Thời sự y học số 481 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ ĐIỀU MÀ MỌI NGƯỜI CẬN THỊ CẦN PHẢI BIẾT
2050 : Từ nay đến 2050, một nửa dân số thế giới sẽ bị cận thị, nghĩa là 5 tỷ người.
Ta đếm được hai lần nhiều những người cận thị hơn so với cách nay 40 năm. Thế mà rối loạn thị giác này gây nên những biến chứng ít được biết đến bởi những người cận thị.VUE. Từ nay đến năm 2050, một nửa dân số thế giới sẽ bị cận thị, điều này đó là 5 tỷ người cận thị. Trong số này, một tỷ sẽ bị một cận thị nặng (cần một sự điều chỉnh ít nhất 6 dioptrie), được xem như là có nguy cơ nhất bị những biến chứng mắt. Thế mà những người cận thị không luôn luôn được đả thông.” Sự hiện hữu của những cận thị mạnh không phải là một hiện tượng mới, BS Laurent Benzarken, trưởng khoa mắt ở bệnh viện Robert-Ballanger (Aulnay-sous-Bois) đã nhận xét như vậy. Dấu vết của những tác phẩm có kích thước rất nhỏ đã được tìm thấy với cả một đoạn văn chứa trong một đồng tiền ! Để viết được nhỏ như vậy, phải có một cận thị mạnh đến độ hôm nay không một con người nào có khả năng như vậy.”
Nếu đã có vài trường hợp cận thị ngoại lệ trong quá khứ, điều thay đổi hôm nay, đó thật sự là sự bùng nổ của những cận thị nhỏ, trung bình hay mạnh. Nếu chúng chỉ đặt vấn đề về sự điều chỉnh bằng lunettes, lentilles hay chirurgie réfractaire, điều đó cũng không nghiêm trọng lắm. Nhưng những cận thị này được kèm theo một nguy cơ gia tăng những biến chứng : đục thủy tinh thể sớm, glaucome măn tính, bong võng mạc.. ” Là cận thị, đó là có một con mắt quá dài, BS Damien Gatinel, trưởng khoa mắt của Fondation Rothchild (Paris) đã định rõ như vậy. Điều này có thể tạo điều kiện cho một sự kéo những cấu trúc bên trong của mắt, làm chúng dễ vỡ và tạo điều kiện cho những vấn đề khác nhau này. Và nguy cơ này càng lớn khi chứng cận thị càng mạnh (và vậy khi mắt càng dài) và/hay nó tiếp tục tiến triển đến tuổi trưởng thành không ổn định. Vì những lý do này, tất cả những người cận thị phải được theo dõi nhãn khoa suốt đời. Chú ý, sự việc đã nhận một chirurgie réfractaire vì chứng cận thị (nhằm remodeler giác mạc để thấy rõ không cần đeo kính hay lentille) không hề miễn sự theo dõi này bởi vì chiều dài của mắt không biến đổi và do đó, những biến chứng đi cùng với nó cũng vậy.”
Không phải tất cả những người cận thị đều bị những biến chứng. Tuy nhiên nguy cơ bị một đục thủy tinh thể sớm (cataracte précoce) là khá quan trọng. Trong trường hợp này, lentille tự nhiên nằm trong mắt (thủy tinh thể) trở nên đục : thị lực giảm sút, tính nhạy cảm đối với ánh sáng chói gia tăng, sự tri giác màu bị biến đổi. Nếu những người hưu trí dự kiến một ngày nào đó sống với khả năng có thể xảy ra này, những người 50, 40 và 30, ít hơn nhiều !
” Tuy vậy đó là điều rình chờ nhiều người cận thị, thường bị cùng lúc hai mắt. Vì nhân của thủy tinh thể của họ trở nên mờ đục, do đó có tên “cristallin nucléaire “, sự mờ đục này ngăn cản một phần của ánh sáng đến tận võng mạc và làm lệch đường đi của các tia sáng còn hội tụ hơn trước võng mạch, do đó một sự nặng thêm của chứng cận thị. Không có lựa chọn nào khác là mổ. Trong trường hợp này, thầy thuốc nhãn khoa sẽ thay thế thủy tinh thể trở nên mờ đục của họ bằng một implant correcteur, cho phép họ tìm lại một thị giác gần như bình thường mà không một điều chỉnh nào (không kính, không lentille) hay với một sự điều chỉnh tối thiểu đối với sự nhìn xa sau can thiệp. Sự đặt một implant multifocal (điều chỉnh sự nhìn gần cũng như nhìn xa) không có gì là hệ thống ở những người cận thị, bởi vì những implant này có thể biến đổi một ít thị giác tương phản (vision des contrastes) và do đó làm trở ngại thị giác trong tranh tối tranh sáng (pénombre) và/hoặc tạo điều kiện cho sự tri giác những quầng sáng gây khó chịu. Vậy thầy thuốc nhãn khoa có thể đề nghị “technique de la bascule” (hay “monovision”) nhằm điều chỉnh mắt trội (oeil dominant) bằng một implant cho phép tìm lại một thị giác trung gian tốt và một thị giác xa đúng đắn trong khi mắt bị trội (oeil dominé) được điều chỉnh bởi một implant cho phép đọc gần một cách hoàn hảo. Sau đó chính não lựa chọn giữa những hình ảnh rõ và mờ mà não nhận từ hai mắt, điều này cho phép thấy rõ gần và xa. Hai mắt có thể được mổ cách nhau một tuần nếu cần (không cùng lúc)”, BS Benzacken đã giải thích như vậy.
Những cataracte sớm này thường xảy đến không đúng lúc, ở những người còn đang hoạt động, nhưng khi cho phép tìm lại một thị lực tốt, chúng mang lại một ” sự sống thứ hai ” cho người cận thị được mổ ! Nhưng tuần trăng mật thị giác này đôi khi bị hoen ố bởi sự xơ hóa của túi thủy tinh thể (sac cristallinien) (cataracte secondaire). Không cần một cuộc mổ mới : một séance de laser là đủ. Vậy khi biến chứng duy nhất của cận thị là một cataracte sớm, điều đó không nghiêm trọng lắm. Vấn đề thật sự, đó là những biến chứng khác đe dọa tiên lượng sinh tồn.
(LE FIGARO 3/9/2018)

2/ NHỮNG BIẾN CHỨNG KHÁC HIẾM HƠN VÀ NGHIÊM TRỌNG HƠN CỦA CẬN THỊ
Những biến chứng của cận thị, khác với đục thủy tinh thể, là xảo trá và nguy hiểm hơn. ” Những ứng lực tác động bởi một mắt quá dài lên những cấu trúc bên trong của mắt, cũng như sự lớn lên của thủy tinh thể trong trường hợp cataracte, có thể tạo điều kiện cho sự xuất hiện của một glaucome mãn tính, im lặng trong thời gian dài “, GS Damien Gatinel (Fondation Rothschild, Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
Thật vậy, nhãn cầu là một vỏ không dãn (coque inextensible), trong đó một chất dịch được tiết ra một cách thường trực (bình thường chất dịch này được thải qua một canal). Trong trường hợp bị chướng ngại hay bị biến đổi cơ thể học, dịch vẫn ở bên trong mắt và áp lực gia tăng, đè ép những sợi của dây thần kinh thị giác. Dây thần kinh này cũng có thể bị căng ra do sự kéo dài của mắt cận thị. Khi sự giảm thị lực xuất hiện, dây thần kinh thị giác đã bị thương tổn nhiều và điều đã bị mất không thể phục hồi lại được.
Những thuốc nhỏ mắt, thậm chí một phẫu thuật vi xâm nhập (để cho phép dịch quá đầy được thải đi) có thể giải quyết vấn đề, nhưng còn phải biết rằng những sợi của dây thần kinh thị giác bị đe dọa. ” Và đó là tất cả vấn đề ở người cận thị, BS Gatinel nói tiếp. Thật vậy, những con số được tìm thấy khi đo áp lực nội nhãn không luôn luôn phản ánh sự hiện diện hay tầm quan trọng của một glaucome. Điều đó còn tệ hơn sau một chirurgie réfractaire vì những nguy cơ sai lầm khi đó lại còn cao hơn. Vì vậy sự theo dõi không chỉ nhằm vào nhãn áp, mà còn phải thực hiện thị trường (champs visuel) đều đặn và theo dõi gai mắt (papille) của dây thần kinh thị giác ở đáy mắt.”
HÃY COI CHỪNG NGAY NHỮNG DẤU HIỆU ĐẦU TIÊN
Một mắt quá dài cũng có thể kéo lên võng mạc và gây nên những vết rách, thậm chí một bong võng mạc, nghĩa là một sự mất dính giữa võng mạc và corps vitré (gel visqueux chiếm khoảng sau thủy tinh thể). Mặc dầu chỉ có 7% đến 8% những người cận thị bị loại biến chứng này, mức nghiêm trọng tiềm tàng biện minh cần phải biết những triệu chứng.
Sự tri giác những chớp sáng xanh, mà vị trí là cố định trong ngoại vi của thị trường, thường là dấu hiệu đầu tiên. Võng mạc có thể chảy máu, điều này được thể hiện bởi sự tri giác một mưa những giọt đen nhỏ, dường như xuất hiện từ không đâu. Và nếu võng mạc thật sự bong ra, khi đó xuất hiện một voile noir mờ đục, lớn lên và sau cùng che phủ tất cả thị trường của mắt bị thương tổn.
” Ở giai đoạn rách võng mạc, còn có thể can thiệp bằng laser. Nhưng vào giai đoạn bong võng mạch, không có lựa chọn nào khác là phải được mổ bởi một ophtalmologiste radiologue, khi đó sẽ thực hiện một photocoagulation”, BS Laurent Benzacken (bệnh viện Robert-Ballanger, Aulnay-sous-Bois) đã nói như vậy.
Tuy nhiên nhung tin vui đối với những phụ nữ có thai và cận thị : ” Trong khi ngày xưa ta hằng nghĩ rằng các phụ nữ phải sinh bằng césarienne để tránh chuyển dạ làm dễ sự bong võng mạc, các công trình đã cho thấy rằng đó không phải là vô ích “, BS Gatinel đã trấn an như vậy.
(LE FIGARO 3/9/2018)

3/ CHÍNH CÁCH NGỦ CỦA TÔI ĐẶT VẤN ĐỀ
Marie Valeray, 24 tuổi, nữ kỹ sư môi trường, bị cận thị từ năm 6 tuổi. ” Bị cận thị mạnh (-7 dioptries) và hơi loạn thị, tôi luân phiên giữa lunettes và lentille tùy theo hoạt động của tôi. Nhưng trái với mẹ tôi còn cận thị hơn tôi (-8 dioptries), chứng cận thị của tôi không được ổn định, như đó là trường hợp của phần lớn những người cận thị sau 18 tuổi. Bị trở ngại vì sự trở nặng này (nhất là ở mắt phải, khó hiệu chính nhất) và sau đó bị phiền nhiễu lúc lái xe vào ban đêm vì những quầng màu (halo coloré) xuất hiện ngay khi tôi gặp một chiếc xe khác, mở tất cả đèn xe, tôi đã qua những thăm khám mới. Cuối năm 2015 người ta đã chẩn đoán tôi bị một kératocône. Trước đây tôi đã không bao giờ nghe nói điều đó và vì vậy tôi khuyến khích mọi người bị những quầng sáng vào đêm (halos de nuit) phải nói điều đó với thầy thuốc của họ.”
” Chính cũng vào cơ hội này mà thầy thuốc nhãn khoa đã giải thích với tôi rằng một sự đè lên giác mạc có thể chịu trách nhiệm. Trước hết chúng tôi đã nghĩ đến một sự đè quá mạnh khi dụi mắt, nhưng kératocone đã tiếp tục tiến triển bên phải trong khi tôi rất chú ý. Sau điều tra, cuối cùng cách ngủ của tôi dường như là vấn đề : thật vậy, tôi ngủ nằm sấp, đè lên tay phải, điều này gây một lực đè lên giác mạc của tôi ! Vậy sắp đến tôi phải làm một thử nghiệm với một coque protectrice lên mắt. Dĩ nhiên tôi đã báo động những người thân cận về nguy cơ mà ít ai biết này.”
Đối với Mathilde Lyon, 53 tuổi, cận thị và làm việc bằng ordinateur, biến chứng có một dạng khác : ” Trong khi chứng cận thị của tôi hoàn toàn ổn định từ 35 năm nay, những lentille của tôi đột ngột không còn đủ nữa. Sau cùng khi tôi đi khám thầy thuốc nhãn khoa sau 6 tháng chờ đợi, tôi được biết rằng tôi chỉ còn thị lực 1/10 ở mắt trái và một cataracte rất tiến triển ở hai mắt. Tôi rất ngạc nhiên bởi vì đối với tôi, cataracte, không phải trước 70 tuổi và tôi đã không bao giờ nghe nói về tố bẩm của những người cận thị với biến chứng này ! Nhanh chóng được mổ mỗi mắt cách nhau 8 ngày, tôi đã có thể đánh giá sự thay đổi sau mổ và nhờ implant được đặt thay cho thủy tinh thể, tôi đã tìm lại một thị giác tốt không điều chỉnh. Đối với tôi, từng mang lentille từ 17 năm nay, đó là kỳ diệu khi thấy rõ sau khi thức dậy.
(LE FIGARO 3/9/2018)

4/ NGUỒN GỐC CỦA KERATOCONE
Kératocône là một biến dạng và một sự mỏng lại của màng ngoại biên của mắt (giác mạc), nguồn gốc của một chứng cận thị tiến triển (myopie évolutive). Thế mà, BS Damien Gatinel (Fondation Rothschild, Paris) nghĩ đã khám phá mới đây nguyên nhân của bệnh này. ” Mặc dầu có thể có một một phần di truyền, nhưng chính sự kiện dụi mắt là nguyên nhân, nhất là khi dụi mạnh và được thực hiện với các đốt ngón tay hơn là với búp ngón tay. Cấu trúc của mô giác mạc khi đó bị đe dọa bởi những ứng lực (contrainte) lên mô này khi dụi mạnh mắt. Vài thời kỳ trong ngày thuận lợi cho điều đó như buổi sáng lúc thức dậy hay sau một séance kéo dài trên ordinateur hay sau khi lấy lentille ra hay maquillage. Vì động tác là như máy, những người thân cận phải báo động và chuyển thông điệp rằng dụi mắt có thể nguy hiểm”, BS Gatinel đã nhấn mạnh như vậy.” Trong trường hợp keratocône, có cách điều chỉnh những rối loạn thị giác gây nên, bằng cách mang những lentille đặc biệt, laser, những anneaux intracornéens, vitamine B12 liên kết với những UVA để làm cứng giác mạc, nhưng điều đó không luôn luôn đủ. Khi đó ghép giác mạc có thể được xét đến như biện pháp cuối cùng”, BS Laurent Benzacken (bệnh viện Robert Ballanger, Aulnay-sous-Bois) đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 3/9/2018)

5/ CHỨNG CẬN THỊ BÙNG NỔ.
Gần một nửa dân số thế giới sẽ bị cận thị vào năm 2050 (so với 23% năm 2000). Cộng tác với GS Nicolas Leveziel, trưởng khoa mắt của CHU de Poitiers, nhóm Krys tiến hành thăm dò nghiên cứu rộng rãi nhất của Pháp từng được thực hiện về chủ đề này. Công trình này bắt đầu 8 năm và được thực hiện trên 4,7 triệu người. Những dữ kiện sơ bộ phát hiện rằng 44% những người Pháp 18 tuổi bị cận thị cũng như 27% từ 0-6 năm ! Những yếu tố nguy cơ di truyền hiện hữu nhưng còn có những yếu tố di truyền nữa, bởi vì lối sống của chúng ta hiện nay thiếu ánh sáng tự nhiên, điều này tạo điều kiện cho chứng cận thị phát triển. Sau đây là những biện pháp phòng ngừa đơn giản : cho trẻ tiếp xúc nhiều hơn ánh sáng ban ngày, sử dụng những chiếu sáng giàu ánh sáng đỏ và tránh buổi tối nhưng écran và nhưng đồ chơi phát ánh sáng xanh.
(LE FIGARO 6/9-12/9/2018)

6/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME) : SỰ CẦN THIẾT HÀNH ĐỘNG SỚM
GS Amaria Baghdadli, trưởng département universitaire de psychiatrie de l’enfant et de l’adolescent, CHU de Montpellier, giải thích căn bệnh này và sự điều trị.
Hỏi : Định nghĩa của bệnh tự kỷ (autisme) ?
GS Amaria Baghdadli. Đó là một rối loạn phát triển của não làm hỏng hoạt động của nó.Những dấu hiệu lâm sàng rất đa dạng ; đi từ sự vắng mặt hoàn toàn ngôn ngữ đến những ngón khéo léo ngôn ngữ (habiletés langagières) tuyệt vời, đi từ một sự chậm phát triển trí thông minh đến điều trái lại (cerveau surdoué), đi từ sự hiện diện của những rối loạn tâm lý đến sự vắng mặt của chúng, nhưng với 3 nét chung và không thay đổi : một sự giao tiếp xã hội (communication sociale) khó khăn, sự hiện hữu của những hành vi đặc biệt lập lại máy móc, những hứng thú giác quan không bình thường (thí dụ thị giác).
Hỏi : Ở Pháp, bệnh này xảy ra ở bao nhiêu người ?
GS Amaria Baghdadli. Khoảng 1% các trẻ em và 1% những người trưởng thành, con trai ba lần nhiều hơn con gái, lý do không được biết rõ. Nói chung những rối loạn bắt đầu giữa 12 và 18 tháng nhưng đôi khi muộn hơn, vào thời kỳ thiếu niên hay ở tuổi trưởng thành, khi bệnh nhân đến khi đó đã có thể bù những khó khăn của mình.Hỏi : Ta có biết nguyên nhân của bệnh tự kỷ, những yếu tố nguy cơ, cơ chế của nó không ?
GS Amaria Baghdadli. Nguyên nhân vẫn không được biết và cơ chế của nó vẫn không được làm sáng tỏ. Trái lại, hàng loạt những yếu tố nguy cơ đã được nêu lên. Chỉ có 3 yếu tố có một mức chứng cớ cao. 1. Một tố bẩm di truyền được tìm thấy trong gia tộc 8 trường hợp trên 10, gợi ý rằng bệnh tự kỷ không được truyền bởi cha mẹ nhưng là do sự hợp lại của hai gènes parentaux. 2. Tuổi của cha mẹ : lúc thụ thai, nguy cơ gia tăng 30% nếu mẹ trên 35 tuổi và 40% nếu cha trên 40 tuổi. 3. Một thuốc chống động kinh, valproate de sodium (Depakine), bị cấm ở những phụ nữ có thai hay ở những phụ nữ dự kiến có thai, bởi vì 30 đến 40% những trẻ em sinh ra từ các bà mẹ sử dụng thuốc này bị bệnh tự kỷ. Những yếu tố nguy cơ khác đôi khi được đề cập (ô nhiễm, thuốc trừ sâu..) là không chắc chắn (vaccins).
Hỏi : Những dấu hiệu gợi bệnh là những dấu hiệu nào ?
GS Amaria Baghdadli. Chẩn đoán thuần lâm sàng bởi vì không có những chỉ dấu đáng tin cậy của bệnh tự kỷ (sinh học, X quang hay khác). Sự vắng mặt tiếng nói líu lo hay những lời ở một trẻ từ 18 đến 24 tháng, sự vắng diễn đạt bằng những động tác hay sự vắng phản ứng khi ta thúc nó hay khi ta gọi nó, khi nó không bị điếc, là những dấu hiệu báo động. Từ 18 tháng đến thời kỳ thiếu niên, những khó khăn ngôn ngữ, tương tác xã hội, sự trở nặng với thu mình lại báo động cha mẹ nếu trước đó họ không lo lắng, điều này hiếm, nhất là thêm vào đó những hành vi lặp đi lặp lại bất thường như nhìn trong nhiều giờ tambour xoay của một máy giặt, thắp và tắt đèn 50 lần liên tiếp…Ở tuổi trưởng thành, lâm sàng rất biến thiên : khi thì bị trầm trọng, khi thì được cải thiện một cách ngoạn mục hay một cách đơn giản được giảm bớt, liên kết với những rối loạn khác, như một lo âu quan trọng và, trong 30% các trường hợp, liên kết với một thiếu sót mãn tính về sự chú ý, làm rối loạn việc học hành. Những người không bị thiểu năng (déficit intellectuel) lúc khởi đầu có những tiến triển thuận lợi nhất.
Hỏi : Những khuyến nghị mới nhất của Bộ y tế ?
GS Amaria Baghdadli. Kẻ thù là sự chậm phát triển trí tuệ, làm trầm trọng bệnh tự kỷ. Ta càng hành động sớm để cải thiện những chức năng nhận thức (fonctions cognitives) và sự thuần thục của não, ta càng giảm bới cường độ của rối loạn này. Những tiến bộ đôi khi rất quan trọng được quan sát ngay tháng thứ sáu của điều trị. Sự điều trị này bao gồm những auxiliaire de puériculture sử dụng những phương pháp được chuẩn nhận nhằm phát triển nhận thức, mở rộng champ d’intéret bằng cách thu hút sự chú ý của nó, sự đào tạo cha mẹ theo những phương pháp làm việc này trong khoa cùng chúng tôi, một rééducation orthophonique hay một kinésithérapie, tùy theo nhu cầu. Socialisation trong các nhà trẻ rồi trong môi trường học đường bình thường là có lợi. Những aide de vie scolaire đảm bảo một assistance individuelle để học hành (đọc, viết, đếm). Chính phủ muốn ủng hộ những biện pháp này và giảm bớt những dịch vụ không được đảm nhận bởi Sécurité sociale.
(PARIS MATCH 23/5-30/5/2018)

7/ ĂN ÍT PROTEINE HƠN HẠN CHẾ SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NHỮNG TẾ BÀO UNG THƯ.
Bằng cách biến đổi, ở chuột, không phải số calorie được tiêu thụ, mà chế độ ăn uống của chúng, équipe của Jean-Ehrland Ricci (Đại học Côte d’Azur/Inserm) đã chứng minh rằng một sự giảm bớt 25% các protéine hạn chế sự tăng trưởng ung thư trong lymphome, mélanome và ung thư đại trực tràng.
Điều đáng ngạc nhiên, đó là không phải do sự thiếu protéine, mà là stress mà nó gây nên : ” Giảm cung cấp protéine gây stress cho những tế bào ung thư nhiều hơn những tế bào khác. Khi đó chúng phóng thích những phân tử làm kích hoạt những tế bào miễn dịch. Những tế bào này sẽ đáp chống lại những tế bào ung thư “, Jean-Ehrland Ricci đã giải thích như vậy. Kết quả : sự tăng trưởng của các ung thư 3 lần ít nhanh hơn. Những nghiên cứu này là một nguồn hy vọng đối với y khoa. ” Chống lại các ung thư, sự hạn chế calorie là một hướng đang lưu ý. Nhưng một sự tiết thực khó có thể xét đến ở những bệnh nhân ung thư, thường suy dinh dưỡng. Một chế độ nghèo protéine dễ theo hơn.”
(SCIENCE ET VIE 6/2018)

8/ SỰ KHÁM PHÁ CỦA CÁC TIA X
Trước khi phát hiện những trường hợp của phát minh này, cần có một lời mào đầu ngắn : chính nhà vật lý người Anh William Crookes đã khám phá những điện tử (éléctrons) ; đó là những phân tử điện tích âm xoay quanh một nhân để tạo thành những nguyên tử. Vào năm 1891, Crookes đã chứng thực rằng lúc cho một dòng điện điện thế cao đi qua trong những điện cực kim loại được đặt trong một ống thủy tinh với chân không, có một ánh sáng được phát ra. Nhưng tại sao như vậy ? Bởi vì điện đã kéo các điện tử ra khỏi những nguyên tử kim loại. Những điện tử này, điện tích âm, dồn về điện cực kia của ống thủy tinh, điện tích duong, đồng thời phóng thích một năng lượng ánh sáng. Như thế điện, lúc đi xuyên qua kim loại, có cùng tác dụng như gió trên một bãi biển khi nó cuốn những hạt cát lên !
4 năm sau, ngày 8 tháng 11, Wilhelm Rontgen, một nhà vật lý người Đức khiêm tốn, làm việc một cách yên lành tại nhà mình, một cách chính xác trên một “tube de Crookes”. Thình lình do một cảm hứng kỳ lạ, ông quyết định bọc ống bằng carton đen và cho đi qua trong carton đen này dòng điện rồi, “để xem” có gì xảy ra không, tắt đèn trong căn phòng không cửa sổ trong đó ông làm việc.
Khi đó ông quan sát thấy điều này : không một ánh sáng nào thoát ra từ tube de Crookes này bởi vì ống được bọc rất kín. Nhưng cách ống này 1m, xuất hiện một ánh sáng lờ mờ…Trong khi nóng nảy quẹt một que diêm, ông nhận thấy rằng ánh sáng này phát xuất từ một bản kim loại bằng baryum được đặt ở đó. Khi đó ông tự hỏi, phải chăng có thể rằng các tia vô hình đi ra từ tube de Crookes để đến, trong bóng tối, in đoạn kim loại này ? Ông kiểm tra montage, lập lại thí nghiệm. Không nghi ngờ gì nữa, hiện tượng được lập lại cứ mỗi lần thí nghiệm. Sự cảm hứng kỳ lạ của nhà thông thái người Đức không có gì khác hơn điều mà ta gọi là ” một trực giá thiên tài “. Điều này đã dẫn ông đến sự khám phá của những tia không được biết. Những tia mà không một ai trước ông đã từng mô tả, Rontgen gọi chúng bằng chữ X, biểu tượng quốc tế được sử dụng bởi những nhà vật lý để chỉ một hiện tượng không được giải thích. Thật vậy, ông không hết ngạc nhiên. Trong tháng 11 và tháng 12 năm 1895, ông cố gắng định đặc điểm những tia này. Ông ghi nhận rằng chúng có thể đi xuyên qua một cánh cửa bằng gỗ. Lại còn phi thường hơn, nếu ông, nhà vật lý, xen vào giữa tube và barium, barium này sáng lên, bằng cớ rằng các tia cũng đi xuyên qua ống. Và có thể tất cả các mô sống khác, ông nghĩ như vậy. Một cách rất logic, điều này khiến ông thay thế barium bằng một bản ảnh (plaque photographique).
Thật là kỳ diệu, ông có được bức ảnh đầu tiên của lịch sử khoa học, đó là bức ảnh của vợ ông Anna Bertha. Không một người đàn ông nào trước ông đã có thể chiêm ngưỡng một bức ảnh bên trong của cơ thể con người như thế ! Ngay từ đó một chuyện đều dồn dập. Vào ngày 28 tháng 12 năm 1895, Roentgen tổ chức một cuộc họp báo. Trong vài ngày, cái tin khó tin này được phổ biến trên thế giới. 13/1/1896, nhà vật lý đã làm một buổi chứng minh ở Berlin trước hoàng đế Guillaume II. Sự rửa phim cần khoảng 30 phút, trong đó Roentgen biến mất khỏi cử tọa. Nhưng khi ông trở lại cho xem cliché, cử tọa đồng loạt đứng dậy để hoan hô như sấm nổ ! Rõ ràng là, từ nay sẽ có thể chọc thủng những bí mật thầm kín nhất của một cơ thể mà cho đến khi đó đã bị cất dấu. Radiographie ra đời từ đó. Với những công trình của mình, Roentgen nhận giải Nobel vật lý năm 1901.
Mặc dầu còn phải có thời gian để thuyết phục những thái độ ngập ngừng của y sĩ đoàn, vào thời kỳ đó còn rất bảo thủ và ngờ vực, và để tạo những máy hiệu năng hơn. Nhưng radiologie sẽ được bắt buộc như là một công cụ phát hiện và chẩn đoán không thể thay thế được, cho phép thấy bên trong vài cơ quan và mạch máu, và sau cùng cho phép cắt thành lát cơ thể con người từ cao xuống thấp với scanner : bằng numéralisation, chụp cắt lớp vi tính tình đến những mức độ hấp thụ khác nhau của các mô được các tia X đi xuyên qua, thể hiện chúng thành những hình ảnh dầu cho mật độ của chúng là gì.
Sự xuất hiện của IRM (imagerie par résonance magnétique nucléaire), chụp cơ thể con người không sử dụng các tia X, là một cuộc cách mạng khác. Một phương tiện kỹ thuật bổ sung, nhưng không phải vì vậy thay thế chụp hình ảnh bằng tia X và Roentgen, nổi tiếng khiêm nhường, thật thà và xã giao, sẽ đón chào nó như được dự kiến.
(PARIS MATCH 26/7-1/8/2018)

9/ RƯỢU LÀM TỔN HẠI NHỮNG NHIỄM SẮC THỂ CỦA CHÚNG TA MỘT CÁCH KHÔNG VÃN HỒI ĐƯỢC.
Ta biết rằng rượu sinh ra một độc chất, acétaldéhyde, góp phần vào sự phát triển của ung thư họng, thực quản hay vú. Một équipe nghiên cứu Anh vừa khám phá những chi tiết của tác dụng có hại của rượu : nó hoạt động trong những tế bào gốc, có nhiệm vụ tái sinh các cơ quan của chúng ta. Ở những con chuột đã uống rượu, équipe của Ketan Patel đã khám phá rằng acétaldéhyde có thể đánh vỡ chuỗi kép (double chaine) của phân tử ADN, sinh ra những dị dạng trong các nhiễm sắc thể. Mặc dầu, có những cơ chế bảo vệ và sửa chữa : enzyme ALDH biến đổi acétaldéhyde thành một phân tử vô hại và tiêu hóa được, acétate. Và những chỗ vỡ của ADN được sữa chữa bởi 3 cơ chế dán lại hay sao chép lại những phần bị phá vỡ nhờ enzyme FANCD2. Nhưng tất cả những biến dị không thể được sữa chữa một cách hoàn hảo : do đó những tổn hại vĩnh viễn được gây nên bởi rượu.
(SCIENCE ET VIE 4/2018)

10/ THẮNG ĐAU : SERTURNER ĐÃ KHÁM PHÁ MORPHINE
Thắng đau từ lâu đã được xem như là một ảo tưởng. Vào đầu thế kỷ XIX, cồn, mà ta biết chiet xuat từ thời Phúc Hưng, vẫn là phuong thuoc tốt nhất nhưng, trong phần lớn các trường hợp, khong dang ke và không thích ứng. Vào năm 1802, trong khi học nghề ở hiệu thuốc Cramer trong làng Paderborn, ở Đức, Friedlich Serturmer đã bắt đầu những công trình của mình. Sự bất lực của các dược sĩ để làm giảm đau đối với ông là một chủ đề ám ảnh cần suy nghĩ. Ham kiến thức, ông ngau nghiến những tác phẩm hóa học, botanique và những encyclopédie. Việc đọc sách của ông khiến ông quan tâm đến opium, phát xuất từ bao nang cua cay thuoc phien (capsule du pavot), mà những tác phẩm cũ, hy lạp, á rập, ba tư và ấn độ, chị như là khả dĩ nhất để giảm đau.
Cây này có lẽ chứa một khả năng gây ngủ tạo điều kiện cho giấc ngủ hay ít nhất làm dịu. Những khám phá nó như thế nào ? Làm sao chiết xuất khả năng gây ngủ này ? Theo vài bản văn, khi thì opium không hiệu lực, khi thì nó gây tử vong. Hiệu quả của nó dường như không thể tiên đoán được. Serturmer đã có ý tưởng trộn cây thuộc phiện với những sản phẩm khác nhau : nước cất, cồn, các dung môi. Một hôm trong khi ông đổ ammoniaque, ông có được nhung tinh thể trong suốt. Ngạc nhiên, ông rửa nó bằng acide sulfurique và cồn. Khi đó ông thu được một bột trắng.
Ông cần những cobaye. Ông bắt những con chuột và cho rồi trắc nghiệm trên chúng những tác dụng của bột bằng cách pha trộn nó với thức ăn bằng lượng thay đổi. Tùy theo động vật và liều lượng, những con vật không phản ứng hay thiu ngủ. Vài cobaye chết…
Những công trình của ông cần nhiều năm trong đó ông hoàn thành học tập để trở thành dược sĩ. Vào năm 1808, đánh giá rằng những thí nghiệm trên động vật của mình là chứng thực, ông quyết định thí nghiệm trên người, bắt đầu trên chính mình. Trộn bột với một chất gắn kết, ông chế tạo những hạt morphine rồi cân chúng. Ông ghi chú những tác dụng được cảm nhận sau hấp thụ, như là cảm giác sảng khoái đi trước sự ngủ gà. Nhưng cơ thể có thể chịu được gì ? Trong một buổi họp, ông đã có thể quan sát ở 3 người bạn của mình, những dấu hiệu gây nên bởi những lượng morphine gia tăng và những điều phiền ở liều cao (nôn, mửa, đau tiêu hóa, giấc ngủ, suy giảm hô hấp, vô cảm sâu). Những người tham gia rừ chối lập lại thí nghiệm. Ông tiếp tục một mình và, vào năm 1817, công bố ” Morphine, yếu tố chủ yếu của opium”, tác phẩm có hiệu quả của một quả bom. Không những ông đã khám phá morphine và là người đầu tiên thắng đau đớn, mà ông còn chứng tỏ rằng, từ một chất bề ngoài đơn giản, có thể chế xuất một chất khác có những tính chất rất mạnh. Đó là sự áp dụng vào các thực vật transmutation của các kim loại, giấc mơ của các alchimiste ! Ông chứng minh rằng ta có thể biến hóa những thành phần chung thành những thành phần hiếm.
Tất cả dược phẩm phải được xét lại dưới góc độ này. Các nhà thực vật học tràn đầy những kho tàng thực vật mà từ nay họ sẽ sàng lọc. Quinine được chế xuất từ vỏ của quinquina năm 1820, acide salicylique từ lá liễu năm 1929, digitaline từ digitale năm 1844…Trong thì đầu, Serturmer được thừa nhận bởi tất cả những đại học của châu Âu. Rồi, ông trở thành cái đích của những phê bình và những tấn công vì ganh tỵ. Những kẻ khéo léo sử dụng ngòi bút nhất cuoi nhao ông. Những âm mưu, những lời chửi rủa và ngay cả những sự vu khống đã buộc ông từ bỏ nghề dược sĩ…Nhưng không nghề điều chế viên thiên tài (préparateur génial). Biết bao nhiêu sự phụ bạc đã biến đổi tính tình của ông, trở nên bực tức cau có. Khi đó ông dành năng lực phát minh của mình không phải để làm giảm sự đau đớn của con người mà để giết số lượng lớn nhất một cách triệt để. Những khám phá của ông trong hóa học đã dẫn đến một hỗn hợp chì và antimoine, gia tăng tầm bắn của các đại pháo. Ông chế tạo một kiểu súng trường có thể nạp đạn một cách nhanh chóng bằng khóa nòng (culasse). Chính quyền Hanovre xem những phát minh này là rất yêu nước. Lần này được nhất trí, ông được hoan hô, được ăn mừng, được chiêm ngưỡng không hạn chế không dè dặt.
Ông chìm vào trong chứng điên và nghiện rượu. Những đợt thống phong khủng khiếp và những cơn viêm khớp hành hạ ông. Càng mỉa mai, morphine mà ong đã quá phụ thuộc trở nên bất lực không làm ông thuyên giảm. Ông, người đã chiến thắng đau đớn, đã chết năm 1841, bị hành hạ bởi sự đau đớn và trong một sự cô độc tuyệt đối.
(PARIS MATCH 2/8-8/8/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/9/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s