Thời sự y học số 479 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LÀM SAO GIÚP ĐỠ TỐT HƠN NHỮNG TRẺ SINH NON
7,4% sinh đẻ liên quan những trẻ sinh non vào năm 2010 ở PhápOBSTETRIQUE. Giữa 280 và 290 ngày, đó là thời gian tự nhiên của thai nghén ở loài người. Hoặc 41 tuần sau những kinh nguyệt cuối cùng, hay sau 41 tuần tắt kinh. Mọi trường hợp sinh xảy ra trước 37 tuần tắt kinh, vậy trước lúc bắt đầu của tháng thứ chín của thai nghén, theo định nghĩa là sinh non. Số những trường hợp sinh non này tiếp tục gia tăng trong đất nước của chúng ta. Chúng chiếm 7,4 % các sinh đẻ trong năm 2010 (khoảng 60.000) so với 5,9% năm 1995. 3 giải thích cho sự tăng cao này : những thai nghén muộn hơn, vậy cũng thường đa thai hơn, hoặc một nửa các trẻ sinh đôi sinh non, và nhiều trường hợp sinh được phát khởi trước khi đủ tháng hơn vì những lý do y khoa.
Nhưng những con số này che dấu những thực tế rất khác nhau : 85% là những trẻ sinh non vừa phải (32 đến 33 tuần tắt kinh) hay muộn (34-36 tuần tắt kinh), 10% là những grand prématuré (28-31 tuần tắt kinh), và chỉ 5% nhưng những trẻ sinh non cực kỳ (extrême prématuré), sinh dưới 28 tuần tắt kinh. Theo điều tra mới nhất Epipage-2, tỷ lệ sống sót toàn bộ năm 2011 của những trẻ sinh non sinh sau 32 tuần tắt kinh gần 99%, so với 52% đối với những trẻ sinh non sinh trước 26 tuần tắt kinh, và dưới 1% trước 24 tuần tắt kinh. Nếu 98% những trẻ sinh non sinh sau 32 tuần tắt kinh không có một bệnh lý trẻ sơ sinh nghiêm trọng nào, tỷ lệ này chỉ 48% trước 26 tuần tắt kinh. ” Sự đẻ non càng lớn, những nguy cơ biến chứng càng gia tăng, GS Jean-Christophe Rozé, pédiatre néonatologiste (CHU Nantes) đã giải thích như vậy. Với hai thời kỳ bản lề : trước 28 tuần, sự điều trị rất nặng nề, rất chuyên khoa, và hành trình của những trẻ sinh non cực kỳ này rất phức tạp. Và sau 32 tuần, bởi vì tỷ lệ tử vong và bệnh nặng khi đó giảm nhiều. Tuy nhiên, ngay cả ở 34-35 tuần, sự sinh non không được xem thường.”Những grand prématuré (sinh giữa tuần 27 và 31) có một nguy cơ cao bị những biến chứng tức thời hô hấp, tiêu hóa, và những thương tổn hay xuất huyết não. Đối với GS Stéphane Marret, neuropédiatre (CHU Rouen và Inserm), ” những tiến bộ rõ rệt đã cho phép làm giảm những biến chứng rất nặng này, đặc biệt những bại não (paralysie cérébrale), nhất là khi điều trị các bà mẹ bị đe dọa sinh non bằng corticoides. Chúng làm dễ quá trình thành thục của phôi thai nhi, giúp nó thích nghi với sự hô hấp ngoài tử cung và giảm bớt tần số của những xuất huyết nội sọ. Thường được liên kết, sulfate de magnésium cũng giảm bớt nguy cơ liệt não “.
Nhưng những grand prématuré cũng có một nguy cơ gia tăng bị những rối loạn về sau của sự phát triển vận động, thần kinh-nhận thức (neuro-cognitif) hay hành vi (comportemental). ” Nhiều yếu tố có thể biến đổi chương trình phát triển não của một trẻ sinh non. Nhưng chỉ sự kiện sinh non cũng là một yếu tố nguy cơ, bởi vì não của thai nhi bị lấy mất đi những chất được mang lại bởi người mẹ và nhau trong thời kỳ thai nghén “, thầy thuốc đã giải thích như vậy. Vì tình trạng sinh non đặt não của đứa bé trong một bối cảnh khác, những mạng não (réseaux cérébraux) được tổ chức mot cach hơi khác. Do đó một nguy cơ bị những bất thường chức năng (anomalie fonctionnelle), nhất là tăng cao ở những grand prématuré, thấp hơn đối với những trẻ sơ sinh vừa phải và muộn (prématurés modérés et tardifs), nhưng cuối cùng bị ảnh hưởng chừng ấy bởi vì xảy ra nhiều hơn nhiều.
Những rối loạn này có thể được biểu hiện trên bình diện vận động bởi một sự chậm bước, nhưng sau đó trở nên bình thường. Nhưng thường gặp nhất là những rối loạn của phát triển cognitif : chậm nói (langage oral) hay muộn hơn, chậm viết, những rối loạn của những chức năng thực hành hay những rối loạn của sự chú ý. Chúng được biểu hiện bởi một dysplexie, dysgraphie hay một dyscalculie, làm rối loạn học trình trước tuổi đi học hay tuổi đi học của đứa bé. Công trình nghiên cứu Epipage-1 năm 1997 đã cho thấy rằng lúc 8 tuổi, 77% những grand prématuré cũ và 84% những trẻ sinh non trung bình có một trình độ học đường thích đáng, so với 94% những trẻ em sinh non.
Thời gian nhìn lại của enquête Epipage-2 không đủ để biết sự giảm bớt của những di chứng neuro-cognitive này của tình trạng sinh non có cùng tiến triển không. ” Khi chúng vừa phải, những stratégie d’accompagnement có thể giúp hiểu một phần những khó khăn này. Cho đến 5 tuổi, một plasticité cérébrale nào đó vẫn tồn tại, vậy phải biết tận dụng để có được một sự phục hồi tốt hơn “, GS Marrey đã nhấn mạnh như vậy. Những chiến lược giáo dục thích ứng phải được thiết đặt rất sớm. ” Nhưng phải formaliser parcours de soins của những đứa trẻ này, xác định ở lứa tuổi nào đánh giá khó khăn nào, vận dụng những phương tiện nào…” Một sự nhất trí về sự vận hành tốt nhất phải theo trở nên cần thiết. ” Nếu sự phát hiện sớm những khó khăn này được cải thiệt, sự xử trí những đứa trẻ này sau đó giống với đoạn đường chiến binh đối với gia đình : sự phục hồi chức năng tâm thần vận động (réducation psychomotrice).
Những câu hỏi về một hậu quả khả dĩ của grande prématurité lên sức khỏe ở tuổi trưởng thành, đặc biệt hô hấp. Về những “petits prématurés” mạnh khỏe, có thể phản tác dụng khi quá bảo vệ chúng hay luôn luôn dẫn chúng về tình trạng sinh non trước đây của chúng, chỉ bởi vì chúng sinh hơi quá sớm…
(LE FIGARO 12/10/2015)

2/ CÁC TRẺ EM CHỊU NHỮNG VẤN ĐỀ HÔ HẤP HƠN.
Ngoài những rối loạn liên quan đến sự phát triển nhận thức (développement cognitif), những trẻ em sinh non cũng có một nguy cơ gia tăng bị những vấn đề hô hấp. ” Là những nhũ nhi, chúng bị viêm tiểu phế quản (bronchiolite) hơn những trẻ em sinh đủ tháng. Ở tuổi đi học, chúng cũng bị nhiều đợt tiếng rít phế quản (sifflements bronchiques) hơn, nhiều hen phế quản hơn, đôi khi được tiếp tục cho đến tuổi thiếu niên và tuổi trưởng thành “, GS Christophe Delacourt, pédiatre pneumologue (hopital Necker-Enfants-Malades, Paris) đã xác nhận như vậy. Những đợt tiếng rít phế quản này dĩ nhiên thường gặp hơn ở những grand prématuré. ” Nhưng có một continuum thật sự, mỗi tuần thai nghén ít hơn gia tăng nguy cơ. Ngay những trẻ sinh non sinh vào 34-35 tuần tắt kinh có một surrisque đáng kể so với những trẻ sơ sinh đủ tháng “.
Trong số những grand prématuré sinh dưới 32 tuần, vài trẻ lúc sinh bị một suy hô hấp kéo dài do phổi chưa thành thục, dysplasie broncho-pulmonaire. ” Phổi của chúng sau đó khó phát triển một cách đúng đắn, có ít phế nang hơn, và đường phổi của chúng vẫn quá nhỏ.” Ở tuổi học đường, chúng bị hen phế quản 2,5 lần nhiều hơn những trẻ khác.
Trái với những trẻ em hen phế quản khác, những trẻ sinh non không có một dấu hiệu dị ứng nào và không có một marqueur sinh học thông thường nào của hen phế quản. ” Điều trị như nhau, bằng những thuốc giãn phế quản. Nhưng ngay cả như vậy, VEMS của chúng, do cỡ của các phế quản, vẫn bị giảm bớt. Vậy có thể điều trị này có một tính hiệu quả hạn chế. Những bất thường cơ sở của hen phế quản của những trẻ sinh non khong thể đảo ngược được. Chúng dường như được định rất sớm, một cách vĩnh viễn, và những phế quản của chúng có lẽ sẽ vẫn nhỏ. Nhưng điều trị cải thiện những triệu chứng của 1/3 trong số những trẻ này “, thầy thuốc xác nhận như vậy.
Ngay cả khi không bị hen phế quản, nhiều trẻ trước đây sinh non có một thích ứng kém với sự gắng sức, được thể hiện ở tuổi học đường bởi cảm tưởng ít hiệu năng hơn. Plainte này phải được ghi nhận, bởi vì những séance de réhabilitation à l’exercice với một kinésithérapeute có thể cải thiện những hiệu năng của chúng. Đối với GS Delacourt, ” ít nhất phải thực hiện lúc 4 tuổi một sự đánh giá hô hấp của tất cả trẻ em sinh dưới 28 tuần, mặc dầu chúng không kêu ca gì hết, để có thể tối ưu hoa rất sớm chức năng hô hấp của chúng, và khám lại chúng lúc 8-9 tuổi để phát hiện một gêne à l’effort “.
Enjeu là quan trọng, bởi vì những nghiên cứu mới đây đã phát hiện, lúc phân tích khí thở ra bởi những thiếu niên trước đây grand prématuré, nhưng quá trình viêm kéo dài. Điều đó có thể chứng tỏ một nguy cơ tiến triển nhanh hơn của những thiếu niên trước đây sinh non này thành một bệnh lý phế quản mãn tính. ” Vậy ta có thể tự hỏi không biết những facteur de susceptibilité thụ đắc trong những giai đoạn đầu của sự phát triển, trong một bối cảnh grande prématurité, có phải là những nguồn gốc sớm của những bệnh lý hô hấp mãn tính ở tuổi trưởng thành “, pneumopédiatre đã gợi ý như vậy. Một lý do nữa để những người trước đây sinh non không hút thuốc..
(LE FIGARO 12/10/2015)

3/ LÀM GIẢM THÊM NỮA TÌNH TRẠNG SINH NON
Phương tiện chắc chắn nhất để giảm bớt những biến chứng của tình trạng sinh non (prématurité) là giảm tình trạng này. Trong trường hợp lý tưởng, trước hết các phụ nữ phải sinh con sớm hơn. Nói một cách khác, những khả năng can thiệp thay đổi tùy theo tình huống. ” Một phụ nữ đã từng sinh non có nguy cơ bắt đầu lại. Nếu đó là trường hợp sinh non ngẫu nhiên (prématurité spontanée), trong trường hợp béance du col utérin, một cerclage có thể làm giảm nguy cơ tái phát. Nếu không, chủ yếu người phụ nữ phải nghỉ ngơi, tránh stress lúc làm việc và ở nhà, GS Goffinet, thầy thuốc sản khoa (Maternité Port-Royal, Paris) đã chỉ như vậy. Nếu trường hợp sinh non đầu tiên đã được phát khởi vì một cao huyết áp của người mẹ hay vì một sự chậm tăng trưởng trong tử cung đe đọa đứa bé, nguy cơ tái phát có thể được giảm bớt bởi aspirine liều nhỏ.”
Nếu một tiền sản giật hay một sự chậm tăng trưởng trong tử cung xảy ra trong thai nghén, thật sự không có những phương tiện để tránh sự tiến triển của những căn bệnh này và tình trạng sinh non. ” Những équipe médicale có thể cố đừng vội vàng. Điều đó dễ dàng hơn trong những grande maternité, bởi vì căn bệnh tiếp tục tiến triển và phải quản lý sát cán cân lợi ích/nguy cơ đối với người mẹ và đối với trẻ em. Những thế ta có thể lợi nhiều ngày, đôi khi nhiều tuần, trong đó đứa trẻ tiếp tục phát triển trong tử cung.”
Tuy rằng các petite maternité phải chuyển những bệnh nhân có nguy cơ cao đến những cơ sở mức 3, với một khoa hồi sức trẻ sơ sinh.
Trong trường hợp đái đường người mẹ bị mật cân bằng, đôi khi các thầy thuốc có khuynh hướng phát khởi chuyển dạ hay thực hiện một césarienne khoảng tuần lễ 35-36. ” Nên cần bằng tốt bệnh đái đường của người mẹ trước và sau đó để cho thai tiến triển cho đến 37-38 tuần thai nghén”, GS Goffinet đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 12/10/2015)

4/ TIÊN ĐOÁN TÌNH TRẠNG SINH NON
Một trắc nghiệm máu, được hiệu chính bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ (đại học Stanford, Californie) và Đan Mạch (Statens Serum Institute, Copenhague), cho phép tiên đoán 80% một phụ nữ có thai có sẽ sinh 3 tuần trước khi đủ tháng, thậm chí còn sớm hơn không. Một công trình nghiên cứu tiền phong trên người chuẩn nhận trắc nghiệm này vừa được công bố trong tạp chí ” Science”. Tình trạng sinh non (prématurié) là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong trước 5 tuổi. Sinh non liên hệ đến 15 triệu trẻ em trên thế giới mỗi năm. Trắc nghiệm đo hoạt tính của các gène của người mẹ, nhau và thai nhi, cho những tín hiệu đáng tin cậy về tuổi thai nghén, nguy cơ sinh non và ngày tháng sinh. Nó cũng đáng tin cậy như siêu âm, nhưng ít tốn kém hơn
(PARIS MATCH 5/7-11/7/2018)

5/ CÁC THUỐC CHỐNG TRẦM CẢM : HIỆU QUẢ HẠN CHẾ
Theo các chuyên gia và một phân tích méta mới đây (522 công trình nghiên cứu trên tổng cộng 116.500 bệnh nhân), tác dụng của những thuốc chống trầm cảm rất khiêm tốn so với placebo, ngoại trừ trong những trầm cảm nặng. Những thuốc chống trầm cảm được sử dụng nhất nhằm làm gia tăng nồng độ của sérotonine, được xem là chất dẫn truyền thần kinh của hạnh phúc, hôm nay điều này được tranh luận.
(PARIS MATCH23/5-30/5/2018)

6/ NHỮNG BIẾN DẠNG SỌ Ở NHŨ NHI : THƯỜNG GẶP NHỮNG CƠ THẾ TRÁNH ĐƯỢC.
(Brachycéphalie)
BS Thierry Marck, pédiatre ở Paris, đề cập vấn đề đầu dẹt (tetes plates) ở các em bé tiếp theo sau một hội nghị mới đây ở Montréal về thời kỳ chu sinh (périnatalité).
Hỏi : Những biến dạng của sọ có thể ảnh hưởng em bé là những biến dạng nào ?
BS Thierry Marck. Những biến dạng của sọ có nguồn gốc tư thế và được liên kết với sự kiện là, từ 20 năm nay, các trẻ em nằm ngửa ngay khi sinh, theo những khuyến nghị của nhi khoa tây phương. Thế mà sọ của nhũ nhi, rất dè dặt (malléable), có một sự tròn trĩnh bị biến dạng nhanh khi tác động lên nó, và một cách liên tục, một sức ép bên ngoài. Như thế ta có thể hai loại biến dạng : một sự bằng phẳng đồng đều của phía sau của sọ được gọi là brachycéphalie (dạng đầu ngắn), hay sự dẹt của phần phải hay trái của phần sau của sọ, plagiocéphalie (tật sọ nghiêng).
(Plagiocéphalie)
Hỏi : Tần số của những biến dạng này ?
BS Thierry Marck. Một công trình nghiên cứu Canada, được thực hiện năm 2013, ước tính tần số xuất hiện ở một trẻ em trên hai. Về phương diện lịch sử, trong tất các các xã hội của thế giới, các nhũ nhi được đặt nằm nghiêng. Trong những năm 1970, nhi khoa phương tây đã khuyến nghị đặt các nhũ nhi nằm sấp, điều này đã dẫn đến một surmortalité infantile nghiêm trọng (chết đột ngột của nhũ nhi do ngộp thở), khien năm 1996 phai đảo lại những khuyến nghị : ” Luôn luôn đặt em bé nằm ngửa ngay khi sinh. ” Từ đó, tần số của các dấu dệt đã gia tăng !
Hỏi : Những hậu quả có thể xảy ra nếu không điều chỉnh ?
BS Thierry Marck. Nếu đó là một dạng đầu ngắn (brachycéphalie), những hậu quả “chỉ” thẩm mỹ. Đối với tật sọ nghiêng (plagiocéphalie), chúng không những thẩm mỹ mà còn biomécanique. 1. Sự đổi chỗ của khớp hàm, vì không còn đối xứng nữa, ảnh hưởng articulé dentaire. 2. Thường vẹo cột sống (scoliose) do các đốt sống bị xoay dần dần. Trong những trường hợp hiếm plagiocéphalie rất nặng, một sự biến đổi của những hiệu năng tâm thần vận động và học tập đã có thể được ghi nhận.
Hỏi : Có những yếu tố tạo thuận không ?
BS Thierry Marck. Đối với brachycéphalie, yếu tố thuận lối duy nhất là nằm ngửa liên tục. Đối với plagiocéphalie, nguyên nhân khởi đầu là sự vẹo cổ sơ sinh (torticolis néonatal) liên kết với một sự gò bó của tử cung. Sự gò bó này có thể xảy ra trên một tử cung rất tonique (thai nghén đầu tiên) hay khi cái chứa trong tử cung lớn (thai to, những trẻ sinh đôi) : khi đó một áp lực làm vẹo cổ thai nhi tác động trong tử cung trên những vùng di động của đứa bé. Sự vẹo cổ khiến đứa trẻ, ngay khi sinh, quay đầu để tìm kiếm một tư thế thoải mái. Nói một cách khác, đứa trẻ nằm ngửa nhưng với đầu luôn luôn quay cùng phía.
Hỏi : Làm sao phòng ngừa nguy cơ ?
BS Thierry Marck. Theo tôi có hai điều bức thiết. 1. Kiểm tra rằng ngay trong khám sơ sinh và trong tháng đầu rằng đứa trẻ không xoay đầu luôn luôn cùng phía (phát hiện torticolis). 2. Không mua những produit de puériculture có tác dụng phong bế cử động của sọ, như những réducteur de mobilité, những cale-bébé dorsaux..
Hỏi : Trong trường hợp biến dạng, có thể điều chỉnh không ?
BS Thierry Marck. Não là tác nhân chính của sự điều chỉnh : phải hủy bỏ cái tựa làm biến dạng sọ để cho phép não đẩy sọ theo đúng hướng. Để cơ chế tự nhiên xảy ra, hai phương tiện. 1. Giữa 1 và 3 tháng, sử dụng một cale-bébé dorso-latéral là đủ. 2. Sau tháng thứ năm, nếu biến dạng vẫn quan trọng, ta sử dụng một casque được gọi là ” orthèse cranienne ” (bắt cầu trên vùng bị dẹt), tạo một không gian trống và cho phép não đẩy sọ còn dễ dát trong không gian cần phải lấp đầy. Sự thành công được đảm bảo trong 3 hay 4 tháng. Trong trường hợp plagiocéphalie, điều trị torticolis bằng kinésithérapie và/hay ostéopathie thêm vào những biện pháp này.
Hỏi : Kết luận của ông ?
BS Thierry Marck. Tư thế sinh lý và tự nhiên của trẻ sơ sinh để ngủ đã là, vẫn là và vẫn sẽ là tư thế nghiêng (position latérale). Phải tôn trọng nguyên tắc này, ít nhất tháng đầu, hay sử dụng những matelas de sécurité được gọi là “respirant” : cấu trúc của chúng cho phép em bé thở bình thường dầu tư thế của nó là gì. Chắc chắn đó là con đường tương lai để loại bỏ dịch bệnh đầu dẹt này mà không làm gia tăng nguy cơ chết đột ngột của trẻ sơ sinh.
(PARIS MATCH 6/7-12/7/2018)

7/ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA BÚ SỮA MẸ

Docteur Edith Lejoyeux
Orthodontiste
Membre de la Fédération française d’orthodonti


Những lợi ích của sự bú sữa mẹ, về phương diện dinh dưỡng, hiện nay được biết rõ và được chấp nhận bởi cộng đồng y khoa. Sữa mẹ giảm những nguy cơ dị ứng và nhiễm trùng dạ dày-ruột, phòng ngừa sự tăng thể trọng,… Trái lại, điều mà ta biết ít hơn, đó là sự bú sữa mẹ tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa của gương mặt của đứa bé.
Năm đầu tiên của cuộc sống là một thời kỳ tăng trưởng đặc biệt mạnh và nhanh. Ta biết rằng trọng lượng của em bé tăng gấp ba trong năm đầu, kích thước của nó gia tăng 50% và trọng lượng của não tăng lên 2 g mỗi ngày. Vậy mong rằng nhũ nhi được nhận tất cả những kích thích cần thiết cho một sự tăng trưởng mặt tối ưu.
Cách ăn uống tác động lên sự tăng trưởng của các xương hàm ngay khi sinh. Các orthodontiste hôm nay nhấn mạnh tầm quan trọng của sự cho bú sữa mẹ (khi điều đó có thể đối với bà mẹ), có thể tạo điều kiện cho sự lớn lên tối ưu của hàm dưới của trẻ sơ sinh. Lúc sinh, em bé hầu như luôn có một menton en retrait, gymnastique được thực hiện lúc “vắt sữa vú” (traite du sein) sẽ điều biến profil của em bé.
Thật vậy, sự bú vú (tétée au sein), trái với sự bú bình sữa (tétée au biberon), cần một công cơ mạnh mạnh kích thích sự tăng trưởng của hàm dưới. Nó được thực hiện nhờ một sự hiệp đồng phức tạp của những cử động huy động tất cả các cơ của lưỡi, của má, môi và hàm.
Để ngoạm cái vú, em bé phải đưa hàm dưới và lưỡi ra trước. Sau đó, để giữ núm vú trong miệng, nó phải siết mạnh nó trong miệng. Một khi sữa được rút ra, phải nuốt nó, điều mà nó thực hiện bằng cách ấn lưỡi vào khẩu cái và bằng cách co má, đồng thời giữ núm vú giữa lưỡi. Như thế, những áp lực bên trong của miệng cũng sẽ phát triển hàm trên trong tất cả các dimension, như thế chuẩn bị cho các khung răng nhận những răng tương lai.
Bú sữa mẹ có một ưu điểm khác : nó buộc nhũ nhi thông khí bằng mũi, khác với bú sữa bình. Vậy bú sữa mẹ góp phần học cách thông khí bằng mũi, cần thiết cho một sự tăng trưởng tốt của mặt. Thật vậy, để rút sữa ra khỏi bình sữa, nhũ nhi không cần đóng kín miệng quanh đầu vú giả (ở chai sữa). Vậy nó có thể nuốt và thông khí lần lượt qua mũi và qua miệng. Vậy thì dù sau khi bị cảm cúm, đứa trẻ có thể giữ các thông khí qua miệng này với những bất tiện mà ta đã biết.
Ngoài ra, động tác bú vú, do công cơ mạnh mà nó đòi hỏi, làm mệt em bé, vì mệt nên ngủ dễ dàng…không mút ngón tay. Sự bú sữa mẹ kéo dài, từ 6 đến 12 tháng, không loại bỏ tất cả những nguy cơ thấy xuất hiện những malposition dentaire, nhưng là một phương tiện phòng ngừa, đơn giản và dễ chịu, của tất cả những vấn đề rất phổ biến của thời đại chúng ta.
(LE FIGARO 22/5/2017)

8/ NGÓN CÁI, NÚM VÚ GIẢ : KHÔNG SAU 3 TUỔI
Nếu sự mút (succion) là một nhu cầu tự nhiên của nhũ nhi ; nhũ nhi hút dịch não tủy ngay tuần lễ thứ 12 và phát triển những cử động mút (mouvement de succion) cần thiết cho sự sống còn của nó sau khi sinh, thế thì jeune enfant thì sao ?
Mút, dinh dưỡng hay không, có những ưu điểm, khi mang lại sự vui thích, khi cho phép làm dịu em bé, chúng cũng có những bất tiện, và nhất là trên quan điểm orthodontique, khi chúng kéo dài quá muộn trong petite enfance.
Trước hết lên sự tạo thành khẩu cái (palais). Bệnh cách giữ lưỡi bên trong hàm dưới, sự mút ngón cái hay núm vú giả ngăn cản lưỡi ấn lên khẩu cái và kích thích sự tăng trưởng của nó. Vậy, những trẻ em giữ thói quen này lúc lớn lên bị nguy cơ cao hơn có một khẩu cái hẹp, một sự há ra phía trước và các răng trên nhô ra trước. Sự mút cũng ngăn cản đóng miệng một cách đúng đắn và do đó phát triển các cơ.
Vả lại, một khẩu cái phát triển không đúng tạo điều kiện cho những vấn đề hô hấp vì những hố mũi (fosse nasale) quá hẹp. Một sự thông khí kém gây viêm mũi họng, viêm mũi, hen phế quản, viêm tai và đôi khi apnée du sommeil.
Nhiều bệnh nhân cảm thấy bối rối đứng trước hành vi này. Vô ích lo sợ, điều quan trọng là làm thế nào để đứa trẻ “kiêng” (sevré) trước 4 tuổi. Ta có thể có thay thế dần dần một doudou, hạn chế sự hiện diện của đầu vú giả vào lúc ngủ.
(LE FIGARO 22/5/2017)

9/ NHỮNG XƯƠNG HÀM CỦA CHÚNG TA PHẢN ÁNH CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA CHÚNG TA ?

Docteur Jean-Baptiste Kerbrat
Orthodontiste, chirurgien maxillo-faciale
et stomatologiste
Membre de la Fédération française d’orthodontie


Các chuyên gia của khoa chỉnh hình răng (orthodontiste) chứng thực một sự biến hóa dần dần của hình dáng và kích thước của các hàm của người hiện đại. Nhiều yếu tố là nguyên nhân của sự biến hóa này, trong đó sự tiến triển của các cách ăn uống, được biến đổi từ nhiều thế kỷ qua. Từ thịt sống phải xé bằng răng đến bột quấy ngọt và ngon lành: ảnh hưởng đáng kể của chế độ ăn uống trong sự phát triển cửa xương hàm.
Người của thời kỳ Cro-Magnon có một cái miệng khá lớn và phát triển. Phải chăng ăn nhiều và dùng răng xé nát một thức ăn sống hay rất ít được nấu chín đã tăng cường xương hàm và răng của mình ? Không thể chứng tỏ điều đó. Tuy vậy, ta chứng thực rằng những vấn đề thiếu chỗ cho các răng trong hàm, những vấn đề chenh lech hay sâu răng là những vấn đề đặc thù đối với con người hiện đại, mà xương ham hẹp lại qua nhiều thế kỷ. Vài population bảo tồn những cách ăn uống cổ hơn, sử dụng những thức ăn đơn giản hơn và nhất là ít được nấu chín, do đó cứng hơn, còn có những xương hàm có khả năng nhận không vấn đề tất cả các răng của chúng.
Hôm nay, ngay từ tuổi ấu thơ chúng ta quen tiêu thụ những thức ăn được nấu rất chín, thường được thái và trộn, mềm và sánh. Chính trong những năm đầu của cuộc sống mà các hàm được tạo thành bằng cách giãn ra và tự điều biến tùy theo điều mà chúng ta cho chúng nhai. Những cách ăn uống đóng một vai trò thiết yếu trong phòng ngừa miệng-răng. Để cố cải thiện tình hình, tuyệt đối phải làm nhiều cố gắng cơ hơn dong thoi ưu tiên những cách ăn uống kích thích nhất cho sự tăng trưởng của các hàm.
Sự phát triển ba chiều không gian của các xương hàm ở các cung răng phụ thuộc phần lớn những thoi thuc co nang. Trong số những chức năng này, sự nhai sinh ra nhiều cử động của xuong hàm và làm hoạt động tất cả các cơ của mặt. Vài cơ chuyên hóa trong sự nghiền thức ăn nhưng toàn bộ má, môi và lưỡi cùng nhau hành động để không ngừng đặt lại thực hoàn (bol alimentaire) giữa các răng.
Sự nhai những thức ăn bền dai đòi hỏi đưa vào những cử động bên (mouvements de latéralité) trong chu kỳ nhai ; những cử động này thúc sự nới rộng của các cung răng. Chính như thế mà ta cho miệng của các trẻ em những cơ may để có một hàm có khả năng tiếp nhận tất cả các răng. Để cho sự tăng trưởng này đối xứng, sự nhai cũng phải như vậy. Mọi bệnh lý của răng sữa, mọi khiếm khuyết của khớp răng có thể gây nên một sự nhai không đối xứng và do đó một tăng trưởng bệnh lý.
Ngay khi đứa trẻ có những răng đầu tiên, những răng sữa cửa rồi hàm và những răng nanh, phải đề nghị cho chúng những bữa ăn mà chúng phải nhai. Răng ữa phải nhường chỗ cho những bột quấy càng ngày càng đặc rồi những purée de légumes được nghiền nát bằng nĩa, với thịt hay jambon được cắt thành những mảnh nhỏ. Những trái cây giòn như pomme cũng được cắt thành những phần rất nhỏ mà chính đứa trẻ đưa lên miệng. Ngay cả những compote có thể chứa những mảnh nhỏ trái cây.
Khi tất cả các răng sữa ở tại chỗ, đứa bé hoàn toàn có khả năng ăn như một người lớn. Vậy không có một lý do nào chỉ cho nó “steak haché-frites” hay “coquillettes-jambon haché” không đòi hỏi nó một cố gắng nhai nào. Không nên do dự đề nghị các trên những légume nấu chín, những thịt cắt thành những mảnh nhỏ, những chân gà để xé nát và những trái cây để nhai rau ráu…Vào giờ ăn bữa chiều, cũng cho bánh mì que (baguette) với một thanh chocolat để nhai ngon lành hơn là những viennoiseries mềm được nuốt mà hầu như không nhai.
Những cách ăn uống đơn giản và đúng đắn liên kết với một thông khí mũi tốt cải thiện tình hình răng. Đó là con đường hiệu quả nhất để ngăn ngừa malocclusion và encombrement dentaire. Chúng có thể hạn chế số những trường hợp nhổ răng trước khi đặt máy. Với sự học những protocole của vệ sinh răng, chúng là cơ sở của mọi chính sách phòng ngừa.
(LE FIGARO 22/5/2017)

10/ SPINA-BIFIDA : ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA
GS Michel Zerah, trưởng khoa ngoại thần kinh nhi đồng của bệnh viện Necker-Enfants malades à Paris, nói về dị dạng của tủy sống với những hậu quả thường nặng nề.Hỏi : Spina-bifida là gì ?
GS Michel Zerah. Đó là một dị dạng của phần dưới của tủy sống, bị bộc lộ và không được phủ bởi da. Bệnh thường nghiêm trọng những hiếm khi gây tử vong. Đoạn tủy sống lòi ra ngoài thân thể bị tấn công trong thời kỳ thai nghén bởi tính axit của dịch ối. Tiếp theo sau là một bại liệt của các chi dưới và những rối loạn cơ vòng (nước tiểu, phân). Dịch não tủy thường cũng thoát ra qua tủy sống, tạo một chân không làm dễ sự đi xuống của tiểu não trong cột sống qua lỗ chẩm. Chướng ngại này, do sự tích tụ của dịch não tủy không còn tháo nữa về tủy sống, gây một hydrocéphalie ép não. Can thiệp ngoại khoa trong 48 giờ sau khi sinh, để tránh sự xuất hiện của những trouble cognitif nghiêm trọng, là bắt buộc. Trong một nửa các trường hợp, một cuộc mổ thứ hai được thực hiện sau đó đối với hydrocéphalie (dẫn xuất dịch não tủy vào trong bụng). Cũng có những thể nhẹ (được gọi là occulta), tiên lượng tốt hơn, mà phẫu thuật ngay khi sinh không được đòi hỏi.Hỏi : Đó có phải là một dị dạng thường gặp không ?
GS Michel Zerah. Dị dạng này xảy ra ở 800 đến 1000 trẻ em ở Pháp mỗi năm, hai giới tính như nhau. Những thể nghiêm trọng được phát hiện trong thời kỳ thai nghén, những thể nhẹ lúc sinh. Ta nhận biết 3 yếu tố nguy cơ.
1.Sự hiện hữu của những tiền sử gia đình tương tự ở cha ông trực tiếp.
2. Sự hiện diện của một diabète maternel insulinodépendant.
3. Mẹ sử dụng vài loại thuốc chống động kinh (Dépakine).
Hỏi : Ta xử trí các trẻ em lúc sinh như thế nào ?
GS Michel Zerah. Vô ích thực hiện một césarienne. Ta bao quanh không chậm trễ tủy sống bị bộc lộ bằng một pansement thích ứng dễ tránh không để cho nó bị nhiễm trùng cho đến lúc mổ. Phẫu thuật nhằm đặt lại tủy sống vào trong cột sống bằng vi ngoại khoa và đóng da phía trên, hoặc trực tiếp, hoặc bằng plastie cutanée. Cho đến cuối thời kỳ tăng trưởng, thậm chí sau đó, đứa trẻ được xử trí urologique (thông tiểu từng hồi), chỉnh hình chống những biến dạng của cột sống, của háng hay chân (corset, orthèse, attelles, thậm chí chirurgie correctrice) và một réducation (y khoa vật lý, kinésithérapie)
Hỏi : Có thể thực hiện một gián đoạn thai nghén không ?
GS Michel Zerah. Siêu âm tam cá nguyệt thứ hai (tuần lễ thứ 20) cho phép chẩn đoán những thể nặng. Ở Pháp, một IVG được đòi hỏi trong 85 % các trường hợp. Mổ trước khi sinh, trên thai nhi trong tử cung (trước tuần lễ thứ 27), kỹ thuật mà chúng tôi nắm vững cùng với GS Jouannic (bệnh viện Trousseau), có thể giảm bớt phế tật. Vài cha mẹ mong muốn tiếp tục thai nghén chọn phương pháp này.
Hỏi : Làm sao phòng ngừa spina-bifida ?
GS Michel Zerah. Từ hơn 30 năm ta biết rằng sự cho vitamine B9 (acide folique) phòng ngừa sự xuất hiện của nó trong 70% những trường hợp, dầu thể địa thế nào. Sự cho này phải bắt đầu hai tháng trước thai nghén được dự kiến và phải được tiếp tục hai tháng đầu của thai nghén. Hai nồng độ hiện hữu : 0,4 mg/ngày đối với những phụ nữ không nguy cơ và 5 mg/ngày đối với những phụ nữ có nguy cơ. Sự phòng ngừa này đã được chuẩn nhận bởi những công trình nghiên cứu quốc tế quy mô rất lớn. Có thể thực hiện phòng ngừa bằng cho bổ sung nhưng cũng bằng phong phú thức ăn.
Hỏi : Khuyến nghị này có được theo không ?
GS Michel Zerah. Không ! Nước Pháp đứng chót trong các nước phát triển về vấn đề này, với chỉ 15% phụ nữ có thai theo nó ! Vậy thông tin trở nên khẩn cấp.
(PARIS MATCH 12/7-18/7/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(7/9/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s