Thời sự y học số 478 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ KHI NGÓN CÁI PHẢI ĐƯỢC NGHỈ NGƠI HOÀN TOÀN.
5% đến 10% các y tá, thư ký và đàn bà nội trợ bị viêm gân-bao hoạt dịch.
Ténosynovite de Quervain là do viêm cua bao của một dây gân.ORTHOPEDIE. ” Ténosynovite là viêm của một bao hoạt dịch (gaine synoviale) trong đó vài dây gân trượt, GS Dominique Le Nen, trưởng pôle de chirurgie orthopédique des membres supérieurs của CHRU de Brest đã nói như vậy. Vậy đó không phải là một viêm gân (tendinite) ảnh hưởng lên chính dây gân.” Sự phân biệt này là quan trọng, đồng thời để xác lập chẩn đoán, nhận diện những nguyên nhân và thực hiện sự điều trị thích hợp nhất.
Vậy ténosynovite chỉ xảy ra ở những dây gân được bao quanh bởi một bao đầy hoạt dịch (synovie), một dịch nhớt làm trơn các dây gân và hấp thụ nhiệt được phát ra bởi những cử động của các dây gân. Dispositif này không cần thiết cho tất cả các dây gân : nó hiện hữu ở nơi những cử động lặp lại và thường xảy ra là cần thiết, chủ yếu bàn tay và cổ tay nhưng đôi khi cũng khuỷu tay, vai hay mắt cá chân. Những dây gân không được bảo vệ như thế bị thương tổn một cách trực tiếp bởi những chấn thương cơ học : những cử động lặp lại có thể tháo tơi chúng dần dần như các sợi của một dây corde, đó là viêm dây gân (từ nay được gọi là tendinopathie bởi vì viêm không luôn luôn hiện diện).
Khi bao hoạt dịch không còn đóng vai trò bảo vệ chống lại sự làm nóng lên nữa, những ma sát gia tăng gây nên một sự viêm làm phát khởi một vòng luẩn quẩn : bao hoạt dịch dày lên, những vùng mô sợi xuất hiện và còn hạn chế hơn không gian trong đó dây gân có thể đi qua đi lại, điều này còn gia tăng những ma sát và do đó viêm. Vài ténosynovite bắt đầu bằng một thiếu sót ở hoạt dịch (synovie) hay khi một hội chứng viêm như viêm đa khớp dạng thấp hay một rhumatisme psoriasique làm dễ sự viêm của bao hoạt dịch. Những viêm gân-bao hoạt dịch khác, được gọi là hẹp (ténosynovite sténosante), phát khởi khi tuổi già hay một hoạt động lặp lại gây một sự dày lên của các dây gân trong một bao đã trở nên quá nhỏ. Viêm xuất hiện thì hai nhưng dần dần cho một profil tương tự với viêm gân-bao hoạt dich xuất tiết (ténosynovite exsudative), nguồn gốc viêm.Vậy phần lớn các viêm gân-bao hoạt dịch có đồng thời một thành phần cơ học và một thành phần viêm, nhất là bệnh nhân thường chờ lâu trước khi đi khám bệnh. Vả lại chính đau viêm (douleur inflammatoire), thức dậy vào ban đêm và có thể làm hại chất lượng của giấc ngủ, cuối cùng khiến bệnh nhân đi khám bác sĩ. Khi đó chẩn đoán dựa trên một khám lâm sàng đơn thuần liên kết với một bảng câu hỏi cho phép nhận diện vài yếu tố nguy cơ. Thầy thuốc sẽ tìm kiếm những cử động nào gây đau để nhận diện những dây gân bị thương tổn và sẽ tìm kiếm những dấu hiệu viêm như một chỗ sưng, những kyste có thể sờ được. Thầy thuốc sẽ đánh giá xem hoạt động nghề nghiệp có phải là nguyên nhân hay không : những cử động lặp lại của vài nghề nghiệp tạo điều kiện cho sự xuất hiện và vài viêm gân-bao hoạt dịch được xem như những bệnh nghề nghiệp.
Thầy thuốc cũng sẽ tìm kiếm những nguyên nhân như thấp khớp viêm mãn tính (rhumatisme inflammatoire chronique), connectivite hay đái đường. Hiếm hơn, đó là một nhiễm trùng gây viêm bao hoạt dịch và chọc dò hoạt địch sẽ cần thiết để nhận diện mầm bệnh. Nếu khám lâm sàng không đủ, thăm dò đơn giản nhất, ít tốn kém nhất và hữu ích nhất là siêu âm, cho phép thấy sự biến dạng của các dây gân và, nếu được liên kết với một doppler, cho phép thấy tăng phân bố mạch (hypervascularisation) đặc trưng của viêm gân-bao hoạt dịch.
” Chụp X quang bình thường nhưng đôi khi cho phép loại bỏ khả năng của một thương tổn xương hay cho phép tìm thấy một chấn thương cũ tạo điều kiện sự xuất hiện của viêm bao hoạt dịch “, GS Dominique Le Nen nói rõ như vậy. IRM không cần thiết trong phần lớn các trường hợp.
Điều trị đơn giản nhất, sự nghỉ ngơi, cũng là hiệu quả nhất đối với đa số các bệnh nhân, giai đoạn chẩn đoán là cần thiết để nhận diện những cử động tạo điều kiện viêm gân-bao hoạt dịch. Thiết đặt những biện pháp cần thiết để tránh một tái phát là cần thiết : thật vậy những rối loạn này thường trở nên mãn tính khi bệnh nhân không thể tránh được những cử động gây viêm gân-bao hoạt dịch. Như trong phần lớn các bệnh lý, một chẩn đoán và điều trị sớm cũng tạo điều kiện cho một sự phục hồi hoàn toàn hơn, trước khi viêm biến đổi cấu trúc của các mô của bao hoạt dịch và của các dây gân.
(LE FIGARO 4/6/2018)

2/ TENOSYNOVITE DE QUERVAIN : VÀI NGHỀ NGHIỆP CÓ NGUY CƠ HƠN NHỮNG NGHỀ NGHIỆP KHÁC.
Đau xuất hiện ở bờ ngoài của cổ tay khi các dây gân của ngón cái bị thôi thúc. Sau vài tuần, nó xuất hiện vào ban đêm mặc dầu bàn tay nghỉ ngơi. Cổ tay bị ảnh hưởng dường như bị sưng hơn cổ tay kia và vùng sưng phù trở nên nhạy cảm khi sờ.Tất cả những dấu hiệu này, gợi ý một ténosynovite de Quervain, có thể được xác nhận bởi thủ thuật Finkelstein : thầy thuốc gấp ngón cái của bệnh nhân về phía trong của bàn tay rồi nghiêng cổ tay về phía ngoài để làm duỗi các dây gân của ngón cái. Các dây gân trượt kém trong bao hoạt dịch bị viêm : đau được phát khởi.Vào thời kỳ mà Fritz de Quervain nhận diện nó (1875), viêm gân-bao hoạt dịch này chủ yếu xảy ra ở những thợ giặt và những thợ may. Phần lớn nó liên quan những phụ nữ, từ 30 và 50 tuổi và chủ yếu các thư ký, y tá, femme de ménage : đó là những nghề nghiệp trong đó bàn tay bị thôi thúc một cách lặp lại để làm cùng động tác. ” Ngón cái chiếm 50% chức năng của bàn tay, GS Louis-Etienne Gayet, trưởng khoa orthopédie-traumatologie của CHU de Poitiers, đã nhắc lại như vậy. Những nghề nghiệp này ở hàng đầu đối với bệnh lý xảy ra ở 5 đến 10% các nhân viên của chúng.” Vậy bệnh lý này được xem như một bệnh nghề nghiệp khi công việc cần thực hiện những cử động duỗi của cổ tay một cách liên tiếp hay kéo dài và được một xử trí hoàn toàn trong khung cảnh này. Mặc dầu số những ténosynovite de Quervain đã gia tăng nhiều sau sự xử trí này, nó đã cho phép phát hiện chúng tốt hơn và điều trị chúng hiệu quả hơn.
NHỮNG THUỐC KHÁNG VIÊM
” Điều trị phải vẫn là đơn giản, GS Dominique Le Nen, trưởng pôle de chirurgie orthopédique des membres supérieurs của CHRU de Brest, đã nhấn mạnh như vậy. Sự cho ngón cái nghỉ ngơi với một orthèse phải được mang thường trực hay chỉ vào ban đêm có thể đủ.” Thường nhất, những thuốc kháng viêm được kê đơn, nhất là khi bệnh nhân chậm khám thầy thuốc, và đau biến mất trong vài tuần ở phần lớn các bệnh nhân. Tuy nhiên nguy cơ tái phát rất cao trong khung cảnh nghề nghiệp : bệnh nhân không được nghe trong xí nghiệp của họ và những biến đổi ergonomique hiếm khi được thiết đặt. Những động tác không đúng được lặp lại cũng như những đợt ngừng việc và các công nhân viên có thể trong một tình huống khó sống. Những biện pháp đơn giản như một tapis de souris với một appui en mousse hay một sự luân chuyển thường hơn nhiệm sở đủ để phòng ngừa những tái phát, không tránh được, sẽ dẫn đến một can thiệp ngoại khoa đáng ra đã có thể tránh được.
Ténosynovite de Quervain thường xuất hiện đơn độc, mặc dầu nó được làm dễ bởi những bệnh lý viêm toàn thân khác và mặc dầu những bệnh lý khác và những viêm gân bao hoạt dịch khác liên kết với tuổi có thể đi kèm nó (thí dụ doigt à ressort).
(LE FIGARO 4/6/2018)

3/ VIÊM GÂN-BAO HOẠT DỊCH : CÁCH TỐT NHẤT ĐỂ TRÁNH NHỮNG TÁI PHÁT
Điều trị hiệu quả nhất là cho nghỉ ngơi, nói chung trong khoảng 15 ngày, vùng liên hệ. ” Vả lại đó là điều mà phần lớn những bệnh nhân làm, không cần phải đi khám thầy thuốc “, GS Dominique Le Nen, trưởng pôle de chirurgie orthopédique des MS của CHRU de Brest, đã chỉ như vậy.” Không thôi thúc các dây gân bị ảnh hưởng và dùng một thuốc giảm đau trong vài ngày bởi vì ta đã làm vườn quá mức hay đã thực hiện một hoạt động, điều này cũng đủ.”
Khi đau khiến phải dùng quá nhiều thuốc, quá thường xuyên hay nếu bệnh lý có quá nhiều ảnh hưởng lên đời sống hàng ngày, đó là lúc phải đi khám một thầy thuốc. Ông ta sẽ có thể chỉ định đặt một orthèse để giúp bệnh nhân duy trì trạng thái nghỉ ngơi. Thầy thuốc cũng cố gắng nhận diện đúng những cử động, trong đời sống hàng ngày, phát khởi đau và làm dễ viêm.
Trên thực tế, bệnh nhân đã biết những động tác cần phải tránh : chúng gây đau ! Tuy nhiên không phải luôn luôn dễ tránh chúng, đặc biệt chúng thuộc về những phần việc dành cho một poste professionnel. Trong trường hợp này, cần ngừng việc để cho chi bị ảnh hưởng được nghỉ ngơi. Đôi khi những thuốc chống viêm sẽ cần thiết để giảm bớt một cách nhanh chóng viêm và đau. Những tiêm ngấm (infiltrations) đặc biệt hơn hiệu quả khi bệnh lý mới xảy ra.Vài thầy thuốc đề nghị những mũi tiêm huyết tương giàu tiểu cầu (plaquettes), có thể làm dễ sự lành sẹo của vùng gân. Phương pháp này chưa chứng minh tính hiệu quả của nó bởi những công trình nghiên cứu lâm sàng nghiêm túc.
Trong tất cả các trường hợp, cần thiết, sau thời kỳ nghỉ ngơi và sửa chữa bao hoạt dịch, biến đổi những động tác gây đau : tái tổ chức nơi làm việc của mình hay hoạt động chịu trách nhiệm, luân phiên thường xuyên những công việc khác nhau. ” Khi viêm gân bao hoạt dịch được khai báo như là một bệnh nghề nghiệp, một ergonome đề nghị những giải pháp để tránh sự tái phát “, GS Louis-Etienne Gayet, trưởng khoa orthopédie-traumatologie của CHU de Poitiers, đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 4/6/2018)

4/ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT CỦA TENOSYNOVITE DE QUERVAIN
Khi không có một phương pháp cổ điển nào, nghỉ ngơi, thuốc chống viêm, thay đổi những động tác gây đau (80% tỷ lệ thành công) đủ và/hoặc khi những tái phát nối tiếp nhau, phẫu thuật có thể được xét đến. Khi đó cần mở bao hoạt dịch trong vùng ở đó nó ma sát vào các dây gân và cần lấy đi những kyste hay những masse fibreuse được tạo thành ở đó. Bao hoạt dịch sau đó sẽ được tái tạo một cách tự nhiên theo kích thước đúng đắn quanh dây gân. Đó là một can thiệp đơn giản, được thực hiện ngoại trú, với gây tê tại chỗ hay tại chỗ vùng (anesthésie locale ou loco-régionale). Cần một nửa ngày. Sự phục hồi nhanh đối với phần lớn các bệnh nhân, nhưng đôi khi cần một phục hồi chức năng. Thời kỳ lại sức này cho đến khi chữa lành hoàn toàn có thể cần đến 3 tháng. Nói chung, đó là một giải pháp vĩnh viễn : những tái phát hiếm khi xảy ra ngoại trừ nếu nguyên nhân của sưng phồng của các dây gân và sự lặp lại của các động tác gây viêm được duy trì và gây nên, nhiều năm sau can thiệp ban đầu, một đợt viêm mới của bao hoạt dịch.
(LE FIGARO 4/6/2018)

5/ NHIỄM TRÙNG XƯƠNG : THÀNH CÔNG CỦA MỘT IMPLANT TẨM KHÁNG SINH.
BS François Bertin, chirurgien cardio-vasculaire của CHU de Limoges, giải thích một prothèse en céramique mới đã có thể thắng một nhiễm trùng mãn tính của xương ức như thế nào.
Hỏi : Trong những trường hợp nào ta đặt một prothèse để thay thế một mô xương ?
BS François Bertin. Những chỉ định thường gặp nhất là những di căn xương hay những khớp hỏng, rất thường do hư khớp.
Hỏi : Những prothèse nào thường được đặt nhất ?
BS François Bertin. Những prothèse của háng (150.000 trường hợp mỗi năm ở Pháp) và của gối (50.000 mỗi năm ở Pháp).
Hỏi : Khi đặt những implant, những nguy cơ biến chứng là gì ?
BS François Bertin. Nhiễm trùng prothèse hay những mô xương chung quanh. Xương, vì ít được phân bố mạch, nên chống kém các vi khuẩn. Khi đặt prothèse, các kháng sinh được tiêm một cách hệ thống bằng đường tĩnh mạch trong phẫu thuật, nhưng trong vài trường hợp sự phòng ngừa này không đủ. Tần số của các biến chứng nhiễm trùng biến thiên từ 2 đến 5%.
Hỏi : Khi nhiễm trùng xuất hiện, ta điều trị nó như thế nào ?
BS François Bertin. Ta tiếp tục cho kháng sinh thích ứng với mầm bệnh nguyên nhân, nhưng ta không thể buộc phải lấy prothèse đi. Khi đó phải combler thiếu hụt xương với ciment orthopédique (spacer) để tránh sự co rút của các mô chung quanh. Sau vài tuần ta thay thế một prothèse kim loại, thường bằng titane.
Hỏi : Trong trường hợp nhiễm trùng xương, những kết quả của những điều trị này là gì ?
BS François Bertin. Nhìn toàn thể, những kết quả là đúng đắn, nhưng với cái giá một sự tái can thiệp khi có một nguy cơ nhiễm trùng. Luôn luôn có một nguy cơ bị di chứng chức năng (séquelle fonctionnelle), và ta không bao giờ có thể chắc chắn đã điều trị hoàn toàn nhiễm trùng.
Hỏi : Ông vừa thực hiện một première mondiale với một prothèse mới đã cho phép chống lại một nhiễm trùng của xương ức sau thất bại của những điều trị chuẩn. Tác dụng của nó là gì ?
BS François Bertin. Đó là một implant bằng gốm có nhiều lỗ, được cấu tạo bởi alumine và được tẩm các kháng sinh, được phát ra tại chỗ với liều lượng lớn trong xương và các mô xung quanh. Cách cho thuốc này cho phép một sự đi vào trong máu với lượng nhỏ để tránh những tác dụng phụ. Sự kiện prothèse này có nhiều lỗ (poreuse), cho phép những tế bào xương lân cận đi vào đó, điều này, trong thời gian dài hạn, giúp chống lại tốt hơn một nguy cơ nhiễm trùng và ổn định một cách tự nhiên implant.
Hỏi : Bệnh nhân sau cùng của ông được implanté với prothèse bằng gốm mới bị bệnh gì ?
BS François Bertin. Vào năm 54 tuổi, bệnh nhân đã phát triển một nhiễm trùng của trung thất (sau xương ức) sau khi đã được mổ một quadruple pontage coronarien. Bệnh nhân đã được nhập viện trong 10 tháng với nhiều biến chứng (choáng nhiễm trùng, ngừng tim), một vết thương há miệng ở ngực. Xương ức như bị “ăn” bởi các vi khuẩn. Tiên lượng sống còn bị giảm rất nhiều.
Hỏi : Phẫu thuật đã diễn biến như thế nào ?
BS François Bertin. Cuộc mổ đã kéo dài 3 giờ không một biến chứng nào. Bệnh nhân được nhập viện 17 ngày rồi đã trực tiếp trở về nhà, với những séance de kinésithérapie trong 1 tháng. Hôm nay, 6 tháng sau, bệnh nhân rất khỏe. Phẫu thuật này đánh dấu một giai đoạn quyết định trong phẫu thuật của các nhiễm trùng xương.
Hỏi : Prothèse mới này được đặt trong trường hợp nhiễm trùng hay để phòng ngừa ?
BS François Bertin. Implant bằng gốm tẩm kháng sinh này được chế tạo để được thiết đặt en première cũng như en seconde intention, khi được đặt lại (réimplantation) sau khi lấy ra một prothèse nhiễm trùng.
Hỏi : Ông đã đạt được một thành công đầu tiên với một prothèse du sternum. Ông có dự định nhờ đến kỹ thuật này cho những định vị khác của xương không ?
BS François Bertin. Vâng. Loại implant này có thể được sử dụng đối với những thương tổn của các xương dài, dẹt và khớp. Kỹ thuật này đang được nghiên cứu : những thử nghiệm đang được tiến hành ở động vật.
Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của prothèse mới này ?
BS François Bertin.
1. Kháng sinh được phát ra, gentamicine, chống lại nguy cơ nhiễm trùng và làm an toàn hơn những giai đoạn đầu tiên của quá trình lành sẹo.
2. Những tế bào xương sát nhập vào trong prothèse.
3. Radiotransparence của implant không làm biến dạng những hình ảnh khi kiểm tra X quang hậu phẫu.
(PARIS MATCH 8/12-14/12/2016)

6/ MARIE CURIE, PRIX NOBEL DE MÉDECINE ?

Professeur André Aurengo
Membre de l’Académie nationale de médecine

Chẳng phải là thầy thuốc, nhà khoa học nữ với hai giải Nobel, vật lý và hóa học, đã cách mạng hóa y khoa, và những công trình của bà luôn luôn inspirer sự cải tiến về chẩn đoán và điều trị. Trước khi xuất hiện CHU, “modèle Curie” đã cho phép lần đầu tiên quy tụ trong cùng một nỗi nghiên cứu cơ bản (recherche fondamentale), nghiên cứu áp dụng và lâm sàng, ngay năm 1911 ở Viện radium, trở thành Viện Curie. Không phải là thầy thuốc, Marie, engagée volontaire, đã thành công, đứng đầu đội chụp X quang lưu động (flotte d’antennes mobiles de radiographie), những “petites curies”, điều trị hơn một triệu lính, với để bảo vệ chống lại những tia X, một écran kim loại và những gant de tissu ! 7/2/1922, hội viên tự do bởi vì không phải médecin, đó là phụ nữ đầu tiên được bầu một cách long trọng vào Viện hàn lâm y khoa, ngay cả hôm nay chỉ có khoảng 10 hội viên chính thức phụ nữ..
Tất cả bắt đầu vào năm 1896 khi Henry Becquerel khám phá những tia uran bí mật mà Marie goi là tính phóng xạ (radioactivité). Hai năm sau, sự khám phá của radium cho phép Marie và Pierre Curie chia sẻ với Henri Becquerel, vào năm 1903, giải Nobel vật lý. Tính phóng xạ (radioactivité) thay đổi thế giới…Tất cả thuộc về radium : crème de beauté, soda atomique, nước khoáng và ngay cả quần áo tã lót (layette). Nó được xem như chữa lành viêm khớp, cao huyết áp, đau thần kinh tọa hay đái đường..Và chính Marie Curie khuyến nghị những điều trị này, mặc dầu bà tiếc tính chất quá thường nghiệm…
Otto Walkhoff, một nha sĩ người Đức, thử chụp radio rằng với radium. Thí nghiệm thất bại. Pierre Curie thử điều đó : ông đặt một nguồn radium trên cẳng tay của mình và, như Walkhoff, bị bỏng. Roentgen chụp bàn tay của vợ ông ! Bằng cớ về tác dụng của những bức xạ này được thực hiện, và Pierre thuyết phục người bạn của mình Henri Alexandre Danlos, thầy thuốc bệnh ngoài da ở bệnh viện Saint-Louis, thí nghiệm kỹ thuật này. Đó là một thành công trên những ung thư da. Curiethérapie ra đời.
Bằng cách đặt một nguồn bức xạ tiếp xúc với khối u, ta tránh làm thương tổn những mô lành mạnh chung quanh, trong khi radiothérapie externe phải xuyên qua chúng trước khi đạt đến khối u. Ở Pháp, mỗi năm, khoảng 5000 bệnh nhân ung thư luôn luôn nhận điều trị này mà những thể thức không ngừng đa dạng hóa. Hôm nay curiethérapie métabolique bằng iode radioactif cho phép điều trị ung thư tuyến giáp và, nhờ một nguyên tố phóng xạ cặp với một kháng thể “bám vào” những tế bào ung thư, curiethérapie vectorielle nhắm một cách chính xác những tế bào cần phá hủy và không gì khác. Sau cùng, sự sản xuất trên quy mô công nghiệp một chất đồng vị hiếm, plomb 212, sẽ cho phép điều trị những thể ung thư ác tính nhất…Hommage indirect à Marie Curie, vì lẽ plomb 212 được biến hóa thành polonium, mà sự phát xạ alpha, rất mạnh mẽ, phá hủy tế bào ung thư.
Vào năm 1935, Irène Curie, con gái của Marie và Pierre, và Frédéric Joliot khám phá tính phóng xạ nhân tạo (radioactivité artificielle), và gia đình Curie được một giải Nobel thứ ba ! Ngay năm 1937, technétium 99m, một trong những nguyên tố phóng xạ đầu tiên, hôm nay vẫn còn cho phép thực hiện những hình ảnh “scintigraphiques” của rất nhiều cơ quan. Thật vậy, gamma camera cho phép định vị một produit radioactif được đưa vào trong cơ thể khi nó tập trung trong một cơ quan đặc biệt, xương, tim, não hay tuyến giáp. Khoảng 1 triệu 300.000 scintigraphies được thực hiện mỗi năm ở Pháp.
Nhưng, cuộc cách mạng thật sự, đó là TEP (tiếng Anh, PET Scan). Tomographie par émission de positons là một scintigraphie dựa trên sự phát hiện những positons và cung cấp một hình ảnh của hoạt động tế bào bên trong một mô. Thí dụ nó cho phép chẩn đoán sớm bệnh Alzheimer. Hôm nay, những gamma-camera à semi-conducteur cho phép giảm bớt thời gian thăm dò bằng cách tiêm ít chất bức xạ (produits radioactifs) hơn. Bây giờ phần lớn những TEP là hybride, được trang bị bởi một scanner hay một IRM để có được một hình ảnh chất lượng trên đó ta rọi hình ảnh scintigraphique. Sau cùng chính nhờ tính phóng xạ mà ta có được một cải tiến y khoa quan trọng, dosage radio-immunologique, đã cho phép gia tăng một cách kinh ngạc tính nhạy cảm của định lượng hàng ngàn chất như hormone, thuốc và những độc chất
Ngày 4 tháng 7 năm 1934, Marie Curie chết vì ung thư máu. Bà chết nạn nhân của phát minh của mình trong khi bà, ở Viện hàn làm y khoa, thực hiện một báo cáo khoa học về radioprotection. Médecine nucléaire đòi hỏi một radioprotection không sai sót, mặc dầu những kỹ thuật không xâm nhập, mặc dầu những thăm dò có thể được lập lại không nguy cơ, nếu cần thiết. Nhưng một sự thận trọng quá mức làm biến chất bài học can đảm của người mà đối với hậu thế vẫn là người đàn bà đầu tiên yên nghỉ, do những công lao của mình, trong một đền (temple) dành cho các vĩ nhân bởi tổ quốc ghi ơn.
(LE FIGARO 20/11/2017)

7/ HALLUX VALGUS : PHẪU THUẬT QUA DA ĐƯỢC THỰC HIỆN NGOẠI TRÚ.
BS Stéphane Guillo, clinique du sport, Bordeaux-Mérignac, BS Christophe de Lavigne và Olivier Laffenetre, clinique Geoffroy Saint-Hilaire, Paris, đã khuyến khích ngoại khoa vi xâm nhập của bàn chân, trong đó phẫu thuật của hallux valgus.Hỏi : Một hallus valgus là gì ?
BS Stéphane Guillo. Đó là một sự lệch của ngón chân cái ra ngoài từ đáy của nó (P1 hay première phalange : đốt ngón một) trong khi xương trên đó nó khớp, được gọi là M1 (premier métatarsien : đốt bàn 1) di lệch vào trong. Khi đó khớp ở giữa lồi về phía bờ trong của chân. Hallus Valgus chủ yếu xảy ra ở các phụ nữ (9 trường hợp trên 10), đôi khi ngay ở tuổi thiếu niên, thậm chí trước đó, do một hướng không dùng của mặt khớp của M1, làm lệch đốt ngón 1 (P1), nhưng thường hơn, giữa 40 và 60 tuổi do sự lún dần dần của vòm bàn chân (voute plantaire), khiến bàn chân dài ra và, do tác động của các dây gân, làm lệch trục P1. Cơ chế giống hệt ở đàn ông. Những đôi giày hẹp, một sự quá giãn dây chằng (hyperlaxité ligamentaire) là những yếu tố làm dễ.
Hỏi : Ở Pháp, những người nào bị Hallus Valgus ?
BS Christophe de Lavigne. Trung bình 1/4 population féminine bị liên quan bởi HV, biện minh 50.000 đến 60.000 phẫu thuật mỗi năm ở Pháp.
Hỏi : Kỹ thuật cổ điển được gọi là lộ thiên (à ciel ouvert) là gì ?
BS Stéphane Guillo. Bằng một đường xẻ da dài (khoảng 10 cm) vắt ngang trên M1 và P1, phẫu thuật viên thực hiện, với sự kiểm soát bằng mắt, những lát cắt xương trong khớp và những phẫu tích mô rộng. Tuy nhiên kỹ thuật này cho phép đặt vis de fixation. Nhưng có một liên hệ thuận giữa tầm quan trọng của chấn thương do mổ, thời gian mổ và tỷ lệ những biến chứng.
Hỏi : Khi nào phẫu thuật được chỉ định ?
BS Olivier Laffenetre. Ta có thể trì hoãn khi Hallus Valgus không gây trở ngại, mặc dầu sự trầm trọng không thể tránh được. Buộc phải mổ khi bệnh nhân đau, khi bị trở ngại lúc mang giày hay khi hiện hữu nhưng rối loạn khác (đau dưới long bàn chân, névrome…).
Hỏi : Nguồn gốc của kỹ thuật vi xâm nhập qua da (technique mini-invasive percutanée) ?
BS Christophe de Lavigne. Kỹ thuật phát xuất từ những “podiatre”, những praticien chỉ hiện hữu ở Hoa Kỳ. Mặc dầu không phải médecin, họ có quyền mổ ngoại trú, với gây tê tại chỗ, để điều chỉnh những lệch ngón chân (déviations d’orteil) qua những lát cắt xương, sau đó củng cố bằng bất động nhiều tuần. Vào năm 1999, tôi đã đưa vào Pháp kỹ thuật này và tôi đã đánh giá nó ở Bordeaux với BS Laffenetre, rồi BS Guillo. Chúng tôi đã ý thức rằng phương pháp qua đã có thể được cải thiện, vì lý do này chúng tôi đã thành lập năm 2002 Groupe de recherche et d’étude en chirurgie mini-invasive du pied (Grecmip), đã đào tạo nhiều orthopédiste theo những intervention a minima này. Hôm nay tôi chỉ còn mổ các đầu gối, nhưng tôi hãnh diện rằng những phương pháp của chúng tôi từ nay được dạy ở Baltimore cho các orthopédiste Hoa Kỳ !
Hỏi : Grecmip đã mang lại những kỹ thuật nào ?
BS Olivier Laffenetre. Đưa vào qua những trou millimétrique, những instrument rotatif, cho phép cắt xương và đặt lại thẳng hàng theo một trục đúng đắn là một ưu điểm. Nhưng không cố định sự sắp thẳng hàng này bằng những vis để đảm bảo một sự vững chắc tức thời cho sự lắp ráp. Chúng tôi đã cho thấy rằng một đường xẻ bổ sung 2 hay 3 cm đủ cho sự cố định này và, từ 2008, nó có thể thực hiện qua da cho một cử động tốt hơn, cũng như tất cả những động tác liên kết đôi khi hữu ích (nối dài các dây gân, điều chỉnh những ngón chân khác…), nhờ những instrument miniaturisé. Cuộc mổ, với gây tê tại chỗ, kéo dài 30 phút, thủ thuật là ngoại trú.
Hỏi : Những diễn biến sau mổ, những nguy cơ, những kết quả ?
BS Olivier Laffenetre. Đau hậu phẫu được chế ngự tốt và trong thời gian ngắn. Chân được mở được giữ trong một chaussure médicale de marche trong 3 tuần. Sau 3 hay 4 tháng có thể thực hành thể thao không hạn chế. Tỷ lệ các biến chứng (nhiễm trùng, chậm lành sẹo, algodystrophie) không vượt quá 5% những trường hợp. Chúng tôi quan sát 95% những kết quả tốt và rất tốt.
(PARIS MATCH 29/3-4/4/2018)

8/ BCG ĐỂ THẮNG BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG ?
Vaccin chống bệnh lao an toàn và được biết rất rõ. Equipe của GS Denise Faustman, immunologiste ở Boston (Massachusetts General Hospital), vào năm 2012, đã cho thấy, ở 52 bệnh nhân phụ thuộc insuline bị một bệnh đái đường tiến triển loại 1 (dạng tự miễn dịch của bệnh), rằng hai liều liên tiếp BCG cách nhau một tháng gây một sự lên tạm thời của insuline và một sự bình thường hóa của những tế bào miễn dịch liên quan trong bệnh đái đường. Tuy vậy, không một cải thiện nào của đường huyết trong thời gian dài hạn (được gọi là glyquée) đã được quan sát. Quá trình chậm : nó được biểu hiện từ năm thứ ba sau BCG và cần 8 năm để glycémie glyquée gần bình thường. Giải thích : vaccin có khả năng reprogrammer vài gène liên quan trong tolérance immune nói chung và trong sự sử dụng của glucose bởi những tế bào nói riêng ! Cũng có thể dùng BCG đối với bệnh đái đường loại 2. Những thử nghiệm lâm sàng đang được thực hiện.
(PARIS MATCH 12/7-18/7/2018)

9/ HO VÀ MẬT
Theo những kết quả của 6 công trình nghiên cứu quốc tế được tiến hành ở 900 trẻ em từ 1 đến 18 tuổi và bị một nhiễm trùng hô hấp do virus, mật làm dịu ho tốt hơn nhiều sirop chống ho quy chiếu hay hơn placebo hay không gì cả, chủ yếu trong 3 ngày đầu điều trị (nhưng không sau đó).
(PARIS MATCH 31/5-6/6/2018)

10/ CANNABIS VA COCAINE : NGUY CƠ TIM
Hai chất trái phép này, được tiêu thứ nhất ở Pháp (lần lượt bởi 1,4 triệu và 450.000 người), chịu trách nhiệm 10% những trường hợp nhồi máu cơ tim ở những người 50 tuổi hay ít hơn. Theo một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ mới đây trên 2097 bệnh nhân loại này, được theo dõi trong hơn 11 năm, những chất ma túy này tăng gấp đôi tỷ lệ tử vong tim-mạch và tần số của ngừng tim.
(PARIS MATCH 18/7-25/7/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(3/9/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s