gốc tiêu hóa (salmonelles, shigelles…) hay niệu-sinh dục (chlamydia). Microbiote intestinal có thể đóng một vai trò chủ yếu.
Hỏi : Nó gây nên những loại đau nào ?
GS Bruno Fautrel. Đau phong thấp (douleur rhumatologique) có những đặc điểm chung : chúng đánh thức bệnh nhân vào ban đêm, buộc thực hiện một khởi động (débrouillage) vào buổi sáng và được cải thiện vào buổi chiều và lúc gắng sức. 1. Khi thương tổn ở ngoại biên, khớp sưng và chẩn đoán dễ dàng. 2. Khi thương tổn ở đốt sống, biểu hiện đánh lừa hơn nhưng phân biệt với những đau lưng thông thường (lumbago, hư khớp cột sống, lún đốt sống, discopathie….), gây đau cơ học và không đau lúc nghỉ ngơi. Sự hiện diện thường gặp, trong những tiền sử cá nhân hay gia đình, của một thương tổn viêm không phải thấp khớp, mắt (uvéite), da (psoriasis) hay tiêu hóa (Crohn, rectocolite hémorragique), là rất gợi ý cho chẩn đoán. Xét nghiệm máu tìm kiếm những chất chỉ dấu của viêm và sự hiện diện của kháng nguyên HLA-B27. IRM của cột sống thắt lưng và của các khớp cùng-chậu (articulations sacro-iliaques) sẽ cho thấy những hình ảnh loại viêm, điển hình của bệnh.Hỏi : Bệnh tiến triển như thế nào ?
GS Bruno Fautrel. Bởi những đợt bộc phát với những giai đoạn thuyên giảm lâu hay mau. Nhìn toàn bộ, những biến chứng là hiếm. Ta sợ chủ yếu những thương tổn ngoại biên, trong đó quá trình viêm làm biến dạng và phá hủy khớp. Ở cột sống, viêm làm dễ sự tạo thành những cầu xương giữa các đốt sống, làm cứng cột sống. Loại ankylose này đã trở nên hiếm ở Pháp. Tuy nhiên, những thể nặng vẫn còn hiện hữu, gây khó hô hấp, gãy đốt sống và vẹo cột sống, đôi khi điều trị phải nhờ đến ngoại khoa.
Hỏi : Điều trị spondyloarthrite ?
GS Bruno Fautrel : Điều trị dựa trên những thuốc kháng viêm không phải steroide trong những đợt bộc phát. Nếu những đợt cấp tính vẫn tồn tại, buộc phải điều trị nền với những thuốc cũ và đáng tin cậy (méthotrexate) hay mới đây hơn (những kháng thể đơn dòng) chống lại những protéine viêm, nguyên nhân của bệnh (TNF, interleukine 17 hay 23) và được cho bằng đường tiêm dưới da. Kinésithérapie, hoạt động vật lý, những kỹ thuật trị đau không dùng thuốc là những bổ sung hữu ích. Trong hội nghị châu Âu tháng sáu năm 2018, những kết quả hiệu năng của những thuốc mới, bằng đường tiêm hay ngay cả bằng đường miệng, đã tỏ ra đầy hứa hẹn. Một điều trị được thực hiện đúng đắn ngăn cản đau, làm ngừng viêm và ngăn ngừa những biến chứng, do đó tầm quan trọng của một chẩn đoán sớm.
(PARIS MATCH 27/9-3/10/2018)

9. ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ ĐẦU TIÊN CHỐNG DOULEUR NEUROPATHIQUE.
Một loại thuốc có năng lực làm dịu tức thời tất cả những trường hợp douleur neuropathique chronique ? 7% những người Pháp mơ ước điều này, sau khi bị loại những thương tổn thần kinh ngoại biên này sau một căn bệnh, một chấn thương hay một phẫu thuật. Bởi vì không một điều trị nào thật sự làm thuyên giảm. Jean Valmier, thuộc institut de neurosciences de Montpellier, đã nghiên cứu cơ chế nguồn gốc của những loại đau này. Một cách chính xác hơn về một thụ thể của hệ thần kinh ngoại biên được gọi là FLT3 ; thụ thể này kiểm soát tất cả những cơ chế kinh diễn hóa (chronisation) của những douleur neuropathique.” Thật ấn tượng, chỉ cần phong bế để hủy đau tức thời “, nhà nghiên cứu đã lấy làm vui sướng. Vấn đề là phải phân lập, trong số 50.000 phân tử, phân tử ngăn cản sự nối kết giữa ligand (yếu tố khởi động của thụ thể phát xuất từ hệ miễn dịch) và FLT3. Được trắc nghiệm trên chuột, phân tử này sinh ra một tác dụng chống đau, không làm rối loạn hệ thần kinh ngoại biên. Một thành công khiến startup Biodol Therapeutics hy vọng trắc nghiệm trên người vào giữa năm 2019.
(SCIENCES ET VIE 6/2018).
Đọc thêm : TSYH số 449 bài số 9

10. TIÊN ĐOÁN SÁU GIỜ TRƯỚC KHI CHẾT
Lần đầu tiên, một trí thông minh nhân tạo (intelligence artificille) (IE) có năng lực dự kiến cái chết của một bệnh nhân ở khoa hồi sức (ICU) đã được cho phép ở Hoa Kỳ. Được phát triển bởi công ty Canada Excel Medical, algorithme Wave Clinic Platform được đưa vào một système de monitorage để phân tích en temps réel những tham số sinh tồn (constantes vitales) (mạch, tần số hô hấp…). Theo những thử nghiệm lâm sàng, được thực hiện ở đại học Pittsburg de Pensylvanie (Hoa Kỳ), nó cho phép báo động nhưng kíp điều trị đến 6 giờ trước khi xảy ra sự suy sụp đột ngột của tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. ” Sự tiên đoán nhờ trí thông minh nhân tạo những biến cố như hạ đột ngột huyết áp là một phương pháp rất hứa hẹn đối với những bệnh nhân trong tình trạng nguy kịch “, GS Romain Pirracchio, trưởng khoa hồi sức Bệnh viện châu âu Georges-Pompidou ở Paris và là chuyên gia về biostatique, đã giải thích như vậy. Với sự hoàn thiện những kỹ thuật theo dõi, ” chúng tôi tiếp cận một luồng thông tin tiêu chuẩn hóa ngày càng quan trọng và tiến triển không ngừng. Hôm nay, monitoring làm xuất hiện một số đo mỗi milliseconde ! Ngay cả thầy thuốc thông minh nhất không có năng lực hội nhập điều đó vào lý luận lâm sàng của mình. Chỉ một algorithme mới có thể làm được điều đó.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(27/11/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 489 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 491 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s