Cấp cứu hô hấp số 58 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HEN PHẾ QUẢN THỂ NẶNG
(ASTHME AIGU GRAVE)

Patrick Plaisance
Claire Broche
Laurent Ducros
Département d’Anesthésie-Réanimation-
SMUR. Hôpital Lariboisière
Philippe Sattonnet
CHR Metz-Thionville, Hôpital Bel-air

PHẦN I

I. NHẬP ĐỀ

1. ĐỊNH NGHĨA
Hen phế quản nặng (AAG) là một con bất thường đe dọa trong thời gian ngắn hạn tiên lượng sinh tồn. Tùy theo các nước, sự xếp loại của các giai đoạn trầm trọng của hen phế quản khác nhau. NIH (National Institute of Health) và BTS (British Thoracic Society) đã định nghĩa hen phế quản nặng như là một cơn có những dấu hiệu lâm sàng nghiêm trọng và một lưu lượng đỉnh (DEP) suy sụp đồng thời phân biệt giữa :
– Hen phế quản cực kỳ nặng (asthme de gravité extrême) được gọi là đe dọa mạng sống (life-threatening) với sự hiện diện của một hay nhiều dấu hiệu báo động (lú lẫn, hôn mê, thở nông, im lặng thính chẩn hay xanh tái) và/hoặc một DEP < 30% trị số lý thuyết hay tối ưu.
– Cơn bộc phát ” nghiêm trọng” (exacerbation “sévère”) với sự hiện diện của những dấu hiệu nghiêm trọng (khó thở nằm, những signes de lutte, vã mồ hôi, khó nói, kích động, tần số tim >/= 110/ phút, tần số hô hấp >/=30 chu kỳ/phút và/hoặc một lưu lượng đỉnh giữa 20 và 50% của trị số lý thuyết
– Cơn bộc phát “nhẹ đến trung bình” với vắng mặt những dấu hiệu nghiêm trọng và một lưu lượng đỉnh > 50%
Ở Pháp, vào năm 2002 Société de Réanimation de Langue Française (SRLF) đã cập nhật hội nghị nhất trí đầu tiên về xử trí các cơn hen phế quản thể nặng (AAG), được tổ chức năm 1988, bằng cách phân biệt :
– một mặt những dấu hiệu báo động làm sợ mort imminente : những rối loạn tri giác, nghỉ hô hấp (pause respiratoire), thở bụng nghịch lý, tăng thán huyết > 50 mmHg ;
– mặt khác, hen phế quản thể nặng mà những tiêu chuẩn chẩn đoán sẽ được nói chi tiết sau này.
Tóm lại, định nghĩa lấy lại những tiêu chuẩn chức năng, lâm sàng, với khó thở thở ra quan trọng đề kháng với điều trị giãn phế quản hít, dẫn đến những biến đổi của khí huyết động mạch (bình thậm chí tăng thán khí) và spirométrique (Lưu lượng đỉnh < 30% trị số lý thuyết hay tối ưu).
2. TRÌNH BÀY 6 VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
Trong bài này chúng ta sẽ đề cập 6 chương :
– dịch tễ học của hen phế quản thể nặng trong khung cảnh cấp cứu trong và ngoài bệnh viện.
– đánh giá mức độ nghiêm trọng trong thực hành lâm sàng
– những cạm bẫy chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt
– những loại thuốc chính trong điều trị hen phế quản thể nặng
– những chỉ định của nội thông khí quản và những phương thức của thông khí kiểm soát (ventilation contrôlée)
– trình bày algorithme de régulation médicale, xử trí và hướng định của hen phế quản thể nặng trong cấp cứu.
Mỗi chương sẽ được làm phong phú bởi những yếu tố được thu thập trong điều tra thực hành, được thực hiện bởi SAMU de France ở 26 SMUR (Services Mobiles d’Urgence et de Réanimation) trong 2 tháng với một nhóm 126 bệnh nhân.

II. DỊCH TỄ HỌC
Xét vì những khác nhau trong định nghĩa của hen phế quản thể nặng, khó có được những dữ kiện dịch tễ học có thể so sánh.
1. TỶ LỆ LƯU HÀNH
Hơn 10% dân chúng thế giới tuổi từ 13 đến 14 tuổi bị bệnh theo điều tra của Beasley, được công bố năm 1998. Ở Pháp, theo Centre de Recherche d’Etude et de Documentation en Economie de la Santé (CREDES), tỷ lệ lưu hành toàn bộ của hen phế quản là 5,8% và đang gia tăng một cách hằng định từ năm 1960.
2. TUỔI CHẨN ĐOÁN HEN PHẾ QUẢN
Ở Pháp, ở những bệnh nhân đến khoa cấp cứu vì cơn hen phế quản, tuổi chẩn đoán trung bình của bệnh hen phế quản là 23 tuổi, 40% được chẩn đoán trước tuổi 15 và 25% sau 35 tuổi. Tuổi trung bình khi bắt đầu bệnh hen phế quản đối với những bệnh nhân được đảm trách bởi SMUR vì hen phế quản thể nặng là 18 tuổi trong công trình nghiên cứu SEA (Score d’Evaluation de l’Asthme) và 22 tuổi trong điều tra của chúng tôi. Trong một trường hợp trên hai, đó là một mất bù của một hen phế quản xảy ra từng hồi và chỉ 10% những bệnh nhân này bị một bệnh hen phế quản nặng.
3. SỐ LẦN NHẬP VIỆN
Số trường hợp nhập viện được ước tính từ 50.000 đến 100.000 mỗi năm, trong đó 8000 đến 16.000 vì hen phế quản thể nặng, nhưng dường như bị đánh giá quá mức. Số những trường hợp được nhận vào hồi sức ổn định từ 10 năm nay. Trong điều tra ASUR (ASthme aux URgences), tỷ lệ nhập viện toàn bộ là 54% với một chênh lệch lớn tùy theo mức độ nghiêm trọng. Chỉ 77% những bệnh nhân với tiên lượng sinh tồn khởi đầu bị đe dọa và 55% bệnh nhân với một cơn bộc phát nặng đã được nhập viện trong khi 29% những cơn bộc phát vừa phải đã được nhập viện
4. TỶ LỆ TỬ VONG
Tỷ lệ tử vong vì hen phế quản thể nặng trong một số nước giảm một cách hằng định. Số những trường hợp tử vong vẫn là từ 1500 đến 2000/năm ở Pháp. Tỷ lệ tử vong ở Pháp đã chuyển từ 5,75 đối với 100.000 dân trong những năm 1970 xuống 4 đối với 100.000 dân vào năm 1990. Tuy nhiên có thể có một nhằn nhịt với những bệnh phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính (BPCO) và những mất bù tim trái vì lẽ một nửa những trường hợp tử vong này được quan sát ở những bệnh nhân tuổi trên 75.
Tuy nhiên tỷ lệ tử vong bệnh viện rất thấp : trong công trình nghiên cứu ASUR 1, Salmeron tuyên bố 4 trường hợp tử vong đối với khoảng 4000 bệnh nhân, và trong một công trình nghiên cứu tiền viện của Pháp, 5 trường hợp tử vong trên 276 bệnh nhân được điều trị (số này cao hơn vì lẽ mức độ nghiêm trọng quan trọng hơn của những bệnh nhân được xử trí bởi SMUR)
Như thế, mặc dầu tỷ lệ bệnh gia tăng hằng định từ năm 1960, ta quan sát một sự giảm tỷ lệ tử vong, có lẽ do một sự thông hiểu tốt hơn về giáo dục, về điều trị và về xử trí, nhất là trong khung cảnh cấp cứu. Barriot và Riou đã tìm thấy một sự hạ đáng kể của tỷ lệ tử vong do hen phế quản thể nặng ở Pháp, song song với một chiến lược gọi một cách hệ thống một xe SMUR đồng thời với sự xuất phát một sơ cứu đối với mọi appel vì một cơn hen phế quản.
5. NHỮNG MỨC TRẦM TRỌNG CỦA CÁC CƠN HEN PHẾ QUẢN
Lúc đến khoa cấp cứu của các bệnh viện Pháp, những loại cơn hen phế quản khác nhau được phân như sau : 25% có một tiên lượng sinh tồn bị đe dọa, 50% có những dấu hiệu bộc phát nặng và 25% có một cơn vừa phải. Theo một recueil prospectif, multicentrique, được thực hiện tren 276 bệnh nhân được xử trí tiền viện bởi SMUR, mới rõ là 23% các bệnh nhân được để lại ở nhà, 60% được chuyển đến cấp cứu và 17% được nhận trực tiếp vào khoa hồi sức. Sự vận chuyển được médicalisé đối với 69% những bệnh nhân này. Tất cả các bệnh nhân ban đầu có những dấu hiệu trầm trọng và 19% những dấu hiệu báo động (thở bụng nghịch lý) nhưng ta nhận xét rằng chỉ 46% của những bệnh nhân này cuối cùng đã được nhập viện. Tuy nhiên, dường như tỷ lệ tái phát của những bệnh nhân này trong 4 ngày sau can thiệp của SMUR là thấp.
6. ĐIỀU TRA THỰC HÀNH
Một étude prospective épidémiologique descriptive nationale về điều trị các bệnh nhân hen phế quản trọng tiền viện đã bắt đầu vào tháng sau năm 2004.Trong thì đầu, công trình tập hợp 26 SMUR và SAMU. Đó là điền một hồ sơ, đặc biệt được thiết lập cho mỗi cơn hen phế quản cấp tính dầu mức độ nghiêm trọng của nó như thế nào. 112 hồ sơ đầu tiên được thu nhận trong điều tra ESPACE (Enquete SMUR de Pratique sur l’Asthme et ses Caractéristiques Extrahospitalières) tiết lộ một tuổi trung bình của các bệnh nhân 41,8 tuổi.Tình trạng nghiêm trọng của các bệnh nhân có thể được can theo tình trạng nghiêm trọng được tìm thấy trong công trình SEA. Chủ yếu đó là một bệnh lý xảy ra vào ban đêm (61% những can thiệp giữa 20 giờ và 8 giờ), xử trí tại nhà (71%) sau khi gọi SMUR vì cơn hen phế quản (80% của những động cơ gọi cấp cứu).
Các bệnh nhân hầu như luôn luôn có một thể địa hen phế quản được biết (90%) và chủ yếu bị hen phế quản từng hồi (asthme intermittent) (52%). Thời gian hiện diện của équipe SMUR ở nơi can thiệp trung bình là 30 phút.

III. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG
1. NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ XUẤT HIỆN MỘT HEN PHẾ QUẢN NẶNG
Những société scientifique khác nhau ở Pháp và Anh (SRLF, NIH, BTS) dựa trên những dữ kiện hiện nay của văn liệu, công nhận rằng có một số những yếu tố nào đó góp phần vào sự xuất hiện của một hen phế quản cấp tính nặng, thậm chí có khả năng gây tử vong.
a. Facteurs sociodémographiques
Những điều kiện kinh tế-xã hội mong manh, những khó khăn học tập, tiếp cận điều trị hay lại nữa một tình trạng cô lập xã hội là bấy nhiêu những đặc điểm được tìm thấy ở những bệnh nhân nhập viện vì hen phế quản nặng. Cũng dường như rằng những người nam giới dễ bị hơn.
Theo công trình nghiên cứu SEA, 24% những bệnh nhân được xử trí bởi SMUR vì hen phế quản nặng sống trong một môi trường nghèo khổ trong khi 18% sống đơn độc. Trong điều tra của chúng tôi, những con số là 37% môi trường nghèo khổ và 20% những người sống đơn độc.
b. Lịch sử hen phế quản
Vài tiền sử trong bệnh hen phế quản được quy trong sự xuất hiện của hen phế quản cấp tính nặng :
– Nội thông khí quản vì hen phế quản cấp tính nặng
Trong công trình nghiên cứu ASUR, 1,8% những bệnh nhân có những dấu hiệu báo động hay một cơn bộc phát nặng đã được nội thông ít nhất một lần trước đó. 2% những bệnh nhân có một hen phế quản cấp tính nặng, được SMUR để lại ở nhà, có một tiền sử nội thông khí quản, 26% trong số được đưa trực tiếp vào phòng hồi sức đã được nội thông.
– Nhập viện phòng hồi sức vì hen phế quản cấp tính nặng
27% những bệnh nhân được xử trí bởi SMUR vì hen phế quản cấp
tính nặng đã được đưa vào hồi sức.
– Ít nhất hai lần nhập viện hay khám ở khoa cấp cứu trong năm trước
Hơn 30% những bệnh nhân bị hen phế quản cấp tính nặng đã được
nhập viện trong năm trước.
– Những cơn bộc phát trầm trọng đột ngột.
– Khám cấp cứu hay nhập viện trong tháng trước
– Tràn khí màng phổi hay tràn khí trung thất trong một hen phế quản
thể nặng.
– Tri giác kém tắc phế quản hay giảm cảm giác khó thở
– Bệnh tim hay hô hấp nghiêm trọng liên kết.
Điều tra ESPACE tìm thấy lại những dữ kiện có thể tương tự với những dữ kiện của văn liệu về những tiền sử nhập viện hay nội thông khí quản.Hen phế quản thể nặng thường xảy ra sau một thời kỳ hen phế quản không ổn định hay hội chứng đe dọa gồm những dấu hiệu sau đây :
– gia tăng tần số của các cơn, trở nên nhiều lần mỗi ngày
– khó thở ảnh hưởng lên những hoạt động hàng ngày
– các cơn ít nhạy cảm hơn đối với các beta2-agoniste
– gia tăng sự tiêu thụ của beta2-agoniste có thời gian tác dụng ngắn
– tắc phế quản nặng dần (hạ lưu lượng đỉnh)
– những thay đổi ban ngày của lưu lượng đỉnh > 30%, khó thở vào
lúc sáng sớm.
Tuy nhiên mức độ nghiêm trọng của cơn không tương quan với mức độ nghiêm trọng của bệnh. Thật vậy, trong công trình nghiên cứu ESPACE, 52% bệnh nhân trước đó bị một asthme intermittent và 20% một hen phế quản nhẹ.
c. Những yếu tố điều trị
Có trong điều trị thường lệ của bệnh nhân, những yếu tố làm gia tăng nguy cơ làm một cơn hen phế quản nặng thậm chí nghiêm trọng :
– tiêu thụ quá mức kinh điển các beta-agoniste có thời gian tác dụng ngắn (>/= 2 lọ/tháng) ;
– corticothérapie systémique trong thời gian dài hay mới đây cai điều trị này.
– cần một sự phối hợp ít nhất 3 classe thérapeutique khác nhau trong điều trị nền ;
– không dung nạp aspirine hay những AINS.
d. Những yếu tố xã hội tâm lý
Sau cùng vài đặc điểm loại xã hội-tâm lý được quy cho sự xuất hiện của hen phế quản nặng :
– vài rối loạn tâm thần hay tâm lý ;
– chối bị bệnh ;
– không tuân thủ những điều trị hay theo dõi ;
– tiêu thụ rượu, các thuốc an thần, chất ma túy ;
– chứng nghiện thuốc lá : 1 bệnh nhân trên 3 được xử trí hen phế quản cấp tính ở cấp cứu vẫn luôn luôn hút.
e. Xử trí tồi bệnh nhân
30% những bệnh nhân đến vì cơn hen phế quản không được theo dõi đều đặn. Một điều trị không thích đáng bởi các thầy thuốc cũng có thể dẫn đến sự xuất hiện của một hen phế quản nặng. Thật vậy, 42% các bệnh nhân đã tiếp xúc với một thầy thuốc trước khi đến khoa cấp cứu nhưng chỉ một nửa những bệnh nhân hen phế quản này được kê đơn một corticothérapie orale. Ngoài ra, chỉ 50% các bệnh nhân có một hen phế quản nặng ở khoa cấp cứu hít đều đặn corticoides và 20% sử dụng các beta-agoniste có thời gian tác dụng dài.
Mặt khác, vài trường hợp tử vong do hen phế quản nặng tiếp tục được mô tả như là xảy ra sau một sự sử dụng không thích hợp các thuốc chẹn beta giao cảm : những loại thuốc này bị chống chỉ định ở những bệnh nhân hen phế quản.
2. NHỮNG DẤU HIỆU NGHIÊM TRỌNG CỦA HEN PHẾ QUẢN CẤP TÍNH
Ta có thể phân biệt :
+ Những dấu hiệu báo động với nguy cơ chết gần kề
– những rối loạn tri giác, hôn mê
– im lặng lúc thính chẩn
– đu đưa ngực-bụng (balancement thoraco-abdominal)
– suy kiệt hô hấp, ngừng nghỉ hô hấp
– hạ huyết áp
– tim nhịp chậm, những rối loạn nhịp tim, ngừng tim hô hấp
– tăng thán khí
+ Những dấu hiệu nghiêm trọng xác định hen phế quản thể nặng
– kích động, lo âu ;
– khó nói hay ho ;
– khó thở khi nằm (orthopnée)
– xanh tía, vã mồ hôi ;
– co các cơ ức đòn chũm
– Tần số hô hấp > 30/phút
– Tần số tim > 120 /phút
– DEP < 30% trị số tối ưu hay được tiên đoán bởi bàn tính
– normocapnieTất cả các tác giả hiện nay dựa vào những trị số của DEP mặc dầu những trị số này, đối với cùng một cơn, rất biến thiên tùy theo bệnh nhân. Ngoài ra, điều được công nhận là một tham số duy nhất, dầu thế nào đi nữa, không thể đủ nhạy cảm hay đặc hiệu. Vậy lý tưởng là sử dụng một thang điểm (score) được nhất trí công nhận, có thể lập lại và không phải là có giá trị tiên lượng, nhưng thay đổi theo tiến triển lâm sàng với điều trị cấp cứu. Thật vậy, những bệnh nhân ở cùng mức độ nghiêm trọng có thể có một tiến triển hoàn toàn khác nhau mặc dầu họ có cùng tình trạng lâm sàng ban đầu. Vài score prédictif d’évaluation về mức độ nghiêm trọng được phát triển trong những khoa cấp cứu bệnh viện đã không chứng tỏ tính chất đáng tin cậy của chúng. Mặt khác hiện nay không có một score nào trong xử trí tiền viện.
Điều tra thực hành ESPACE từng cho thấy rằng chỉ 51% bệnh nhân đã đo DEP ít nhất một lần, rằng chỉ 18% có một máy đo ở nhà. Trong SMUR, đo DEP chỉ được thực hiện trong 51% những trường hợp và khi nó được thực hiện, kích thước của bệnh nhân (cần thiết cho việc tính DEP lý thuyết) chỉ được hỏi trong một nửa các trường hợp.
Một cố gắng thật sự cần được thực hiện ở các thầy thuốc để hệ thống hóa sự đo đơn giản này. Trị số của DEP được đo, so sánh với DEP lý thuyết, hiện nay là cái chỉ báo tốt nhat de xếp loại cơn, theo dõi tiến triển của nó và hướng định thái độ điều trị.
Sau đây là xếp loại cần ghi nhớ trong thực hành tiền viện :
DEP < 30% : Cơn hen phế quản cấp tính nặng
30% < DEP <50% : Cơn hen phế quản nặng
DEP > 50% : Cơn hen phế quản trung bình
Sự đo mạch nghịch lý (pouls paradoxal), không được sử dụng thường quy ở Pháp vì những lý do thực hành, có thể bỏ nhưng vẫn được khuyến nghị ở Hoa Kỳ. Khí huyết động mạch được khuyến nghị khi có những dấu hiệu nghiêm trọng, đặc biệt détresse respiratoire, một Sp02 < 92% ở khi trời hay một DEP < 30% sau điều trị ban đầu.
3. HEN PHẾ QUẢN TỐI CẤP (ASTHME SURAIGU)
Sự phân biệt giữa hen phế quản cấp tính nặng (asthme aigu grave) diễn biến dần dần với hen phế quản tối cấp (asthme suraigu) là quan trọng bởi vì những yếu tố khởi phát và tiến triển lâm sàng là khác nhau, như thế điều này chi phối sự xử trí của chúng.
Hen phế quản tối cấp (asthme suraigu) được định nghĩa như là một cơn hen phế quản với sự xuất hiện của những dấu hiệu báo động trong ba đến sáu giờ tiến triển. Nó xảy ra chủ yếu ở những bệnh nhân trẻ hơn, giống nam, và dễ bị hơn những lượng lớn dị ứng nguyên hay không dung nạp AINS sau khi dùng những thuốc này. Tình trạng căng thẳng và hoạt động vật lý cũng là những yếu tố khởi phát. Tuy nhiên sự hồi phục thường nhanh ngay cả đối với những bệnh nhân bị nội thông khí quản bởi vì sự co thắt phế quản chiếm ưu thế.
Trái lại, hen phế quản thể nặng (Asthme aigu grave) xuất hiện dần dần, có tiến triển chậm hơn nhiều (56% những bệnh nhân được nhận vào cấp cứu vì hen phế quản nặng có một cơn bộc phát từ hơn 24 giờ). Các bệnh nhân được điều trị bởi một équipe de SMUR trung bình sau 11 giờ tiến triển. Họ thường thú nhận một sự gia tăng tiêu thụ mới đây những beta2-agonistes dạng hít và những đợt này thường do một sự bất túc của điều trị nền với corticothérapie inhalée và bởi corticothérapie orale khi có một sự trầm trọng hô hấp. Yếu tố khởi phát thường là một bội nhiễm phế quản phổi, ở những bệnh nhân phái nữ. Phản ứng phế quản không những có tính chất co thắt (spastique) mà còn viêm, giải thích đáp ứng chậm với điều trị được bắt đầu.
4. NHỮNG YẾU TỐ KHỞI PHÁT
Một số những yếu tố đã được công nhận chịu trách nhiệm những cơn bộc phát của bệnh hen phế quản, trong số đó :
– nhiễm trùng đường khí trên hay dưới
– tiếp xúc với một dị ứng nguyên
– những điều kiện thời tiết
– stress
– ngừng điều trị
– dị ứng thuốc
Trong điều tra ASUR, Salmeron tìm thấy một yếu tố khởi phát ở 81% những bệnh nhân đến khám ở cấp cứu vì cơn bộc phát cấp tính của hen phế quản, đối với hơn một trường hợp trên hai, đó là một nhiễm trùng đường khí.

IV. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT VÀ NHỮNG BẪY CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán chính phải gợi lên trước những đợt ho tái diễn và “wheezing” là hen phế quản. Tuy nhiên, có một số bệnh lý nào đó cần được gợi lên trước một dyspnée sifflante ở người lớn :
1. Bệnh phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính (BPCO)
Mặc dầu sự phân biệt với Hen phế quản thể nặng là khó, nhưng điều này không thay đổi gì điều trị ban đầu dựa trên sự hít beta2-agoniste và bromure d’ipratropium.
2. Suy tim trái sung huyết (asthme cardiaque)
” Mọi cơn hen khởi đầu sau 60 tuổi là một suy tim cho đến khi có bằng cớ ngược lại”. Sự phân biệt giữa một cơn bộc phát hen phế quản (exacerbation asthmatique) và một phù phổi cấp là một vấn đề được đặt ra hàng ngày trong xử trí cấp cứu một khó thở, nhất là khi chẩn đoán hen được đặt ra sau 60 tuổi, khi có một ý niệm về viêm phế quản mãn tính liên kết với một chứng nghiện thuốc lá quan trọng hay khi bệnh nhân mang một bệnh lý tim. Những dấu hiệu hỏi bệnh, chức năng và lâm sàng có thể hữu ích : không bị hen phế quản khi còn bé, không bị dị ứng hay atopie, không thay đổi lối sống như dọn nhà, mới đây có được những animaux de compagnie, một điều trị nền loại chống cơn đau thắt ngực hay cao huyết áp, một đau ngực liên kết với khó thở. Việc cho beta 2-mimétique có hại trong trường hợp suy tim và sự cho nó “trong trường hợp” cần phải tránh. Khí máu động mạch cho thấy một nồng độ bicarbonate trên 30 mmol/L liên kết với một tăng thán huyết thuận lợi cho chẩn đoán BPCO.
Sau cùng, những định lượng của các men tim (CPKMB, troponine) cũng như của BNP (Brain Natriuretic Peptid) có thể là một đóng góp. Sự định lượng BNP là hữu ích để phân biệt suy tim trái với những khó thở do một nguyên nhân khác : dường như rằng, đối với phần lớn các tác giả, BNP có một giá trị tiên đoán âm tính lớn khi nó dưới 100 pg/mL. Ngược lại một nồng độ trên 500 pg/mL cho phép gợi một cách khá chắc chắn một suy tim trái. Đối với những nồng độ giữa 100 và 500 pg/mL, chẩn đoán dựa trên tình trạng lâm sàng của bệnh nhân cũng như dựa trên kết quả của những xét nghiệm ngoại lâm sàng khác. Tuy nhiên những xét nghiệm không thể thực hiện trong thực hành ở SMUR và lợi ích của chúng trong xử trí bệnh nhân cần phải đánh giá.
3. Nghẽn tắc động mạch phổi
4. Thâm nhiễm phổi bởi éosinophiles (maladie pulmonaire interstitielle)
5. Tắc cơ học đường khí (vật lạ, những u hiền tính hay ác tính)
6. Loạn năng thanh quản (dysfonction laryngée)
7. Loạn năng dây thanh âm
8. Ho gây nên bởi vài loại thuốc (inhibiteur de l’enzyme de conversion)

Reference : Actualités en Réanimation préhospitalières : Dyspnée aigue.
Journées Scientifiques de SAMU DE FRANCE 2004

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(28/8/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu hô hấp. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s