Cấp cứu ngộ độc số 49 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NGỘ ĐỘC LÂN HỮU CƠ
(ORGANOPHOSPHATE POISONING)

Victor S. Roth, MD
Clinical Assistant Professor
University of Michigan Medical Center
Ann Arbor, Michigan

– Các thuốc trừ sâu chịu trách nhiệm khoảng 4% những trường hợp con người tiếp xúc mỗi năm ở Hoa Kỳ (> 97.000 trường hợp năm 2003)
– 41 trường hợp tử vong ở Hoa Kỳ năm 2003 liên quan với sự tiếp xúc thuốc trừ sâu ; các hợp chất lân hữu cơ chiếm phần lớn nhất của những trường hợp tử vong.
– High-risk exposures gồm những trẻ em 50% của tất cả những trường hợp) và occupational exposures (pesticide applicators, nông gia, những gia đình của những công nhân này, nhân viên y tế trong khi khử nhiễm).

I. SINH BỆNH LÝ
– Organophosphates là những chất ức chế trực tiếp và gián tiếp AChE (acetylcholinesterase inhibitors), đưa đến sự tích tụ của acetylcholine ở các thụ thể cholinergic muscarinic và nicotinic.
– Sự kích thích không bị chống lại của các thụ thể gây nên cả những dấu hiệu và triệu chứng của hệ thần kinh trung ương và ngoại biên.

II. LÂM SÀNG
– Muscarinic signs : đa tiết phế quản, SLUDGE syndrome (salivation, lacrimation, urination, diarrhea, GI distress, emesis), sweating, miosis, bradycardia, bronchospasm.– Nicotinic signs : giãn đồng tử, tim nhịp nhanh, weakness, cao huyết áp, co cứng cơ cục bộ, bí tiểu, hạ đường huyết.
– Những dấu hiệu hệ thần kinh trung ương : lú lẩn, kích động, co giật, hôn mê
– Những dấu hiệu tim mạch : hạ huyết áp hay tăng huyết áp, bloc nút nhĩ-thất, QT kéo dài, xoắn đỉnh (torsades de pointes) (hiếm).
– Suy hô hấp là nguyên nhân chủ yếu của ngộ độc cấp tính, thường bị thúc giục bởi đa tiết phế quản dồi dào và yếu cơ.
– Vài lân hữu cơ có thể đưa đến một mùi tỏi đặc biệt, có thể rõ ràng khi khám ban đầu.

III. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Những độc tố có thể hay những dấu hiệu và triệu chứng tương tự với oragnophosphate pesticides :
– Thuốc trừ sâu carbamate
– Paraquat và diquat
– Phosphene
– AChR-inhibiting nerve agents (sarin, tabun,..)
– Nấm chứa muscarine
– Những tác nhân ức chế AChE (physostigmine, pyridostigmine,…)
– Cholinomimrtics (pilocarpine, bethanechol,…)

IV. ĐIỀU TRỊ Ở KHOA CẤP CỨU
1. CHẨN ĐOÁN
+ Chủ yếu đó là một chẩn đoán lâm sàng : bệnh sử cẩn thận và khám vật lý là chìa khóa ; hãy xét những historical clues quan trọng.
– Những nghề nghiệp nguy cơ cao (nhà máy hóa học, nông dân, groundkeeper, pesticide applicator, thầy thuốc thú y)
– Tổng quát : nước uống bị ô nhiễm,
+ AchE levels :
– AChE hồng cầu (cholinesterase thật sự) có hoạt tính rất tương tự với AchE hệ thần kinh và tương quan sát hơn với độc tính lâm sàng của lân hữu cơ.
– AChE huyết tương (pseudocholinesterase) : nồng độ không tương quan với những triệu chứng liên quan đến giảm ap hệ thần kinh trung ương hay AChE hồng cầu.
– Những nồng độ AChE hồng cầu giảm dưới 50% chuẩn thường được thấy nhất với những triệu chứng của ngộ độc lân hữu cơ.
– Thử máu xác định những nồng độ AChE hồng cầu và huyết tương trước khi bắt đầu điều trị nếu có thể.
– Đừng trì hoãn điều trị trong khi chờ đợi những kết quả của nồng độ cholinesterase.
2. ĐIỀU TRỊ
+ Bảo vệ sự an toàn của những người điều trị và những bệnh nhân khác. Bệnh nhân với ngộ độc lân hữu cơ phải được cỡi hết quần áo và được khử nhiễm trước khi vào phòng cấp cứu.
+ Khử nhiễm (decontamination) : lấy đi quần áo, rửa 3 lần với xà phòng và nước, và lấy đi tất cả tóc lông bị ô nhiễm của cơ thể nếu cần ; những người săn sóc nên sử dụng các gant cao su (không vinyl hay latex)
+ ABC gồm có nội thông sớm và hút nếu cần đối với tăng tiết phế quản nặng và suy hô hấp ; succinylcholine không được cho để nội thông, vì bại liệt kéo dài có thể xảy ra (thay vì hãy sử dụng một tác nhân không khử cực)
+ Khử nhiễm tiêu hóa.
– Gây mửa bị chống chỉ định
– Rửa miệng-dạ dày hay mũi-dạ dày được chỉ định nếu bệnh nhân được thấy trong vòng một giờ sau khi nuốt.
– Than hoạt (với thuốc xổ), liều duy nhất 1g/kg thường được chỉ định ; nói chung không cho nhiều liều (multiple doses), vì liệt ruột có thể phát triển với điều trị atropine.
+ Atropine
– Những liều rất lớn có thể được đòi hỏi với mục đích kiểm soát tăng tiết phế quản.
– Đảo ngược những triệu chứng muscarinic nhưng không ảnh hưởng những triệu chứng nicotinic.
– Bắt đầu với 2-5 mg/kg TM mỗi 2-3 phút nếu cần (người lớn và trẻ em > 12 tuổi)
– Bắt đầu với liều 0,05 mg/kg TM mỗi 2-3 phút nếu cần (trẻ em < 12 tuổi)
– Tiêm truyền có thể cần thiết, bắt đầu với 0,5-1mg/giờ ở người lớn và 0,025 mg/kg/giờ ở trẻ em và chuẩn độ để được hiệu quả.
– Mỗi bệnh nhân được điều trị atropine nên được thông bàng quan để phòng ngừa bí tiểu.
+ Pralidoxime– Thủy phân và tái sinh AChE liên kết, nếu enzyme đã không bị lão hóa (hầu hết xảy ra khoảng 24-48 giờ).
– Liều khởi đầu là 1-2 g TM (người lớn) được cho trong 10 phút, 20-50 mg/kg TM (trẻ em < 12 tuổi) trong 30 phút.
– Tiêm truyền liên tục thường được đòi hỏi : 2-4 mg/kg/giờ ở người lớn, 10-20 mg/kg/giờ ở trẻ em.+ Diazepam
– Dùng để điều trị co giật và an thần sau nội thông khí quản ; có thể giúp cải thiện sự sống sót và giảm neuropathy.
3. DISPOSITION
– Bất cứ bệnh nhân nào có triệu chứng đòi hỏi nhập viện, và hầu hết nên được quan sát ở khoa điều trị tăng cường (ICU) ngay cả khi không được nội thông.
– Những lượng lớn atropine thường đưa đến lú lẫn và kích động xảy ra chậm và đòi hỏi monitoring sát.

Reference : Emergency Medicine. Quick Glance.
Đọc thêm : Cấp cứu ngộ độc số 13, 14, 31

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/10/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Cấp cứu ngộ độc, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to Cấp cứu ngộ độc số 49 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu ngộ độc số 50 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s