Thời sự y học số 482 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CHẤN ĐỘNG NÃO : NGHỈ NGƠI BẮT BUỘC !
Điều quan trọng nhất, đứng trước một chấn thương sọ, là tránh một chấn thương thứ hai, có hậu quả nghiêm trọng hơn.NEUROLOGIE. ” Khi não động đậy trong hộp sọ, ta đặc biệt quan sát thấy một sự chết ngạt của các neurone (une sidération des neurones) “, GS François Caire, trưởng khoa ngoại thần kinh của Limoges, ở đây có một đơn vị chuyên môn từ 3 năm nay, đã giải thích như vậy. Sự cắt đứt tạm thời dòng liên kết với chấn động não này gây nhiều triệu chứng, ít nhiều nghiêm trọng, có thể biến mất một cách ngẫu nhiên trong đa số các trường hợp. Tuy nhiên chấn động não đúng là một chấn thương sọ, mặc dầu nó được gọi là nhẹ, mà những hậu quả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn không được lơ là. Chúng thường gặp trong vài loại thể thao (boxe, hockey sur glace, rugby, đá bóng Mỹ) và từ nay phần lớn các liên đoàn thể thao liên hệ ý thức được vấn đề, không phải là không va chạm.
Những biện pháp được đề nghị để bảo vệ các cầu thủ, với những protocole chính xác điều trị những chấn động não, từ nay được áp dụng tốt trong thực hành nghề nghiệp. Còn phải mở rộng những phản xạ tốt này cho thực hành thể thao không chuyên và cho những chấn động não của đời sống hàng ngày : xà quá thấp của tầng nóc…Cảm giác loạng choạng (“sonné”) tạm thời này là một triệu chứng thường gặp và dễ nhận diện nhưng những chấn động não có thể tỏ ra kín đáo hơn. Vả lại, chúng phần nhiều xảy ra mà không được nhận biết. Vậy sau một sốc trực tiếp hay gián tiếp, gây một gia tốc-giảm tốc mạnh của đầu, điều khôn ngoan là tự hoi để biết ta đã bị một chấn động não hay không hay hỏi những người khác hiện diện vì lẽ các bệnh nhân, dưới tác động của chấn động não, không luôn luôn có khả năng đoán nhận những triệu chứng. ” Không kể là muốn không nói gì khi ta chơi một trận đấu quan trọng và khi ta không muốn bị xếp xó bên lề sân cỏ “, BS David Brauge, chịu trách nhiệm đơn vị chuyên khoa của khoa ngoại thần kinh của CHU de Toulouse. Thật vậy, điều quan trọng nhất, đứng trước một chấn động não, là tránh một chấn động não thứ hai. Chấn động não thứ hai này, vì xảy ra trên một não hoạt động ít tốt hơn do chấn động não thứ nhất, sẽ có những hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều. Trong trường hợp này, tỷ lệ tử vong đạt 50% những chấn động não.
Vài tác dụng của chấn động não lên các neurone bắt đầu được biết rõ : sự khử cực ồ ạt của các tế bào thần kinh (dépolarisation massive des neurones) gây một sự mất cân bằng của các chất khoáng (déséquilibres minéraux), một sự hao năng lượng và một sự tích tụ lactate và những gốc tự do (radicaux libres) có thể dẫn đến sự chết tế bào. Chuyển hóa của não dĩ nhiên bị chậm lại, điều này giải thích những triệu chứng tâm-thần kinh, nhưng cấu trúc của nó cũng bị biến thái, nhất là ở chất trắng, nhưng cũng ở hàng rào máu-não (barrière hémato-encéphalique), trở nên dễ thấm hơn. ” Khi đó não rất dễ bị thương tổn, phải tuyệt đối tránh một va chạm khác “, BS Bauge đã nhấn mạnh như vậy.
Chụp hình ảnh không ích lợi gì để xác lập chẩn đoán đứng trước chấn thương nhẹ này, vì những thương tổn ở mức nguyên tử hay vi thể. Khám lâm sàng và vấn chẩn là những công cụ đánh giá tốt nhất của một chấn động não, với điều kiện biết tìm kiếm cái gì. Trong cuộc sống hàng ngày hay trong thực hành thể thao không chuyên, mọi thị giác mờ (vision floue), cảm giác mệt hay tìm kiếm những từ, đau đầu, rối loạn thăng bằng phải khiến ngừng hoạt động và nghỉ ngơi. Bệnh nhân phải được theo dõi và, nếu không, cần phải ngăn cản bệnh nhân ngủ, phải thỉnh thoảng đánh thức dậy để nhận diện một sự trầm trọng của các triệu chứng. Nếu bệnh nhân bị mất tri giác một cách tạm thời, một thăm khám ở khoa cấp cứu là điều bắt buộc.” Trong tất cả các trường hợp, nếu những triệu chứng tồn tại trên 48 giờ, cần cẩn thận đi khám bác sĩ. Vị thầy thuốc này có thể thực hiện một thăm khám sâu và khuyến nghị một thời kỳ nghỉ ngơi thích ứng”, GS Jean Chazal, trưởng khoa ngoại thần kinh của CHU de Clermont-Ferrand đã chỉ như vậy.
Thật vậy nghỉ ngơi vẫn là điều trị thích hợp nhất đối với phần lớn các chấn động não, mà những triệu chứng thường biến mất trong 10 ngày. ” Trong 90% các trường hợp, tất cả các triệu chứng biến mất hoàn toàn trong 3 tháng, GS Caire đã chỉ như vậy. Trong một trường hợp trên trăm vẫn tồn tại những di chứng vĩnh viễn.”
Tùy theo cường độ của các triệu chứng, nghỉ ngơi hoàn toàn có thể cần thiết, kể cả trên bình diện trí tuệ. Ở những trẻ em và các thanh niên, mà những triệu chứng biến mất chậm hơn và ở họ những hậu quả có thể nghiêm trọng nhất, một chương trình không jeux vidéo hay lecture có thể được khuyến nghị. Sự trở lại trường học hay trên một sân chơi đôi khi phải dần dần. Khi những triệu chứng dai dẳng, rééducation neuronale sẽ cần thiết để định hướng lại vài hoạt động về những vùng của não ít bị ảnh hưởng hơn.
(LE FIGARO 10/9/2018)

2/ NHỮNG CÂU HỎI CHUNG QUANH MỘT TRIỆU CHỨNG
” Khi xảy ra một va chạm nghiêm trọng, trước hết ta bận tâm về những vết thương khác “, GS Jerome Caire, trưởng khoa ngoại thần kinh của Limoge đã nhấn mạnh như vậy. ” Chẩn đoán chấn động não sẽ đến sau đó và những triệu chứng chính đôi khi đã biến mất.” Sự chẩn đoán chậm trễ này đặt vấn đề bởi vì phải nhanh chóng cho bệnh nhân nghỉ ngơi não. Thật vậy không có trắc nghiệm chẩn đoán tức thời dựa trên chụp hình ảnh hay sinh học để nhận diện chấn động não và những nghi ngờ đầu tiên đôi khi nảy sinh chỉ bởi vì những ủng hộ viên thấy cầu thủ sờ mó đầu mình hay khi ta quan sát thấy một cầu thủ cần nhiều thời gian để đứng dậy sau một va chạm.
TRẮC NGHIỆM THĂNG BẰNG
Trong thực hành thể thao, nguồn gốc của nhiều chấn động não, chính huấn luyện viên hay đôi khi một professionnel de santé là ở tuyến đầu để đánh giá tình trạng của một vận động viên bị một va chạm. Từ nay có một sự nhất trí về những bảng câu hỏi và những thăm khám đơn giản để nhận diện hay xác lập một nghi ngờ chấn động não, luôn luôn đủ để đưa bệnh nhân ra xa khỏi sân chơi ít nhất trong ngày. Vài câu hỏi và những trắc nghiệm thăng bằng hay thị giác đã có thể nghi ngờ bên lề sân cỏ, nhưng thường phải tách riêng cầu thủ ở một nơi yên tĩnh để làm một đánh giá hoàn chỉnh.
Những liên đoàn thể thao quốc tế lớn đồng ý về những trắc nghiệm khác nhau cần thực hiện bên lề sân cỏ hay ở phòng thay áo như test SCAT5. Tất cả khó khăn là thuyết phục những cầu thủ (và đôi khi những người phụ trách đội) ra khỏi sân bóng trong tối thiểu 10 phút để thực hiện những trắc nghiệm này và chấp nhận kết luận nếu bị loại.
” Trong thực hành không chuyên, những cầu thủ đôi khi học thuộc lòng những câu trả lời cho các trắc nghiệm để không bị loại ra khỏi sân cỏ “, BS David Brauge, trưởng đơn vị chuyên môn của khoa ngoại thần kinh của CHU de Toulouse đã kể lại như vậy. Mục tiêu là tránh một chấn động thứ hai, luôn luôn nghiêm trọng hơn chấn động não đầu tiên. Những trắc nghiệm này cũng quan trọng để xác lập một trạng thái khởi đầu và đánh giá tốc độ phục hồi.
Ngoài thực hành thể thao, nếu các triệu chứng dai dẳng trong vài ngày, cần đi khám bác sĩ để thực hiện một đánh giá tâm-thần kinh đầu tiên và kê đơn một chương trình phục hồi cơ năng. Những trắc nghiệm sinh học nhằm phát hiện những phân tử đặc hiệu của các chấn thương neurone, đã được hiệu chính để đánh giá cường độ của thương tổn neurone. Chúng được sử dụng cách xa va chạm ban đầu để quyết định xem một scanner có hữu ích để phát hiện vùng trong đó não bị thương tổn nhất, thí dụ để tìm một máu tụ (hématome), hay để xem có vô ích khi bắt bệnh nhân chịu những phóng xạ của một thăm dò như thế. Những biomarqueur đang được nghiên cứu để chẩn đoán tức thời bên lề sân cỏ.
(LE FIGARO 10/9/2018)

3/ NHỮNG HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG HƠN ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI TRẺ
Những tài liệu xuất bản về những chấn động não đã bùng nổ trong 10 năm qua, dấu hiệu rõ ràng của một ý thức đáng kể về những nguy cơ, nhất là bởi những vận động viên thể thao. Những công trình này đã không cho phép nhận diện một cách chính xác điều xảy ra trong những chấn động não, cũng như làm sao phòng ngừa chúng một cách hoàn toàn, cũng như làm sao điều chỉnh những hậu quả. Tuy nhiên vài dữ kiện cho những hướng nghiên cứu để có một sự xử trí hiệu quả có thể được.
Từ nay người ta xác lập rằng, và đó là thông điệp quan trọng nhất, mặc dầu một chấn động não thứ nhất dường như không nghiêm trọng, nhưng nó phải khiến, một cách tức thời và hệ thống, ngừng hoạt động nguyên nhân gây ra nó. Một vận động viên bị chấn động nào làm chủ ít tốt hơn trận đấu và chịu những va chạm khác. Những công trình nghiên cứu trong lãnh vực thể thao cho thấy rằng nguy cơ của chấn động não thứ hai được nhân lên đến gặp 6 lần sau chấn động não thứ nhất, cũng như nguy cơ bị một thương tổn khác.
NHỮNG QUY TẮC CHƠI THÍCH ỨNG.
Những công trình cũng rõ ràng về những hậu quả của một chấn động não thứ hai và về những chấn động não lập lại (commotions à répétition). Nhiều công trình nghiên cứu cũng chỉ rằng những thanh niên, cho đến 25 tuổi, là dễ thương tổn nhất đối với những chấn động não : những triệu chứng nghiêm trọng hơn và những phục hồi chậm hơn nhiều và thường hơn không hoàn toàn. Ngoài ra, những di chứng của một chấn động não thứ hai quan trọng hơn nhiều ở người trưởng thành. Vì vậy vài liên đoàn đã bắt đầu xác lập những quy tắc chơi khác nhau cho những équipe trẻ khác nhau để giảm nguy cơ và chạm trong thi đấu hay trong lúc tập luyện ở những lứa tuổi dễ bị thương tổn này.
Trong tất cả các trường hợp, sự nghỉ ngơi, mặc dầu cơ chế tác dụng chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, cho phép, vừa tránh não dễ bị thương tổn với những va chạm khác, vừa cho phép các neurone có cơ may phục hồi sau khi bị chấn thương. Sự tái tục hoạt động phải dần dần và chỉ sau khi những triệu chứng biến mất. Đối với những người trẻ nhất, điều hữu ích là cũng khuyến nghị một sự giảm hoạt động trí tuệ : trước hết không đi học, nhưng cũng không đọc hay chơi vidéo với một sự tái tục dần dần khi ngừng các triệu chứng.
(LE FIGARO 10/9/2018)

4/ CHẤN THƯƠNG SỌ ĐƯỢC PHÁT HIỆN TRONG 10 PHÚT
Được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu đại học Thụy Sĩ và Tây Ban Nha, một boitier portable nhỏ cho phép chẩn đoán trong 10 phút một chấn thương não nhẹ ở bệnh nhân, với chỉ một giọt máu mà không gây phóng xạ. Khám phá này cho phép khai thong các khoa cấp cứu, nhưng cũng tiết kiệm những examen médical tốn kém.
Hiện nay, ta ước tính khoảng 3 triệu người đến khoa cấp cứu vì nghi ngờ chấn thương não nhẹ, nhất là sau một té ngã khi trượt tuyết, khi đi xe đạp hay trong cầu thang hay khi nhận một coup vào đầu.
Nhưng thật sự có một thương tổn của não không ? Hay những triệu chứng chỉ là hậu quả tạm thời của sự va chạm mạnh ?
Để trả lời những câu hỏi này, công cụ chẩn đoán duy nhất đáng tin cậy là CT Scan. Nhưng những thăm dò này không sẵn có trong tất cả các bệnh viện, nó tốn kém và là nguồn của những bức xạ đối với bệnh nhân. Thêm vào đó, bệnh nhân thường phải chờ đợi lâu vì trường hợp này không luôn luôn ưu tiên. Tuy vậy, 90% trong số những bệnh nhân có thể trở về nhà không nguy cơ, khi không một chấn thương nào đã được phát hiện.
Với sự công tác của các đồng nghiệp Tây Ban Nha, các nhà nghiên cứu của Đại học Genève đã tự hỏi phải chăng có thể hiệu chính một xét nghiệm nhằm phân lập vài protéine mà sự hiện diện trong máu gia tăng khi đầu bị va chạm.
Nhờ những phân tích loại “protéomique”, cho phép định lượng đồng thời hàng ngàn protéine và quan sát những biến thiên các nồng độ của chúng trong máu, họ đã nhận diện 4 phân tử chỉ sự hiện diện của một chấn thương não nhẹ : H-FABP, Interleukin-10, S100B và GFAP. Biomarqueur hiệu năng nhất là H-FABP, với tính đặc hiệu 32% và độ nhạy cảm đạt 100%. Kết quả lại còn tốt hơn khi những nồng độ H-FABP và GFAP được phối hợp, làm tính đặc hiệu tăng lên 46% và, khi IL-10 được thêm vào, tính đặc hiệu lên đến 52%.
Những nhà khoa học sau đó đã chế tạo một boitier nhỏ bằng plastique được gọi là TBI check, dựa trên nguyên tắc của trắc nghiệm thai nghén. Bằng cách đặt chỉ một giọt máu lên languette của boitier, bệnh nhân biết trong 10 phút có một nguy cơ bị chấn thương nhẹ hay không. Nếu một bande xuất hiện, bệnh nhân phải được chụp scanner, nếu không có gì, bệnh nhân có thể trở về nhà.
Trong trường hợp nghi ngờ khi đọc kết quả, một lecteur nhỏ, Cube Reader, có thể được đặt trên TBIcheck. Nó chỉ “dương tính” hay “âm tính” và gởi kết quả trên smartphone của bệnh nhân hay của người điều trị qua Bluetooth.
Theo dự kiến, trắc nghiệm đầu tiên này sẽ được thương mãi hóa ngay 2019, điều này sẽ khai thông các khoa cấp cứu. Máy cho phép thăm khám một cách nhanh chóng và khắp nơi, kể cả thí dụ trong trường hợp tai nạn trên núi. Nhiên hậu mục tiêu là những người hành nghề y tế có thể có được trắc nghiệm ở hiệu thuốc và ngay cả trong salle de sport.
Về các nhà nghiên cứu, có tiếp tục công trình nghiên cứu của họ bởi vì họ hy vọng có thể đề nghị cùng kỹ thuật đối với các tai biến mạch máu não và các phình mạch.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 7/9/2018)

5/ GÂY MÊ KỀM HÃM SỰ LIÊN LẠC GIỮA CÁC NEURONE.Cơ chế não của gây mê toàn thân hôm nay được làm sáng tỏ bởi các nhà nghiên cứu của Đaị Học Queensland : các thuốc ngủ (hypnotique) không những gây ngủ, chúng còn làm rối loạn mọi liên lạc giữa các neurone. Chính bằng cách bất động syntaxine 1A, một protéine hiện diện trong mỗi synapse, mà thuốc gây ngủ ức chế cơ chế liên lạc giữa các neurone. ” Tác dụng này xảy ra trên hàng tỷ synapse, một tác dụng hệ thống hơn nhiều là tắt một interrupteur de sommeil “, Bruno van Swinderen, giám đốc nghiên cứu đã nói như vậy. Điều này giải thích những déficit cognitif của vài người bị gây mê. Vẫn còn phải đánh giá phần trách nhiệm của hiện tượng này so với hiệu quả của sự mất tri giác gây nên bởi các thuốc gây mê, để dự kiến những công thức thuốc mới.
(SCIENCES ET VIE 3/2018)

6/ TA BIẾT NÃO QUYẾT ĐỊNH CHẠY TRỐN NHƯ THẾ NÀOỞ lại hay chạy trốn…Đứng trước một tình huống tiềm năng nguy hiểm, giữa nguy cơ tử vong và bỏ phương tiện (abandon de ressources), phải làm gì ? Equipe của Tiago Branco (University College London) vừa nhận diện các thành phần của bộ máy của loại quyết định này ở chuột. ” Hai vùng não có liên hệ : colliculus supérieur và substance grise périaqueducale, neurobiologiste đã xác nhận như vậy. Colliculus supérieur hội nhập thông tin : sự nguy hiểm càng quan trọng, các neurone càng được kích hoạt ở đó. Và khi một ngưỡng kích thích được vượt qua, thông tin được truyền đến substance grise périaqueducale và chất xám này ra lệnh chạy trốn.” Nhà nghiên cứu từ nay quan tâm đến tác động của điều đã được trải nghiệm (vécu), khi sự tiếp xúc với một nguy hiểm lập lại dẫn đến sự chạy trốn mặc dầu đứng trước một đe dọa nhẹ. ” Chúng tôi hy vọng khám phá những cơ chế phân tử liên quan trong stress post-traumatique “, ông xác nhận như vậy.
(SCIENCE ET VIE 9/2018)

7/ GHÉP CƠ QUAN : BILAN VÀ NHỮNG TRIỄN VỌNG
GS Olivier Bastien, giám đốc của département de prélèvement et greffes d’organes. Agence de la biomédecine, Saint Denis.
Hỏi : Hiện nay ở Pháp bilan để thực hiện ghép như thế nào ?
GS Olivier Bastien : Vào năm 2017, 6105 transplantation đã được thực hiện trong đất nước của chúng ta. Pháp hiện có 57.000 người được ghép còn sống. Trong 90% trường hợp, các cơ quan phát xuất từ những người chết, được tuyên bố trong tình trạng chết não (mort encéphalique). Từ một đến năm cơ quan được lấy ở người hiến.
Hỏi : Những cơ quan thường được ghép là những cơ quan nào ?
GS Olivier Bastien : Thận (3782 năm 2017), gan (1374), tim (467), phổi (378), tụy tạng (96), những cơ quan khác hiếm hơn. Phải nhấn mạnh chất lượng Pháp : 97,6% những greffon được lấy được ghép thành công. Điều này về mặt hiệu năng đặt chúng ta đứng đầu các nước châu Âu.
Hỏi : Có những ghép cơ quan từ những người hiến sống (donneur vivant) hay không ?
GS Olivier Bastien : Vâng ! Ta đã thống kê được 611 ghép thận vào năm 2017, hoặc 3 lần nhiều hơn cách nay 10 năm, và 25 ghép gan. Ghép không được thực hiện cấp cứu, nó có thể được hoạch định trước một tình trạng suy thoái của bệnh nhân và greffon có chất lượng tốt hơn. Mục tiêu là đạt 1000 ghép thuộc loại này mỗi năm vào năm 2021.
Hỏi : Ở Pháp, ghép được tổ chức như thế nào ?
GS Olivier Bastien : Luật bioéthique, chi phối những hiến cơ quan và mô (don d’organes et de tissus) ở Pháp, đã phó thác cho Agence de biomédecine sự quản lý : 1. Danh sách duy nhất của các bệnh nhân chờ đợi. 2. Registre national du refus (RNR), được tham khảo một cách hệ thống trước mọi prélèvement. 3. Sự cấp các mảnh ghép (greffon). Từ khi luật được ban hành, tất cả chúng ta đều là những người hiến tiềm năng (donneur potentiel). Sự cấp các cơ quan được hướng dẫn bởi những score xét đến vài ưu tiên, tuổi tác và sự tương hợp người hiến-người nhận (compatibilité donneur-receveur). Khi một người hiến tiềm năng được nhận diện, những xét nghiệm nhằm kiểm tra sự hoạt động tốt của các cơ quan được thực hiện. Sau đó khi hồ sơ của người hiến được chuyển đến cơ quan của chúng tôi để được chuẩn nhận ; cơ quan này, qua một algorithme, nhận diện tức thời 10 người nhận đúng tiêu chuẩn nhất trong số 20.000 bệnh nhân trong danh sách chờ đợi trong 110 trung tâm được cho phép ghép ở Pháp.
Hỏi : Những kết quả đối với mỗi cơ quan là gì ?
GS Olivier Bastien : Tỷ lệ sống sót đối với thận là 87% lúc 5 năm và 75% lúc 10 năm. Đối với gan, 83% và 79% nếu bệnh nguyên không phải là một xơ gan, nếu không tỷ lệ hơi thấp hơn. Đối với tim, 67% và 55%, cùng tỷ lệ đối với phổi và tụy tạng (thường được ghép với thận). Những kết quả này là những kết quả của những bệnh nhân được ghép cách nay 10 năm hoặc hơn. Chúng sẽ cao hơn ở những bệnh nhân được ghép hôm nay vì những tiến bộ kỹ thuật được thực hiện trong điều trị. Thật vậy, điều trị tốt hơn : ta có thể thay đổi thuốc làm suy giảm miễn dịch trong trường hợp không dung nạp (điều mà ta không thể làm trước đây), ta có những chất chỉ dấu (marqueur) cho phép dự đoán một quá trình thải bỏ và điều trị nó tốt hơn.
Hỏi : Những gò bó của những bệnh nhân được ghép là gì ?
GS Olivier Bastien : Cơ sở chung cho tất cả là thực hiện một điều trị chống thải bỏ (traitement antirejet) (thuốc làm suy giảm miễn dịch), một sự theo dõi đều đặn và liên tục, và những quy tắc nghiêm túc về vệ sinh đời sống. Kềm chế tính miễn dịch của người nhận có thể tạo điều kiện cho sự phát triển của vài ung thư (chủ yêu của da), của những nhiễm trùng (nhất là năm đầu tiên) và của xơ vữa động mạch (nếu thể địa thuận lợi), nhưng những biến chứng này hôm nay được quản lý tốt. Graal sẽ là gây nên và kích hoạt một sự dung nạp hoàn toàn của mẫu ghép ở người được ghép. Trên lý thuyết, điều đó có thể và những nghiên cứu đi theo chiều hướng này.
(LE FIGARO 6/9-12/9/2018)

8/ CÁC GÈNE CỦA CHÚNG TA VẪN CÒN BIỂU HIỆN NHIỀU GIỜ SAU KHI CHẾT.
Khi chuyển từ sống qua chết, những tế bào của chúng ta có tiếp tục hoạt động sinh học của chúng không ? Vào năm 2016, các nhà nghiên cứu đã khám phá ở chuột và cá vằn (poisson zèbre), những gène vẫn còn hoạt động 4 ngày sau chết ! Thế mà điều đó cũng đúng ở người, theo những nhà sinh học chuyên về analyse informatique. Họ đã nghiên cứu 36 loại mô (não, gan, thận, máu…) được lấy trên 540 người hiến trong 24 giờ sau chết. Giữa 7 và 14 giờ sau chết, vài gène chết dần, những gène khác được kích hoạt : ” Có ít biến thiên hoạt tính di truyền (activité génétique) trong lách hay não, Roderic Guigo, nhà sinh học ở Centre pour la régulation génomique, ở Barcelone, đã báo cáo như vậy. Nhưng ta quan sát những biến thiên đột ngột của hoạt tính di truyền trong hơn 600 gène liên kết có các cơ.” Sau 14 giờ, hoạt động của các gène dường như ổn định. Nhờ “timing” này, hai chuyên gia đa phát triển một algorithme. Roderic Guigo ước tính rằng công cụ của ông có thể được sử dụng để xác định một cách chính xác giờ của những trường hợp chết nghi ngờ. Ông đã có thể xac định, với sai lệch khoảng 9 phút, giờ chết của 129 người.Theo ông, những thay đổi hoạt tính của các gène là chữ ký (signature) của nguyên nhân của tử vong. Điều này còn phải được chứng minh.
(SCIENCE ET VIE 5/2018)

9/ GHÉP KHÍ QUẢN : PREMIERE MONDIALE
GS Emmanuel Martinod, trưởng khoa chirurgie thoracique et vasulaire, bệnh viện Avicenne, Bobigny. Ông là nhà chế tạo và thực hiện những trường hợp ghép khí quản đầu tiên trên thế giới. Ở đây ông mô tả lợi ích và những áp dụng của nó.Hỏi : Ghép khí quản được chỉ định ở những bệnh nhân nào ?
GS Emmanuel Martinod. Cho những người bị một thương tổn của chính khí quản (ung thư hay hẹp khí quản). Những bệnh nhân này ở trong một thế bí điều trị bởi vì làm sao sống nếu không có khí quản chức năng ? Ghép khí quản cũng được chỉ định ở những người bị ung thư ở một trong hai cuống phổi phát xuất từ khí quản, nhưng phải hy sinh, điều này có nghĩa là phải lấy đi một phổi phái hay trái (pneumonectomie). Cuộc mổ này chịu một tỷ lệ tử vong nặng nề (10% lúc 3 tháng), do đó lợi ích có thể tránh nó bằng cách thay thế cuống phổi.
Hỏi : Trước đây có người ta có bao giờ thử thay thế khí quản không ?
GS Emmanuel Martinod. Đã thử thay thế từ 50 năm qua ! Trước hết với những prothèse synthétique (bằng Dacron hay Teflon), được phỏng theo những prothèse vasculaire. Nhưng khi tiếp xúc với không khí, không vô trùng, các prothèse sẽ bị nhiễm trùng, điều này làm đứt những đường khâu với khí quản lành mạnh. Sau đó đã thử thay thế khí quản bằng những khí quản nguồn gốc động vật hay những khí quản của những người hiến chết (donneur humain décédé), được làm trung hoa bằng hóa học trong phòng thí nghiệm. Đó lại là một thất bại, bởi vì những allogreffe này khong được gìn giữ tốt, cần những chất làm suy giảm miễn dịch bị chống chỉ định trong trường hợp ung thư và không được tái xâm thực bởi những tế bào phế quản của người nhận. Chế tạo những khí quản trong phòng thí nghiệm từ những tế bào gốc chỉ đang ở trong tình trạng dự định.
Hỏi : Tại sao đã sử dụng những đoạn động mạch chủ để thay thế khí quản ?
GS Emmanuel Martinod. Khí quản là một tập hợp của những vòng sụn, chồng lên nhau, được phủ bởi một biểu mô và những mạch máu mảnh và dễ vỡ.Động mạch chủ được dùng để thay thế có nhiều ưu điểm : đó là một ống dẫn có đường kính tương tự, đàn hồi, đề kháng nhiễm trùng và được dung nạp tốt trên bình diện miễn dịch học. Được lấy ở một người chết, nó được bảo tồn rất tốt và lâu dài ở nhiệt độ lạnh (cryopréservation). Điều bất tiện của động mạch chủ là nó mềm hơn khí quản nhiều : ta bù điều đó bằng cách đưa vào bên trong đoạn động mạch chủ này, trong khi mổ, một khung kim loại semi-rigide (stent).
Hỏi : Những giai đoạn sơ bộ nào ông đã phải vượt qua trước khi thử nghiệm ở người ?
GS Emmanuel Martinod : Trong 10 năm, tôi đã tiến hành 7 công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, đã cho thấy trên cừu rằng những đoạn động mạch chủ phát xuất từ cùng động vật (autogreffe) hay không (allogreffe), được sử dụng tục thời hay sau cryoprséervation và ở những nơi khác nhau, đã không kèm theo một thải bỏ nào, không đòi hỏi một điều trị miễn dịch nào và được tái xâm thực bởi một mô phế quản. Điều đó cho phép lấy đi stent sau 6 tháng và đưa các động vật trở lại cuộc sống bình thường của chúng ở nông trại.
Hỏi : Kỹ thuật ngoại khoa là gì ?
GS Emmanuel Martinod :
1.Lấy đi vùng khí quản bị thương tổn.
2. Tái lập một đường dẫn khí với mẫu ghép động mạch chủ (greffon aortique) (5-6cm).
3. Đưa vào trong mẫu ghép này một stent.
4. Bọc mẫu ghép với một cơ của cổ hay của ngực được tưới máu tốt (bổ sung mạch máu).
5.Bảo tồn phổi bệnh để điều trị nó, chỉ lấy đi thùy ở đó có ung thư.
Hỏi : Những kết quả là gì ?
GS Emmanuel Martinod : Trên 13 bệnh nhân được mổ, chỉ một người bị chết 90 ngày sau vì một tai biến mạch máu não nguyên nhân không được biết rõ. Không có một biến chứng nào do mẫu ghép hay stent. Thời gian nhìn lại của chúng tôi (recul) là 7 năm đối với bệnh nhân cũ nhất và 9 năm đối với bệnh nhân mới nhất. Sự biến hóa của mẫu ghép động mạch chủ thành một ống dẫn sụn (conduit cartilagineux) thuộc loại khí quản luôn luôn xảy ra, nhưng một cách thay đổi (5-39 tháng).
Hỏi : Những áp dụng chính của ghép khí quản là gì ?
GS Emmanuel Martinod : Những áp dụng mà tôi vừa trình bày, được mở rộng cho những bệnh nhân bị một ung thư tuyến giáp xâm chiếm khí quản, ghép cho phép cứu được chức năng phổi.
(PARIS MATCH 28/6-4/7/2018)

10/ NHỮNG VẬN ĐỘNG VIÊN BÓNG ĐÁ NHẠY CẢM HƠN Ở ĐẦU
Trong bóng đá, đầu gây chấn thương hơn nhiều đối với não của phụ nữ so với não của đàn ông, theo kết quả của chụp hình ảnh não. Những thương tổn của mô thần kinh lan rộng năm lần nhiều hơn và liên quan nhiều vùng hơn ở những nữ vận động viên không chuyên nữ so với những vận động viên không chuyên nam đã từng làm gần 500 cú đánh đầu trong năm. Có lẽ do một cái cổ ít cơ hơn làm cho đầu chịu một sự gia tốc mạnh hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/10/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s