Cấp cứu tai mũi họng số 2 – BS Nguyễn Văn Thịnh

PERITONSILLAR ABSCESS
(ÁP XE QUANH AMIDAN)

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

TEST

Một người đàn ông 28 tuổi vừa chấm dứt một đợt kháng sinh 7 ngày để điều trị viêm hầu (pharyngitis), đến khoa cấp cứu với khó nuốt tăng dần. HA của bệnh nhân là 130/65 mmHg, tần số tim là 95 đập mỗi phút, nhiệt độ là 100,1 độ F, tần số hô hấp là 16 hơi thở mỗi phút, và độ bảo hòa oxy là 99%.Lúc khám, bệnh nhân không ở trong tình trạng acute distress nhưng có một khối bùng nhùng (fluctuant mass) ở phía phải của khẩu cái mềm với lưỡi gà bị lệch. Giai đoạn kế tiếp thích hợp nhất trong điều trị ?
a. Chích tháo mũ (needle aspiration), kháng sinh, và theo dõi trong 24 giờ
b. Kiểm soát đau, theo dõi trong 6 giờ
c. Nhập viện để xẻ và dẫn lưu ở phòng mổ
d. Kháng sinh và theo dõi trong 24 giờ
e. Chụp cắt lớp vi tính, kháng sinh, và theo dõi trong 24 giờ

Câu trả lời đúng là a
Bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhân này là điển hình đối với abcès périamydalien (peritonsillar abscess). Những dấu hiệu và triệu chứng gồm có đau họng (sore throat), giọng lùng bùng đầy miệng (muffled voice), trismus, khối bùng nhùng (fluctuant mass), lệch lưỡi gà, đau nhói lên tai (odynophagia), và chảy nước dãi (drooling). Nhiều trong số những bệnh nhân này có một bệnh sử mới đây được điều trị vì viêm họng do liên cầu khuẩn (streptococcal pharyngitis). Áp xe thường một bên và ở cực trên của amygdale.
Sự thông thương của đường khí phải được đánh giá vì khả năng làm tắc của một áp xe.
Điều trị, ngoài kháng sinh, gồm có hoặc là chích tháo mủ (needle aspiration) hay rạch tháo mủ (incision) và dẫn lưu áp xe.Vài công trình nghiên cứu cho thấy sự an toàn và cost-effectiveness của chích tháo mủ (needle aspiration) so với xẻ và dẫn lưu.
(b) Áp xe sẽ không tiêu đi nếu không được can thiệp.
(c) Rạch và dẫn lưu có thể được thực hiện ở phòng mổ tùy thuộc kích thước và mức độ airway compromise. Tuy nhiên điều này không cần thiết ở bệnh nhân được mô tả.
(d) Dẫn lưu áp xe là yếu tố quan trọng nhất trong điều trị những áp xe này. Kháng sinh đơn độc không đủ
(e) Một chụp cắt lớp vi tính có thể giúp chẩn đoán một peritonsillar abscess ở những bệnh nhân với trismus nặng.

PERITONSILLAR ABSCESS
NHỮNG TRIỆU CHỨNG
– nhiễm trùng khoang sâu (deep space infection)
– xảy ra ở thiếu niên và những người trưởng thành trẻ tuổi
– nguy cơ gia tăng trong bệnh đái đường, suy giảm miễn dịch
– đi trước bởi viêm hầu (pharyngitis)
– những triệu chứng trên 48 giờ mặc dầu điều trị kháng sinh
– đau họng tăng dần
– đau nhói lên tai (odynophagia)
– khó nuốt
– biến đổi giọng nói : giọng nói lúng búng đầy miệng (hot potato voice hay voix patate chaude)
– chảy nước dãi
– hôi mồm
NHỮNG DẤU HIỆU
– vẻ mặt nhiễm độc với sốt cao và mất nước
– lymphadenopathy
– trismus có thể hạn chế sự thăm khám trong những trường hợp nặng
– stridor ở tư thế nắm ngửa nếu nặng
– sưng một bên, trước và trên amygdale
– amygdale và lưỡi gà bị lệch về phía đối diệnWORK-UP
– chẩn đoán lâm sàng được xác nhận bởi needle aspiration– mủ hút được gởi để nhuộm gram và cấy
– nếu chẩn đoán nghi ngờ và needle aspiration âm tính, CT với IV
contrast hay siêu âm

Reference : Emergency Medicine.PreTest

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/11/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Cấp cứu tai mũi họng, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s