Thời sự y học số 488 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ ALZHEIMER : ĐIỀU TRỊ CÓ Ý THỨC VA ĐÚNG LÚC
Biết rõ hơn căn bệnh cho phép hy vọng những tiến bộ trong điều trị.NEUROLOGIE. Bệnh Alzheimer gây bệnh cho khoảng 900.000 người ở Pháp. Bệnh được biểu hiện bởi những trouble cognitif và những rối loạn của trí nhớ, càng ngày càng trầm trọng, và bởi những lắng đọng bất thường trong não của peptide beta-amyloide, chung quanh những tế bào não và những fibrille de protéine tau trong những neurone này, cuối cùng bị chết. Mặc dầu không có điều trị chữa lành và mặc dầu những kết quả gây thất vọng của nhiều thử nghiệm, sự thấu hiểu tốt hơn căn bệnh mở ra những triển vọng.Từ lâu, ta đã xem sự hiện diện của những thương tổn bêta-amyloide trong não như là dấu hiệu của một bệnh Alzheimer, mặc dầu những thương tổn này có thể xuất hiện nhiều thập niên trước khi xuất hiện những triệu chứng của bệnh. Đối với vài người, thời kỳ “im lặng” này là một giai đoạn tiến triển tiền lâm sàng của bệnh. Vì vậy họ cho rằng phải điều trị tất cả những người mang thương tổn này để làm chậm sự xuất hiện về sau của những triệu chứng. ” Những kết quả của chúng tôi khiến chúng tôi nghĩ rằng đại đa số những người có những lắng đọng amyloide này thiết đặt những cơ chế bù não (mécanisme de compensation cérébrale). Cơ chế này duy trì trong nhiều năm sự hoạt động bình thường của não”, GS Bruno Dubois, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh, hôpital Pitié-Salpêtrière, Paris, đã giải thích như vậy. ” Điều này làm chúng tôi nói rằng những người này không bị bệnh, mặc dầu phải xem họ là có nguy cơ, phải theo dõi họ và thiết đặt những công cụ phòng ngừa. Chỉ một số nhỏ những người này sẽ tiến triển thành bệnh và chính những người có nguy cơ tiến triển rất cao này mà phải nhận diện và điều trị.”
Phân tích này chủ yếu dựa trên những kết quả mới nhất của công trình IN-SIGHT-preAD, được phát động năm 2013 bởi équipe của GS Dubois với sự tham dự của 318 người, tuổi trung bình 76 tuổi. Những người này bị những vấn đề về trí nhớ nhưng không có déficit mnésique hay cognitif avéré.Tất cả được đánh giá một cách định kỳ bởi một loạt những trắc nghiệm thần kinh, lâm sàng, psychocognitif, di truyền, chụp hình ảnh thần kinh (neuro-imagerie)..Trong số những người này, 88 (28%), lúc đầu của công trình nghiên cứu có những dépôt de bêta-amyloide trong não, 72% không có. Sự đánh giá tau đòi hỏi chọc dò tủy sống và đã không thể được thực hiện ở tất cả.
Sau 4 năm, trên 88 người mang những thương tổn bêta-amyloide, hôm nay tuổi trung bình 80, chỉ sáu đã tiến triển thành một bệnh Alzheimer, không người nào trong nhóm không có thương tổn bêta-amyloide. ” Chúng tôi đã ngạc nhiên vì thấy rằng ngoài 6 trường hợp này, những người mang hay không mang những thương tổn beta-amyloide vẫn giống nhau trong tất cả các lãnh vực, điều này muốn nói rằng sự hiện diện của những thương tổn bêta-amyloide không có ảnh hưởng chức năng ở họ “, thầy thuốc thần kinh đã nhấn mạnh như vậy. ” Nhờ những điện não đồ có mật độ cao, chúng tôi đã chứng thực rằng hoạt động của vài sóng điện não gia tăng trong vùng trán ở những người có những dépôt bêta-amyloide, trong khi nó vẫn giống hệt ở những người khác. Điều này phù hợp với một sự tái tổ chức của hoạt động điện của não, cho phép ở những người có những thương tổn beta-amyloide duy trì một hoạt động não bình thường.” Sự bù tiền lâm sàng này nhờ đến những mạng neurone tạo réserve cognitive. Dự trữ này được tạo rất sớm trong sự phát triển cognition và apprentissage. ” Ngược lại, những lý lẽ tán trợ cho những phương phát stimulation cognitive của tính dẻo của neurone bị hạn chế.”
6 người, đã tiến triển thành bệnh Alzheimer, là già hơn, mang biến thể di truyền được biết như là yếu tố nguy cơ (ApoE4), có vào lúc đầu của công trình nghiên cứu nhiều thương tổn beta-amyloide hơn và một thể tích của hippocampe (vùng não quan trọng đối với trí nhớ) nhỏ hơn, có lẽ gợi ý đã có một thương tổn thực thể.
Công trình nghiên cứu này, cũng như những công trình nghiên cứu khác nhất là cho thấy rằng tiến triển thành bệnh Alzheimer là một biến cố khá hiếm đối với số những người có những vấn đề trí nhớ. Nhưng những cơ chế vẫn còn không được biết rõ. Công trình nghiên cứu Insight preAD sẽ được kéo dài hơn 5 năm dự kiến.
Ta bắt đầu hiểu rõ hơn dynamique in vivo của những thương tổn não. ” Trong não người xảy ra một dégénérescence neurofibrillaire liên kết với tuổi tác trong vùng thái dương trong (hippocampe và cortex entothinal). Nhưng trong khi chất amyloide được tạo thành trong não được dọn sạch liên tục, thì đột ngột, ở vài người, chất này sẽ tạo những lắng đọng (dépôts) trong vỏ não “, GS Bruno Dubois, đã chỉ như vậy. ” Những lắng đọng này gây sự lan tràn của dégénérescence neurofibrillaire tau vượt quá những cấu trúc thái dương. Vậy phải can thiệp ở những người “progresseur” này, vào lúc hai loại thương tổn hiện diện, chứng thực bệnh, nhưng trước khi xuất hiện những triệu chứng.”
(LE FIGARO 29/10/2018)
Đọc thêm : TSYH số 321, 337, 377, 393, 445

2/ HƯỚNG VỀ NHỮNG BIOMARQUEURS
Sự hiệu chính những công cụ sinh học để phát hiện sự hiện diện của peptide bêta-amyloide và của protéine tau trong dịch não tủy đã cải thiện nhiều chẩn đoán của bệnh Alzheimer. Tuy vậy trọng tâm vẫn là đánh giá lâm sàng. Tuy nhiên, những thăm dò này chỉ có thể được thực hiện ở những trung tâm rất chuyên môn.
Từ vài năm nay, sự nghiên cứu được hướng về sự nhận diện những biomarqueur có thể tiếp cận hơn, đặc biệt trong máu. Vì lẽ rằng những cơ chế của bệnh Alzheimer không phải tóm lược trong sự xuất hiện của những dépôt de bêta-amyloides và de protéine tau. ” Hôm nay chúng ta biết rằng những quá trình liên hệ là đa dạng hơn nhiều và mang lại cơ hội nhận diện những biomarqueur thông tin về giai đoạn và tiến triển của bệnh, đặc biệt trong những giai đoạn sớm của nó “, GS Harald Hampel, thầy thuốc thần kinh (bệnh viện la Pitié-Salpêtrière), điều khiển một nhóm nghiên cứu quốc tế, Alzheimer Precision Medicine Initiative (APMI), đã giải thích như vậy. Với sự khó khăn rằng một phương pháp được hiệu chính trong một phòng thí nghiệm nghiên cứu khó có thể tạo lại bởi một phong thí nghiệm khác. Vậy phải điều hoà, tiêu chuẩn hóa những protocole, điều này đòi hỏi một công tác chung giữa những nhà nghiên cứu, những entreprisie de biotechnologie, de pharmacogie và autorités de régulation.
” MỘT CÁI NHÌN RẤT CHẮC CHẮN VỀ BỆNH ”
Trên gần 200 biomarqueurs máu được nhận diện, 4 được chú ý hơn. Chúng đã được chuẩn nhận theo những thủ thuật tiêu chuẩn hóa và có thể được sử dụng khá nhanh. ” Sự tìm kiếm những biomarqueur sớm của bệnh, có thể nhận diện trong máu, dễ hơn những định lượng hiện nay trong dịch não tủy và những kỹ thuật chụp hình ảnh, sẽ có thể thực hiện ngoài những trung tâm rất chuyên khoa, vậy cũng trong những nước kém phát triển hơn, và có thể tự động. Nó cho phép làm an lòng những người không bị bệnh và chỉ chuyển đến những trung tâm chuyên môn những người thật sự có nguy cơ tiến triển “, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.
4 biomarqueur plasmatique này là : tỷ số của hai peptide amyloide được sản sinh trong quá trình tạo thành những plaque amyloide, A beta1-40/A beta1-42 ; protéine tau ; NFL (neurofilaments light chain protein) ; BACE1 (beta-secretase1), một enzyme mà nồng độ chỉ một sự tiến triển của bệnh.
” Góp chung, 4 biomarqueur này cho một cái nhìn rất ăn chắc chắn về căn bệnh, cho phép loại bỏ những bệnh nhân bị mất trí nhớ nhưng không phải bệnh Alzheimer để tập trung vào những bệnh khác. Tính chất tăng nhanh của protéine tau và, trong một chừng mực ít hơn, của NFL và BACE1, cũng là chỉ dấu về tốc độ tiến triển của bệnh, GS Hampel đã giải thích như vậy. Từ nay cũng phải xét đến những khác nhau rất rõ rệt của biểu hiện và tiến triển của bệnh tùy theo giới tính của các bệnh nhân. ”
(LE FIGARO 29/10/2018)

3/ CHỤP HÌNH ẢNH
Nếu có một lãnh vực đã hưởng nhiều những tiến bộ của chụp hình ảnh, thì đó là lãnh vực của bệnh Alzheimer. ” Những chụp hình ảnh chỉ là một tiêu chuẩn chẩn đoán trong số những tiêu chuẩn khác. Chính thầy thuốc thần kinh đưa những kết quả của mình vào toàn thể những yếu tố khác mà ông ta có để thiết đặt chẩn đoán “, GS Franck Semah (service de médecine nucléaire, CHU de Lille), đã nhấn mạnh như vậy. Vả lại, vị trí của nó được xác định rõ trong chẩn đoán bệnh Alzheimer, thầy thuốc đã nhắc lại như vậy.” Tất cả các bệnh nhân phải có một thăm dò IRM trong khi thực hiện bilan ban đầu, hay trong trường hợp chống chỉ định, một scanner. IRM cho phép thấy những bất thường cấu trúc, đặc biệt một teo não toàn bộ hay khu trú ở những vùng chủ chốt như hippocampe.”
NHỜ ĐẾN TOMOGRAPHIE.
Trong những trường hợp khó, nếu chẩn đoán không được xác lập bằng sự đối chiếu IRM với những kết quả lâm sàng, tâm thần kinh, sinh học và nếu cần tìm peptide beta-amyloide và protéine tau trong dịch não tủy, ta có thể thực hiện một scintigraphie hay tốt hơn, từ 15 năm nay, một tomographie par émission de positons, TEP-FDG, sử dụng một traceur radioactif au glucose để đo chuyển hóa neurone. ” Nó cho phép thấy, trong những vùng nào của não, những neurone mất chức năng. Sự loạn năng này tương quan rất đúng đắn với những triệu chứng của bệnh và với định vị của những rối loạn được xác lập bởi những thăm khám tâm thần kinh, chuyên gia đã giải thích như vậy. Đó cũng là một marqueur tốt về hoạt động của synapse, của những mảng neurone bị thương tổn và của sự chết neurone.”
Những phương thức khác của TEP, như TEP-amyloide cho phép đánh giá in vivo charge của protéine bất thường này, thành phần của plaques, nhưng ta cũng tìm thấy trong những bệnh khác. Cũng có TEP-tau, dường như đặc hiệu cho bệnh Alzheimer hơn. Mặc dầu nhanh hơn, tiện lợi hơn IRM, tuy vậy TEP vẫn bị hạn chế bởi số máy có sẵn để sử dụng (160 máy cho cả nước Pháp), và bởi ít chuyên gia được đào tạo médecine nucléaire.
(LE FIGARO 29/10/2018)

4/ TẠI SAO KHÔNG CÓ VIAGRA CHO CÁC PHỤ NỮ ?
Từ hơn một năm nay, một viên thuốc, dĩ nhiên hồng !, đã có để sử dụng ở Hoa Kỳ nhằm kích thích dục tính phụ nữ. Một Viagra cho các phụ nữ ? Không hề như vậy. Được cấu tạo bởi flibansérine (một thuốc hướng thần), Addyi (đó là tên của nó) là một thuốc dành cho 10 đến 25% những phụ nữ ; những người này cho biết không còn muốn làm tình nữa từ một thời gian nào đó. Vậy đó là một điều trị nền (traitement de fond), phải dùng hàng ngày trong nhiều tháng trước khi cảm thấy những tác dụng. Không liên quan với Viagra. Thuốc này, nửa giờ sau khi sử dụng, tác dụng trực tiếp lên sự kích thích nhục dục của những người đàn ông qua biểu hiện vật lý chính (cương)
Như thế Addyi nhằm kích thích hóa học của sự ham muốn xác thịt ở phụ nữ hơn là mécanique của sự ham muốn này. Do đó, tác dụng dược lý của nó xảy ra trước lúc kích thích. Như thế nào ? Bằng cách làm giảm trong não nồng độ sérotonine. Lúc đầu, Addyi được sử dụng để điều trị chống trầm cảm, qua tác dụng ức chế của nó lên hai thụ thể của sérotonine, chất dẫn truyền thần kinh liên quan trong sự điều hòa lo âu và khí chất. Được đánh giá không có hiệu quả chống lại chứng trầm cảm, tuy nhiên nó đã để lộ một tác dụng phụ bất ngờ : dục tính tăng lên lại ở một số những người tham gia những trắc nghiệm
DỤC TÍNH (LIBIDO) VẪN KHÔNG ĐƯỢC HIỂU RÕ.
Giới hữu trách y tế Hoa Kỳ cuối cùng đã chấp thuận thương mãi hóa Addyi, không phải là không dè dặt. Khuyết điểm không những ở những tác dụng phụ của flibansérine (đặc biệt hạ huyết áp có thể gây bất tỉnh trong trường hợp uống rượu), mà còn ở tính kém hiệu quả của nó. Bởi vì, trong hồ sơ được chuẩn nhận bởi giới hữu trách Hoa Kỳ, mặc dầu phòng bào chế báo cáo một sự nhân gấp hai số những “giao hợp thỏa mãn”, trung bình chuyển từ 2,5 lên 5 mỗi tháng, nhưng trong chi tiết, đó chỉ hơi tốt hơn placebo…Chưa kể rằng điều đó không nói nhiều đến sự ham muốn nhục dục được cảm thấy.
Phải nói rằng, “pilule du désir féminin” hay không, những động lực tâm thần của ham muốn nhục dục vẫn luôn luôn không được hiểu nhiều. Marie-Hélène Colson, giám đốc giảng dạy tình dục học ở đại học y khoa Marseille đã tom tắt như sau ” Sự ham muốn nhục dục là một kết cấu tế nhị, được thiết lập một cách thường trực giữa những cơ chế ức chế và làm dễ, và những cơ chế này ở phụ nữ vô cùng phức tạp so với đàn ông”.
Như thế, rất nhiều yếu tố tâm lý can thiệp. Những kinh nghiệm trước đây, tình cảm yêu đương và những yếu tố khác phải được xét đến để thông hiểu dục tính của phụ nữ. Nhất là có hormone. Ở đàn ông, một kích thích tố duy nhất, testostérone, hormone này gần như tràn ngập tất cả phần còn lại, trong khi ở phụ nữ, chính nhiều hormone và những chất dẫn truyền thần kinh kiểm soát sự ham muốn nhục dục, trong đó có ocytocine, kích thích tố của sự trìu mến và của sự quyến luyến.
Do đó ta hiểu tính hiệu quả rất khiêm tốn của Addyi, và thách thức khi hiệu chính một “Viagra des femmes”. Dầu vậy nhiều phòng bào chế hiện ra sức nghiên cứu và nhiều phụ nữ nói sẵn sàng mua một loại thuốc nhằm ” gia tăng chất lượng của nhưng giao hợp”.
(SCIENCE & VIE. QUESTIONS-REPONSES. TRIMESTRE MARS-AVRIL-MAI 2018)

5/ STRESS : SAVOIR FAIRE FACE
Stress là một bộ phận của cuộc sống của chúng ta, đôi khi nó có thể xâm chiếm chúng ta và đe dọa sức khỏe vật lý và tâm thần của chúng ta. Tuy nhiên có nhiều công cụ để làm chủ nó.
STRESS DÙNG ĐỂ LÀM GÌ ?
” Stress là một su cang thang của cơ thể đứng trước một nguy hiểm hay một biến cố đòi hỏi một cố gắng thích ứng “, bác sĩ François Bourgognon, thầy thuốc tâm thần ở Nancy, tác giả của ” Ne laissez pas votre vie se terminer avant même de l’avoir commencée”, đã giải thích như vậy. Một kỳ thi, một phát biểu trước công chúng, sự gặp gỡ một người không quen biết trong một con đường nhỏ u tối…nhưng cũng sự sinh ra đời của một em bé hay một cuộc đi du lịch. Bấy nhiêu những biến cố sẽ sinh ra một stress. Những giác quan của chúng ta được mài nhọn : các đồng tử giãn ra để thấy tốt hơn, tim gia tốc để gởi máu đến các cơ và não, hô hấp gia tăng để mang lại một oxygénation tốt hơn..Chính stress đã cho phép tiền nhân của chúng ta sống sót trong một môi trường thù địch và thoát những vật ăn mồi (prédateur). Nhưng khi stress quá mức, lập lại hay thường xuyên, cuối cùng nó làm cạn kiệt những khả năng của cơ thể, làm suy kiệt nó. Chính khi đó nó trở nên nguy hiểm đối với sức khỏe tâm thần và vật lý.
” Giữa 30 và 40% những người Pháp nhận thức mình ở trong một tình huống stress tràn ngập. Thế mà điều đó nhân gấp 2 hay 3 nguy cơ phát triển một vấn đề lo âu hay trầm cảm “, bác sĩ Dominique Servant, thầy thuốc tâm thần, phụ trách đơn vị chuyên về stress và lo âu của CHRU de Lille đã cảnh giác như vậy. Tác dụng âm tính của stress lên những bệnh tim mạch hôm nay cũng được chứng minh : stress có thể nguy hiểm cho tim như hút 5 điếu thuốc là mỗi ngày, theo kết quả của một công trình nghiên cứu được công bố năm 2012 trong The American Journal of Cardiology. Một công trình nghiên cứu khác, được công bố năm 2008 trong The New England Journal of Medicine, đã cho thấy rằng tỷ lệ nhồi máu cơ tim của các khán giả Đức, nhân coupe du monde ở Đức năm 2006, được nhân gấp 3 vào những chiều thi đấu của kíp quốc gia ! Với một kỷ lục luc Đức thắng Argentine, trong vòng tứ kết, sau một séance de tirs au but.
LÀM SAO PHÁT HIỆN NÓ ?
Tim lồng lên, các bàn tay xâm xấp, hô hấp tăng nhanh, run…ai đã không từng cảm thấy những dấu hiệu này ? Phản ứng tức thời với một biến cố làm chúng ta xáo trộn, não của chúng ta rung chuông báo động và kích hoạt “trục của stress” (axe de stress). Các tuyến thượng thận khi đó tiết những chất đặc hiệu, adrénaline và noradrénaline, để đặt cơ thể trong tình trạng báo động, gây những tín hiệu cơ thể được biết rõ. Một khi thử thách đã qua đi, một hệ thống kềm hãm được thiết đặt và tất cả trở lại bình thường. Nhưng nếu stress kéo dài hơn một giờ, chinh giai đoạn đề kháng (phase de résistance) được phát khởi : những kích thích tố mới, glucocorticoides, được tiết ra. Chúng gia tăng nồng độ đường trong máu để mang lại năng lượng cần thiết cho các cơ, cho tim và cho não và duy trì ở đó một mức glucose hằng định. Giai đoạn này có thể kéo dài nhiều ngày đến nhiều tuần. Ngay khi nguyên nhân biến mất, tất cả trở lại bình thường. Nhưng khi nó kéo dài quá lâu, hay khi một biển cố gây chấn thương (événement traumatisant) xuất hiện, bộ máy có thể lồng lên, stress trở nên mãn tính và làm có thể suy kiệt.
NHỮNG DẤU HIỆU PHẢI BÁO ĐỘNG LÀ GÌ ?
” Trong một thì đầu, những tín hiệu báo động nhỏ không đặc hiệu lắm”, BS Dominique Servant đã giải thích như vậy. Tuy vậy đó là những tín hiệu phải biết phát hiện để làm ngừng spirale infernale trước khi quá muộn. Những tín hiệu này, không được coi thường, xuất hiện trong vài tuần. Chúng cũng có thể là vật lý : với sự xuất hiện của đau như colique, đau đầu, đau cơ, khớp…những rối loạn giấc ngủ, cảm giác ăn ngon và tiêu hóa, những cảm giác khó thở hay tức thở, và mồ hôi bất thường…Những tín hiệu cũng có thể là xúc cảm với một sensibilité và nervosité gia tăng, những crise de larmes, những con lo âu, kích động, buồn bã ; hay trí tuệ với một sự rối loạn tập trung dẫn đến những sai lầm và quên, những khó khăn có sáng kiến hay quyết định.. Để chịu đựng được, khi đó ta sẽ tiêu thụ rượu, thuốc lá, những thuốc giải ưu”, François Bourgognon, thầy thuốc tâm thần, bệnh viện Nancy, đã giải thích như vậy.
LÀM SAO ĐIỀU TRỊ NÓ ?
” Ở Pháp chúng ta rất chậm trễ trong vấn đề điều trị. Không có điều trị đối với những người bắt đầu bị tràn ngập bởi stress. Chúng tôi cho rằng phải hành động ở nguồn. Khi ta có thể làm được điều đó thì càng tốt, nhưng không phải luôn luôn có thể hay không đủ “, Dominique Servant đã xác nhận như vậy. Đối với chuyên gia, điều trị stress không nhất thiết cần một can thiệp bên ngoài. Có thể điều trị chính mình mà không cần thuốc, nhờ điều mà ta gọi là “kit antistress”. Mọi người có thể sử dụng phương pháp thích hợp với mình trong một “boite à outils” của những kỹ thuật khác nhau. ” Những kỹ thuật có thể để dùng tức thời là những bài tập hô hấp và những bài tập cohérence cardiaque”, thầy thuốc tâm thần đã giải thích như vậy. Cohérence cardiaque dựa trên những bài tập hô hấp để làm chậm lại nhịp tim, có khuynh hướng lồng lên khi có sự rối loạn cảm xúc. Làm sao có được điều đó ? Bằng một hô hấp chậm, sâu, đều (6 hơi thở mỗi phút với 4 giây đối với thở vào và 6 giây đối với thở ra).
Kỹ thuật hiệu quả khác, visualisation. Một cách rất đơn giản, kỹ thuật này tập trung vào những hình ảnh, những nơi chốn hay những biến cố và nhận thực sự cảm xúc đi kèm chúng. Kỹ thuật này cho phép phát khởi những cảm giác dễ chịu và gây nên hay tăng cường một trạng thái thư giãn (état de relaxation). Nó cũng có thể được sử dụng để, trong tưởng tượng, chịu những tình huống mà ta sợ và tạo một hiện tượng mà ta gọi là “habituation”.Méditation en pleine conscience cũng đã chứng tỏ có hiệu quả. Một công trình nghiên cứu, được công bố bởi Psychiatry research năm 2016 đã cho thấy rằng một sự giảm của cytokine viêm, chỉ dấu của stress, ở những người thiền định.
LÀM SAO PHÒNG NGỪA NÓ ?
Vì lẽ stress mãn tính làm khó cơ thể chúng ta, vậy tốt nhất là gia tăng những phương tiện để làm giảm mức độ cua stress. Trước hết, khẩn cấp học cách déconnecter. ” Với những vật được kết nối (objets connectés), chúng ta trong tình trạng báo động thường trực. Chúng ngăn cản những lúc phục hồi cần thiết để giữ cơ thể có sức khoẻ tốt “, Dominique Servant đã nhắc lại như vậy. Vậy phải biết tắt điện thoại cầm tay của mình và quên những écran nhiều giờ mỗi ngày. Thời gian giành được này sẽ có thể được tận dụng để chú ý đến mình. ” Trong xã hội của chúng ta, tất cả thúc chúng ta lơ đễnh chính mình. Vậy điều quan trọng là làm lại điều có ý nghĩa đối với chúng ta… Gọi một người bạn, học một ngoại ngữ, làm vườn…” Tất cả những điều không bao giờ khẩn cấp nhưng quan trọng”, François Bourgognon đã nói như vậy. Thể thao cũng là một vũ khí phòng ngừa tốt. Nhất là bởi vi hoạt động vật lý gia tăng sự thoải mái và chất lượng sống.
Và dĩ nhiên, tốt nhất là ngừng hút thuốc. Bởi vì trái với điều được xác nhận bởi nhiều môn đồ, thuốc lá không làm thư giãn. Nó chỉ làm dịu stress sinh lý liên kết với sự thiếu nicotine.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2018)

6/ TAKO-TSUBO, CĂN BỆNH CỦA TRÁI TIM ĐAU XÓT
Stress tình cảm như một tang chế hay một đoạn tình có thể gây những triệu chứng gần với nhồi máu cơ tim. Một công trình nghiên cứu rộng rãi được công bố trong The New England Journal ở Medicine, đã xác nhận điều đó. Tako-Tsubo nghĩa là cái bẫy tuộc (piège à pieuvres) vì lẽ có hình dáng buồng tim (ventricule), cũng được gọi là cardiomyopathie, là một bệnh của cơ tim, được mô tả lần đầu tiên ở Nhật Bản trong những năm 1990. Dưới tác dụng của một stress quan trọng, một lượng lớn adrénaline được phóng thích trong máu, có thể ” làm tim chết ngất ”
(SCIENCES ET AVENIR 4/2018)

7/ ĐỪNG SỬ DỤNG BENZODIAZEPINE
Những người Pháp, sau Tây Ban Nha, nằm trong số hai đối tượng tiêu thụ benzodiazépines lớn nhất. Benzodiazépines là những thuốc được kê đơn để điều trị lo âu và mất ngủ. Gần 13,4% dân chúng đã tiêu thụ năm 2015 ít nhất một lần một viên benzodiazépine, theo những dữ kiện mới nhất của Agence nationale de sécurité du médicament et des produits de santé. Cơ quan này nhắc lại rằng, dầu tuổi tác là gì, những thuốc này mang lại một nguy cơ lạm dụng và phụ thuộc với một hội chứng cai lúc ngừng thuốc. Mặt khác, những benzodiazépines có thể dẫn đến sự phát triển những bệnh thoái hóa thần kinh và liên quan nhất trong “soumission chimique” (nhằm bắt làm điều gì đó không được sự đồng ý của nạn nhân, thí dụ rapports sexuels).” Sự kê đơn benzodiazépines cần phải tránh khi có thể. Nhưng, được cho trong vài trường hợp nhất định, khi mức lo âu quá quan trọng “, Dominique Servant, trưởng unité chuyên về stress và lo âu của CHRU de Lille, đã nói như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2018)

8/ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA STRESS POST-TRAUMATIQUE
Professeur Thierry Baubet, phụ trách cellule d’urgences médico-psychologique du 93, hôpital Avicenne, Bobigny (Seine-Saint-Denis).Hỏi : Người ta nói gì khi gợi lên một stress post-traumatique ?
Professeur Thierry Baubet : Đó là một bệnh có thể được phát khởi sau một tiếp xúc với một biến cố tiềm năng traumatique.
4 dimension, phải hiện diện từ hơn 1 tháng, là đặc điểm của rối loạn này.
1. Syndrome de répétition traumatique hay syndrome de reviviscence
(hội chứng hồi lại)
2. L’évitement (tránh)
3. L’hypervigilance (tăng cảnh giác)
4. Những biến đổi của khí chất và những rối loạn nhận thức (cognition), nhất là với những xúc cảm âm tính như cảm giác phạm tội hay xấu hổ.
Hỏi : Những người chịu nguy cơ này là những người nào ?
Professeur Thierry Baubet : Để phát triển một stress posttraumatique, phải đụng chạm với sự chết chóc, một vết thương nặng hay những cưỡng hiếp.Ngoài những người và những nhân chứng liên quan với biến cố, những người khác có thể bị chấn thương. Đó là trường hợp những gia đình của những người chịu loại biến có này, thí dụ những gia đình của những nạn nhân bị mưu sát hay những người, trong bối cảnh của việc làm, gặp phải những sự kiện hay những câu chuyện làm phải chịu đựng, như những người cảnh sát điều tra
pédopornographie. Stress posttraumatique cũng xảy ra ở trẻ em. Một hiện tượng thường bị đánh giá thấp bởi cha mẹ và những professionnel. Thế mà ở trẻ em, những hậu quả của nó lại còn nghiêm trọng hơn ở người lớn, bởi vì điều đó sẽ cản trở sự phát triển của nó.
Hỏi : Sự thiết đặt những cellules psychologiques có cho phép phòng ngừa điều đó không ?
Professeur Thierry Baubet : Vào lúc này, chúng ta không có kết quả của những công trình nghiên cứu về chủ đề này. Những kinh nghiệm cho chúng tôi thấy rằng những intervention psychothérapique, được thực hiện tốt trong tháng đầu, có thể ngăn ngừa một tiến triển không thuận lợi. Chúng cho phép điều trị những người cần những săn sóc tức thời và thông tin những người khác về những dấu hiệu khiến phải đi khám bệnh.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2018)
Đọc thêm : TSYH số 457. Bài số 1, 2, 3

9/ Ở PHI TRƯỜNG, SỰ KIỂM TRA HÀNH LÝ KHÔNG LỌC CÁC VI KHUẨN !Theo những nhà nghiên cứu Phần Lan, những bac en plastique, được sử dụng để đặt những vật dụng cá nhân khi kiểm soát an ninh ở phi trường, tạo bề mặt bị ô nhiễm nhất bởi các virus hô hấp. Thật vậy, 50% những prélèvment mà họ đã thực hiện vào tháng hai 2016 ở phi trường Helsinki, chứa ít nhất một virus hô hấp (cảm lạnh, cúm…). Để tránh sự truyền virus gây bệnh, các nhà nghiên cứu khuyến nghị các hành khách rửa tay trước và sau khi đã sờ mó những bac này, và khuyến nghị giới hữu trách phi trường khử trùng chúng đều đặn hơn (BMC Infectious Diseases, 8/2018).
(SCIENCE & VIE 11/3018)

10/ THÓI HOÃN LẠI NGÀY HÔM SAU ĐƯỢC THẤY TRONG NÃO
Các nhà nghiên cứu người Đức đã phân tích những đặc điểm của não của những người có khuynh hướng hoãn công việc của mình vào ngày hôm sau. Hai vùng liên quan với sự kiểm soát của những hành động, amygdale và cortex cingulaire antérieur dorsal, dường như có một thể tích và những mức nối kết không điển hình. (Psycho-Science. Aout 2018)
(SCIENCE & VIE 11/3018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/11/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s