Cấp cứu ngộ độc số 43 – BS Nguyễn Văn Thịnh

NGỘ ĐỘC AMPHETAMINE
(AMPHETAMINE OVERDOSE)

Jonathan Shenk, MD
Resident Physician
University of Michigan Medical Center/
Saint Joseph Mercy Hospital
Ann Arbor, Michigan

– Lịch sử dài lạm dụng amphetamine có từ đầu thế kỷ 20
– Phí tổn sản xuất thấp và việc có thể mua được rộng rãi đã dẫn đến gia tăng tần số lạm dụng, đặc biệt ở trung tây và miền tây Hoa Kỳ.
– Sự sử dụng amphetamine trong y khoa hiện nay gồm điều trị chứng béo phì, narcolepsy, và attention deficit disorder (TADH : trouble d’hyperactivité avec déficit de l’attention).

I. SINH BỆNH LÝ
– Amphetamine kích thích sự phóng thích catecholamine, đặc biệt là dopamine và norepinephrine, và phong bế reuptake của chúng.
– Những thụ thể giao cảm trung ương và ngoại biên được kích thích bởi catecholamine phóng thích, dẫn đến những tác dụng alpha-và beta.
– Amphetamines được hấp thụ tốt, và những đường cho thuốc thông thường là hút, nuốt, khịt mũi (snorting), hay chích

II. LÂM SÀNG
– Hội chứng giống giao cảm (sympathomimetic syndrome) : tim nhịp nhanh, cao huyết áp, tăng thân nhiệt, giãn đồng tử, vã mồ hôi, kích động, run, tương tự với ngộ độc cocaine
– Ảo giác (thị giác và xúc giác) và loạn tâm thần (psychosis) thường gặp.
– Tan cơ vân (Rhabdomyolysis) và suy thận được thấy, đặc biệt trong bối cảnh tăng thân nhiệt nặng
– Thiếu máu cục bộ và hoại tử cơ tim có thể do co thắt mạch và huyết khối
– Tử vong thường nhất xảy ra do tăng thân nhiệt nặng, loạn nhịp tim (tim nhịp nhanh thất, rung thất), và xuất huyết nội sọ.
– Những tác dụng mãn tính gồm có viêm mạch máu hoại tử (necrotizing vasculitis), tăng áp lực động mạch phổi (pulmonary HTN), bệnh van tim (đặc biệt hở van động mạch chủ và van hai lá), tâm thần phân liệt, mất trí nhớ vĩnh viễn, và tất cả những biến chứng của việc cho bằng đường tĩnh mạch (viêm nội tâm mạc, HIV…).

III. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT HỘI CHỨNG GIỐNG GIAO CẢM (SYMPATHOMIMETIC SYNDROME)
– PCP
– Amphetamine, bao gồm MDMA (ectasy)
– Ephedrine và những thuốc chống sung huyết (decongestant) liên quan
– Caffeine
– Hội chứng cai rượu (ethanol withdrawal)
– MAOI crisis
– Nhiễm độc tuyến giáp (thyrotoxicosis)
– Bệnh não tăng áp (hypertensive encephalopathy)
– Neuroleptic malignant syndrome (NMS)
– Pheochromocytoma
– Tâm thần (mania, psychosis)

IV. XỬ TRÍ Ở KHOA CẤP CỨU
1. CHẨN ĐOÁN
– Chẩn đoán là lâm sàng, dựa trên bệnh sử hay nghi tiếp xúc và bệnh cảnh lâm sàng phù hợp.
– Hãy xét đến những chất cùng uống vào (co-ingestants) và những nguyên nhân khác của trạng thái thần bị biến đổi
– Qualitative urine immunoassay testing thường được thực hiện, nhưng cả những dương tính giả và âm tính giả thường gặp (dương tính giả được thầy với pseudoephedrine, ephedrine, phenylpropanolamine, selegiline…)
– Chụp cắt lớp vi tính đầu (Head CT) (nếu hoạt động co giật hiện diện hay trạng thái tâm thần bị biến đổi đáng kể) để loại trừ xuất huyết trong sọ.
2. ĐIỀU TRỊ
+ ABCs và điều trị hỗ trợ (IVF, 02, monitor tim)
+ Kích động (agitation)
– Benzodiazepines là first-line ; những liều lượng lớn có thể được đòi hỏi.
– Những thuốc chống loạn thần (haloperidol, droperidol) là một lựa chọn khác để an thần, mặc dầu chúng có khuyết điểm là giảm ngưỡng co giật.
+ Tăng thân nhiệt (> 40 độ C)
– Chườm lạnh ngoài (external cooling) tích cực với mist và quạt
– An thần với benzodiazepines
– Monitoring thường xuyên nhiệt độ trung tâm : nếu không thể kiểm soát nhiệt độ với những biện pháp trên, có thể cần phải thực hiện neuromuscular blockade.
+ Cao huyết áp
– Những liều lặp lại benzodiazépine nói chung có hiệu quả làm giảm HA
– Phentolamine : alpha-blocker trước và sau synapse, thường được sử dụng trong cơn cao áp do ngộ độc giống giao cảm (sympathomimetic toxicity)
– Cũng như trong ngộ độc cocaine, beta-blockers có nguy cơ lý thuyết cho phép kích thích alpha không bị chống lại ; tuy nhiên vài tác nhân đã được sử dụng với sự thành công.
Labetalol có tác dụng alpha-blocking lẫn beta-blocking
Esmolol có một thời gian tác dụng rất ngắn và có thể chuẩn độ.
Nitroprusside có thể hiệu quả nếu những tác nhân khác thất bại.
+ Co giật
– Benzodiazepines là first line of therapy
– Thêm phenobarbital nếu co giật tái phát hay khó kiểm soát
– Những bệnh nhân với co giật hay những biến đổi trạng thái tâm thần không đáp ứng với thuốc đòi hỏi chụp cắt lớp vi tính đầu để loại bỏ xuất huyết.
+ Tan cơ vân (rhabdomyolysis)
– An thần tích cực để phòng ngừa thương tổn cơ thêm nữa.
– Hồi sức dịch tĩnh mạch với NS, thông bàng quang, và nhằm xuất lượng nước tiểu (UOP : urinary output) ở mức 1-2 cc/kg/giờ
– Serial CPK, BUN, creatinine
– Kiềm hòa nước tiểu nói chung không được chỉ định Không có chứng cớ mạnh rằng kiềm hóa làm giảm nephrotoxicity.
Gia tăng thời gian bán hủy của amphetamine.
+ Đau ngực
– Điện tâm đồ và các men tim để loại trừ nhồi máu cơ tim
– Nhồi máu cơ tim : những thuốc tan huyết khối và thông tim được chỉ định như đối với những nguyên nhân khác của nhồi máu cơ tim
3. DISPOSITION
– Những bệnh nhân với những triệu chứng nhẹ có thể cho ra viện một cách an toàn với một người lớn có trách nhiệm khi bệnh nhân không có triệu chứng.
– Những bệnh nhân với biến chứng (tan cơ vân, tăng thân nhiệt quan trọng, psychosis, cao HA đòi hỏi điều trị những thuốc dùng bằng đường tĩnh mạch) cần được nhập viện nhập viện, monitoring, và directed care.

Reference : Emergency Medicine. Quick Glance.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/10/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu ngộ độc, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Cấp cứu ngộ độc số 43 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Cấp cứu ngộ độc số 55 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s