Thời sự y học số 477 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ MẮT ĐỎ VÀ APHTES : CHÚ Ý BỆNH VIÊM CỦA CÁC HUYẾT QUẢN.
30 tuổi. Đó là tuổi trung bình xuất hiện của bệnh Behçet
Căn bệnh hiếm này, được gọi là Maladie de Behçet, có thể có những hậu quả nghiêm trọng.OPHTALMOLOGIE. ” Mới đây anh có bị aphte (chứng lỡ mồm) không ? “.Có lẽ đó là câu hỏi kỳ cục nhất mà một thầy thuốc nhãn khoa có thể đặt cho một bệnh nhân bị mắt đỏ, nhưng là cần thiết nếu ông ta nghi ngờ một bệnh Behçet. Bệnh lý viêm hiếm này có những hậu quả có thể trầm trọng đối với mắt. Thật vậy, bệnh bắt đầu gần như luôn luôn với những đợt lỡ mồm lập lại (aphtes à répétition), thường không được chú ý. Bệnh xảy ra ở khoảng 6 trên 100.000 người ở Pháp, đàn ông nhiều hơn đàn bà, một con số biến thiên nhiều từ nước này qua nước khác. Bệnh lý này thường gặp hơn dọc theo con đường tơ lụa (route de la soie). Tuổi trung bình xuất hiện bệnh là khoảng 30 tuổi, với những trường hợp hiếm ở trẻ em. Trong một thời gian lâu bệnh đã dẫn đến mù lòa một cách không tránh được, nhưng sự cải thiện các circuit de soins cho phép một chẩn đoán sớm, cũng như sự phát triển những điều trị chống viêm đã dẫn đến một điều trị thỏa mãn khi những bệnh nhân này được nhận diện một cách nhanh chóng.
Trước hết chính bệnh viêm mắt, uvéite, khiến bệnh nhân đi khám bác sĩ, thường là thầy thuốc đa khoa, tuy vậy không có những công cụ cần thiết để phân biệt giữa một viêm kết mạc đơn thuần (conjonctivite) với một uvéite. ” Các bệnh nhân ngay cả không lấy hẹn khám mắt ở thầy thuốc chuyên khoa mắt, GS Antoine Brézin, trưởng khoa mắt của bệnh viện Cochin, Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Tuy vậy chúng tôi ngày càng có nhiều người huấn luyện thư ký của mình để chọn lọc những bệnh nhân, để không bỏ qua bên một cấp cứu thật sự cần được đưa vào trong ngày khám bệnh. ” Một mắt đỏ, được kèm theo đau và/hoặc hạ thị lực cũng phải gợi lên một uvéite, một biến cố hiếm và nghiêm trọng phải nhanh chóng chuyển đến trong một trung tâm chuyên môn bệnh viện : có hai trung tâm ở Paris và một trong mỗi thủ phủ vùng (capitale régionale). Mặc dầu tỷ lệ được điều trị là 100% đối với tất cả các bệnh nhân, nhưng những người xuất thân từ những loại xã hội-nghề nghiệp cao, được thông tin tốt hơn và ít ngại ngùng đối với những triệu chứng của mình, được phát hiện nhanh chóng hơn và chịu ít những biến chứng của bệnh Behçet hơn.Trong bệnh Behçet, uvéite có thể hiện diện dưới những dạng không đặc hiệu khác nhau, ở phía trước hay ở phía sau của mắt, và người chuyên gia phải kèm những quan sát với đèn khe (lampe à fente) của mình bằng một vấn chẩn hoàn chỉnh để nhận diện những biểu hiện khác của viêm tắc những huyết quản. Thật vậy, bệnh Behçet được đặc trưng bởi một thương tổn của các mạch máu, những động mạch và tĩnh mạch, từ nhỏ nhất đến lớn nhất, mà các thành của chúng để đi qua nhiều bạch cầu tích tụ trong các mạch máu. Sau đó các mạch máu tắc nghẽn dần dần, cho đến khi không còn có thể cung cấp máu cho các mô chung quanh. Cuối cùng chúng bị hoại tử và mất chức năng tự nhiên của chúng.
Vậy một chứng lỡ mồm tái diễn (aphtose récurrente), ở miệng hay vùng sinh dục là một trong những biểu hiện đầu tiên của bệnh Behçet, mặc dầu chúng rất hiếm khi đưa đến chẩn đoán.Maladie de Behçet (Aphtose buccale)Maladie de Behçet (Aphtose du scrotum)Maladie de Behçet (Aphtose vulvaire)
Bệnh Behçet cũng có thể gây những rối loạn của da như những pseudo-folliculite hay một tính nhạy cảm gia tăng đối với những vết chích côn trùng mà bệnh nhân thường phớt lờ bởi vì, nhưng các aphte, những triệu chứng này dường như không nặng.
Viêm các huyết quan trong bệnh Behçet có thể có những hậu quả nghiêm trọng, hiếm khi gây chết người khi nó xảy ra ở não, nhưng những thể cực nặng này nói chung xuất hiện sau nhiều năm tiến triển không được điều trị. Trong đại đa số các trường hợp trước hết bệnh Behçet sẽ gây thương tổn mắt . Nếu aphte đi trước uvéite trong 95% những trường hợp, bệnh Behçet khó chẩn đoán hơn khi mắt là đích đầu tiên, nhưng chẩn đoán không cần thiết để bắt đầu điều trị.
Thầy thuốc chuyên khoa mắt sẽ là người đầu tiên chẩn đoán nhưng cũng điều trị, bởi vì mắt là đích đầu tiên của những quyết định điều trị, trước hết để tránh mất thị giác. Trong những giai đoạn đầu, viêm có thể gây thương tổn phần trước của mắt và gây dính mống mắt vào thủy tinh thể : đồng tử biến dạng và có dạng hình ba múi (trèfle). ” Nếu dạng vẻ của mắt bị biến đổi, điều này có thể gây trở ngại vì sự biến dạng của đồng tử có thể che khuất phía sau của mắt và làm khó sự phát hiện viêm tắc của các huyết quản của võng mạc, nếu không được điều trị nhanh có thể dẫn đến mất vĩnh viễn thị lực “, GS Brézin đã nhấn mạnh như vậy.
Viêm của bệnh Behçet cũng như một đám cháy : nếu vào lúc ngọn lửa bắt đầu dễ dàng dập tắt bằng một tờ giấy, thì khi nó lăn ra toàn tỏa nhà phải nhờ đến tất cả các caserne chung quanh để dập tắt nó. Như nhiều bệnh viêm, bệnh Behçet tiến triển từng đợt và có thể vẫn yên ngủ trong những năm giữa các cơn.
(LE FIGARO 17/10/2016)

2/ BỆNH BEHCET : NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI RẤT TỐN KÉM
Bệnh Behçet thường nhất được biểu hiện, khi viêm, khởi đầu hiện diện ở mức độ thấp, bùng nổ và gây những triệu chứng thường dẫn bệnh nhân đến một thầy thuốc. Một cách lý tưởng, chẩn đoán được xác lập nhanh và một điều trị kháng viêm có thể được thực hiện tức thời, nói chung trên cơ sở corticoides.
” Phải nhắc lại rằng, trong những năm 1960, trước khi các corticoides được hiệu chính, một công trình nghiên cứu ở Liban (ở đây bệnh Behçet thường gặp), đã cho thấy rằng 95% các bệnh nhân có một thị lực dưới 1/10 sau 5 năm tiến triển “, GS Antoine Brézin, trưởng khoa mắt của bệnh viện Cochin, Paris, đã nhấn mạnh như vậy. Từ những năm 1980, 95% có thị lực trên 8/10.” Tùy theo mức viêm được nhận diện và định vị của nó, thầy thuốc sẽ có thể đề nghị một điều trị tại chỗ bằng một pommade hay một collyre kháng viêm, hay những corticoide bằng đường miệng hay tiêm. Khi aphte nhiều và gây khó chịu, colchicine thường được kê đơn, nhất là khi nó cũng làm thuyên giảm đau khớp được bệnh nhân cảm thấy trong một nửa những trường hợp. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, các corticoide được tiêm tĩnh mạch khi nhập viện với thời gian cần thiết để kiểm soát những triệu chứng gây lo ngại nhất.
THEO DÕI ĐỀU ĐẶN
Tuy nhiên, những liều mạnh của điều trị tấn công, hữu ích trong trường hợp bộc phát bệnh phải được giảm chừng nào có thể được để tránh nhiều tác dụng phụ của chúng. Tùy theo profil của bệnh nhân và mức độ nghiêm trọng của các cơn, một điều trị với corticoides sau đó có thể được duy trì suốt đời. Để cho phép giảm liều kháng viêm, corticoide có thể được phối hợp với những thuốc làm suy giảm miễn dịch. Mục tiêu sau đó là tìm một cân bằng để đạt được liều corticoides tối thiểu được dùng trong thời gian dài hạn. Tuy nhiên, sau nhiều tháng hay nhiều năm không có cơn bộc phát mới, có thể giảm dần điều trị và ngay cả ngừng nó. Sau đó cần duy trì một sự theo dõi đều đặn để can thiệp nhanh nếu bệnh tái xuất hiện.
Khi những điều trị này không đủ, một lớp điều trị mới chống bệnh Behçet vừa được cho phép thương mãi hóa : những anti-TNF (facteur de nécrose tumorale). Như đối với những bệnh viêm tự miễn dịch khác, chúng đã tỏ ra rất hiệu quả để làm giảm viêm và được sử dụng ở những bệnh nhân đề kháng với những điều trị khác hay dung nạp chúng tồi. Vài chuyên gia thích có thể sử dụng chúng ưu tiên một để không phải mò mẫm với những điều trị khác. Nhưng những điều trị mới này cực kỳ tốn kém. Giới hữu trách y tế chưa quyết vấn đề này.
(LE FIGARO 17/10/2016)

3/ CĂN BỆNH CỦA ĐƯỜNG TƠ LỤA
Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia trong đó bệnh Behçet thường gặp nhất : đó không phải là một trường hợp ngẫu nhiên nếu BS Huluci Behçet, một thầy thuốc Thổ chuyên về bệnh ngoài da, đã là người đầu tiên nhận diện nó một cách chính thức năm 1937, mặc dầu bệnh này đã được mô tả ở Hy Lạp bởi Socrate và bởi một người đương thời của Behçet.
Tỷ lệ lưu hành ở Thổ Nhĩ Kỳ là từ 110 đến 420 trường hợp đối với 100.000 dân, nhưng bệnh Behçet được gặp dọc theo đường tơ lụa. Bệnh chiếm 13 đến 20 trường hợp đối với 100.000 dân trong những nước như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc và Arabie Saoudite và từ 1 đến 2 trong những nước Tây Phương. Bệnh đôi khi xuất hiện ở Scandinavie ở những bệnh nhân không có một thừa kế gia đình nào trong những nước có dịch bệnh.
Thật vậy có những thể gia đình của bệnh Behçet. Như vậy bệnh này gồm một thành phần di truyền có thể giải thích sự phân bố địa lý một phần dựa trên di truyền. Những chuyên gia đã có thể nhận diện sự hiện diện của một marqueur tissulaire, HLA 51, hiện diện trong 7% population générale và ở 60% những bệnh nhân bị bệnh Behçet. Môi trường dường như đóng một vài trò quan trọng trong sự phát khởi bệnh : những dân nhập cư phát xuất từ những nước mà bệnh thường gặp không bị mạnh như trong những nước nguyên quán.
Ở Berlin, tỷ lệ lưu hành của nó ở dân gốc Thổ chỉ 21 trường hợp đối với 100.000, dưới nhiều những con số được nêu lên ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cùng sự quan sát đã có thể được làm ở những người Nhật định cư ở Hawai. Những dữ kiện dịch tễ học cũng đã cho thấy rằng tần số của bệnh Behçet, rất cao ở Nhật Bản năm 1945, khi đó trải qua những điều kiện vệ sinh kém và tình trạng rất nghèo nàn, đã đột ngột sụt giảm ngay khi những điều kiện sống được cải thiện. Sau cùng, bệnh Behçet xảy ra ở đàn ông nhiều hơn đàn bà chung quanh bassin Địa Trung Hải, những điều trái lại được quan sát ở Đông Á.
Giả thuyết phổ biến nhất hiện nay là bệnh Behçet có thể dựa trên một tố bẩm di truyền (prédisposition génétique) tạo điều kiện cho sự phát khởi của một đáp ứng viêm ở các huyết quản khi bị một nhiễm trùng, có lẽ nguồn gốc virus.
(LE FIGARO 17/10/2016)

4/ SINH THIẾT DỊCH (BIOPSIE LIQUIDE) : MỘT CUỘC CÁCH MẠNG ĐỂ CHẨN ĐOÁN UNG THƯ ?

Docteur Sébastien Couraud
Pneumologue et oncologue thoracique
Institut de cancérologie des Hospices civils
de Lyon, centre hospitalier Lyon-Sud

Chỉ mới cách nay vài năm chỉ là quan niệm của khoa học giả tưởng, sinh thiết dịch (biopsie liquide) là một trong những cuộc cách mạng lớn hiện nay và sắp đến trong ung thư học.
Trước hết phải nhớ rằng chẩn đoán của một ung thư dựa trên sự phân tích của một sinh thiết. Ngoài ra những kết quả của nó cho phép thực hiện điều trị thích ứng nhất đối với người bệnh. Sinh thiết là một động tác y khoa nhằm lấy một phần của khối u. Vậy đó là một động tác xâm nhập, được thực hiện một cách khác nhau tùy theo trường hợp : nội soi, chọc xuyên qua da (có hay không có hướng dẫn X quang), thậm chí ngoại khoa.
Từ nay chúng ta biết rằng những đặc điểm của ung thư thay đổi theo thời gian, dưới sức ép của các điều trị, hơi giống như những vi khuẩn trở nên đề kháng với các kháng sinh. Đó là quan niệm về tính không đồng nhất của ung thư (hétérogénéité tumorale). Do đó, để thích ứng tốt nhất điều trị , khi ung thư tiến triển, càng ngày ta càng thường cần phải thực hiện một sinh thiết mới, điều này lại gây khó chịu và là nguồn của những gò bó đối với người bệnh.
Vài thành phần của ung thư được phóng thích trong máu. Sự phóng thích này là do sự phá hủy của những tế bào ung thư hay do sự di tản của những tế bào ung thư trong các huyết quản. Do đó máu chứa đựng những thành phần khác nhau phát xuất từ ung thư. Hiện nay được sử dụng nhất là ADN tumoral và những tế bào ung thư lưu thông trong máu.
ADN tumoral circulant tương ứng với những mảnh rất nhỏ của ADN của tế bào ung thư lưu thông trong máu. Những mảnh này là nhỏ xíu vì lẽ kích thước của chúng nói chung là 160 paire de base trong khi kích thước của génome humain complet là 3,2 tỷ paire de base ! Ngoài ra có một khó khăn khác : ADN tumoral circulant..không phải là ADN duy nhất lưu thông trong máu ! Thật vậy, nếu những tế bào ung thư phóng thích ADN trong máu, những tế bào “bình thường” cũng làm như vậy, và với lượng quan trọng hơn nhiều, như thế “làm loãng” ADN tumoral trong máu. Sự hiện hữu của ADN tumoral circulant được biết từ lâu, nhưng sự khảo cứu chính xác chỉ có thể được thực hiện từ vài năm qua nhờ sự phát triển của những công cụ biologie moléculaire được tối ưu hóa : techniques de PCR (Polymérase Chain Reaction).
CHỈ CẦN LẤY MÁU
Từ nay những kỹ thuật này cho phép phát hiện một bất thường (thường nhất là một biến dị) của một gène của ung thư, bằng cách phân tích một xét nghiệm máu đơn thuần ! Điều này đặc biệt quan trọng vì lẽ những điều trị ung thư càng ngày càng nhắm vào loại bất thường này (ta nói thérapie personnalisée). Hôm nay, sự tìm kiếm những bất thường này thường được thực hiện ở Pháp trong vài chỉ định được định rõ, chủ yếu trong khung cảnh của ung thư phổi. Tuy nhiên trong tương lai gần, những chỉ định nhanh chóng được mở rộng đến nhiều ung thư, như những ung thư đại tràng hay buồng trứng.
Tuy nhiên phải nhấn mạnh một điểm cơ bản. Hôm nay, sinh thiết dịch (biopsie liquide) không cho phép chẩn đoán một ung thư. Vẫn luôn luôn cần thiết thực hiện sinh thiết khối u, ít nhất lúc đầu. Sinh thiết dịch vào lúc này “chỉ” cho phép tìm kiếm những bất thường, hoặc lúc đầu, hoặc khi bệnh tái tiến triển.
Thật vậy, để chẩn đoán một ung thư, điều quan trọng là “thấy” và ” khảo sát những tế bào của ung thư, như ta có thể làm với sinh thiết. Giai đoạn này là căn bản bởi vì chính dạng vẻ và những đặc điểm bất thường của các tế bào cho phép xác định sự hiện hữu của một ung thư. Sinh thiết dịch có lẽ sẽ hữu ích trong chỉ định này trong tương lai. Thật vậy, ngoài ADN, những ung thư cũng phóng thích trong máu toàn những tế bào ung thư sống, đó là nhưng tế bào ung thư lưu thông (CTC : cellules tumorales circulantes). Từ nay nhiều kỹ thuật cho phép phân lập và khảo sát chúng. Mặc dầu vẫn còn thuộc lãnh vực nghiên cứu, những áp dụng của sự nghiên cứu những tế bào này tiềm năng rất là quan trọng. Chúng có thể cho phép chẩn đoán (đôi khi rất sớm) một cách trực tiếp những ung thư bằng lấy máu nhưng cũng hướng dẫn những điều trị nhờ nghiên cứu những đặc điểm và tiến triển của chúng.
Vậy sinh thiết dịch là một công cụ mới ló trong ung thư học. Mặc đầu đã có để sử dụng thường quy ở Pháp trong vài chỉ định chính xác, tiềm năng của nó đặc biệt quan trọng và biện minh rộng rãi những cố gắng nghiên cứu trong lãnh vực này. Ngoài ra đó là một mối lợi đáng kể đối với những người bệnh vì lẽ nó có thể cho phép một sự theo dõi tốt hơn các ung thư đồng thời ít gây chấn thương hơn.
(LE FIGARO 13/11/2017)

5/ ĐƯỜNG HUYẾT : ĐO KHÔNG ĐAU
Những nhà nghiên cứu của đại học Bath (Anh) đã chế một thiết bị cho phép những bệnh nhân đái đường được điều trị với insuline (mỗi ngày phải điều chỉnh liều mà họ tự tiêm cho mình) đo nồng độ đường trong máu mà không cần phải chích. Thiết bị hiện diện dưới dạng một patch có những capteur nhỏ xíu bằng graphène (vật liệu kết tinh rất mịn) có khả năng lấy bằng extraction électro-osmotique, qua những nang lông (follicules pileux), dịch kẽ (liquide interstitiel) nằm giữa những tế bào của da. Thiết bị này khi đó định lượng nồng độ đường của dịch kẽ này, phản ánh nồng độ của máu. Patch này có thể đo mỗi 10 phút. Nó đã được trắc nghiệm thành công ở heo và ở người lành mạnh trong 6 giờ.
Version définitive sẽ hoạt động trong 24 giờ. Những étude de validation ở những bệnh nhân đái đường được dự kiến.
(PARIS MATCH 23/5-30/5/2018)

6/ DINH DƯỠNG NHƯ THẾ NÀO TRONG THỜI KỲ THAI NGHÉN ?
Thai nghén tương ứng với một thời kỳ trong đó “bà mẹ tương lai” tự hỏi về điều tốt nhất để cung cấp cho đứa bé. Trong số những khuyến nghị và những lời khuyên dành cho bà mẹ, thường khó hành xử như thế nào.
Có phải ta cho ăn cả hai ? Câu trả lời mơ hồ : vâng và không ! Vâng, bởi vì tất cả những gì mà bà mẹ tương lai ăn vào sẽ được truyền cho đứa con của mình và do đó chất lượng của chế độ ăn uống sẽ là chủ yếu. Cùng cách như vậy, sự đánh thức và sự chấp nhận những khẩu vị của nhũ nhi tương lai sẽ bắt đầu bởi điều đó.
Không, bởi vì những lượng thức ăn phải được gia tăng một cách vừa phải và nhất là ở tam cá nguyệt đầu, khi đó sự gia tăng những nhu cầu liên quan đến thai nghén là rất thấp. Tương ứng với tương đương của một yaourt bổ sung, điều đó không được gây nên một lên cân trên 2 hay 3 kg trong 3 tháng.
Thật vậy, trái với điều mà ta có thể nghĩ, phải tránh lên cân quá mức trong khi có thai vì hai lẽ chính, lý do thứ nhất là một sự lên cân quan trọng tạo nên một trong những yếu tố ảnh hưởng sự phát triển tốt của thai nhi với những nguy cơ nhất là trong thời kỳ thai nghén (đái đường thai nghén…) nhưng cũng về lâu về dài với một nguy cơ gia tăng tăng thể trọng đối với đứa bé ngay lúc 7 tuổi, thậm chí nguy cơ đái đường ở tuổi trưởng thành.
Lý do thứ hai liên quan đến người mẹ : trọng lượng thừa (trên 10 kg) là khó làm mất hơn nhiều sau khi có thai và người mẹ có thể giữ thêm vài kilo cho đến thai nghén tiếp theo, như thế làm gia tăng trọng lượng khởi đầu và do đó những nguy cơ liên kết với tăng thể trọng trước khi có thai.
Sự lên cân trong 9 tháng do đó không đáp ứng với một quy tắc duy nhất ; nó tùy thuộc trước hết vào trọng lượng trước khi có thai và có thể thay đổi từ một sự lên cân dưới 5 kilo đến 15 kilo, thậm chí nhiều hơn trong trường hợp sinh đôi ! Một cách đại thể, người phụ nữ có thai không phải thay đổi những thói quen ăn uống của mình nếu những thói quen này đã được quân bình. Ngược lại, đó là một cơ hội lý tưởng để kiểm tra điều đó và thực hiện những điều chỉnh cần thiết bởi vì chúng sẽ có một tác dụng dương tính kép : đối với bản thân và đối với em bé.
Vậy phải ăn tất cả, phải có những repas structurés : một petit déjeuner, một déjeuner, một diner, một hay hai collation. Mặc dầu ăn tất cả, nhưng vài đặc thù của thai nghén làm cho vài thức ăn cần thiết .
Những nhu cầu về sắt gia tăng, và điều này càng quan trọng khi sản phụ thường thiếu sắt trong giai đoạn đầu của thai nghén. Thai nhi “tự phục vụ mình” và chính người mẹ tương lai sẽ thấy dự trữ lại còn bị giảm thêm nữa. Thế mà, chúng ta biết điều đó, sự thiếu hụt này làm trầm trọng sự mệt mỏi vốn thường gặp sau khi sinh. Sự thiếu hụt có trước này bị gia tăng khi người phụ nữ không được miễn dịch chống toxoplasme. Thật vậy, một trong những cách gây nhiễm được thực hiện do ăn thịt không được nấu chín đủ và người mẹ tương lai sẽ có khuynh hướng hủy bỏ những cung cấp thịt và do đó sắt có thể được hấp thụ nhanh. Thế mà các kyste như toxoplasme biến mất ở một surgélation ở -21 độ C. Sử dụng viande surgelée (cần décongeler trong tủ lạnh) và liên kết với những cây bộ đậu (légumineuse) với một jus de citron cho phép duy trì những cung cấp sắt thích đáng.
Những nhu cầu calcium cũng gia tăng rõ rệt : những thức ăn sữa vào mỗi bữa ăn và vào những bữa ăn nhẹ vẫn là phương tiện đơn giản nhất để mang lại những lượng cần thiết suốt trong thời kỳ thai nghén. Nhắc lại về sự phòng ngừa listériose : tránh những thức ăn sữa có sữa sống và những fromage à croute fleurie nhưng cũng những sản phẩm không được ướp lạnh tốt.
Những lipide oméga 3 cần thiết cho sự phát triển tốt của não của em bé tương lai của chúng ta. Ta tìm thấy oméga 3 trong dầu thực vật nhưng cũng trợ cả mỡ (poissons gras), mà người mẹ tương lai phải ăn 2 hay 3 lần mỗi tuần với những loại cá khác nhau ; mục tiêu là giảm sự cung cấp của những acide béo bảo hòa mà ta tìm thấy trong những món ăn công nghiệp, những thịt mỡ (viandes grasses), những charcuteries, những viennoiseries..
Những trái cây và rau xanh được tiêu thụ mỗi ngày, sau khi đã được rửa kỹ càng, mang lại những vitamine cần thiết (như vitamine B9, vitamine C) và những sợi có tác dụng phòng ngừa táo bón, thường xảy ra hơn trong thời kỳ thai nghén. Cung cấp nước từ 2,5 đến 2 litre mỗi ngày, như khi không có thai, là một mục tiêu, trong đó 1 litre được chứa trong những thức ăn của chúng ta và 1,5 đến 2 litre nước. Một sự cung cấp nước đủ cũng có thể tránh nhiễm trùng đường tiểu, cũng thường gặp hơn trong thai nghén. Ngược lại những đồ uống có cồn bị cấm.
Một cách ăn uống tốt được gộp vào trong một cân bằng vệ sinh-ăn uống với một hoạt động vật lý mỗi ngày, đặc biệt là bước. Nếu thường thực hành thể thao, phải thích ứng nó tùy theo thời kỳ thai nghén.
Thai nghén không phải là một bệnh, vậy sự ăn uống phải vẫn là một thú vui. Vì vậy, vài quy tắc đơn giản cho phép tránh những cạm bẫy liên kết với thiếu dinh dưỡng hay với sự thặng dư thể trọng, điều này sẽ làm basculer cái lúc thụ thai của em bé tương lai thành một stress vô ích và có hại cho bà mẹ cũng như em bé.
(LE FIGARO 29/8/2018)

7/ BICARBONATE DE SOUDE : NHỮNG TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM
Được sử dụng từ thời thượng cổ, chất mà ta cũng gọi bicarbonate de soude được biết vì những tính chất liền sẹo, cọ rửa, kiềm,..Những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ vừa cho thấy rằng một liều nhỏ mỗi ngày của bột trắng trộn trong nước này có thể, sau 15 ngày, ở chuột cũng như ở người, biến đổi vài loại tế bào miễn dịch (của lách, thận và máu), kích thích viêm hay làm dễ sự tấn công các mô của chúng ta, bằng những tế bào làm giảm hai quá trình này. Sự hạ tính acide gây nên bởi bicarbonate de soude là yếu tố phát khởi của inversion effet này. Các tác giả đưa ra giả thuyết về sự sử dụng nó ở người trong những bệnh tự miễn dịch (thí dụ viêm đa khớp dạng thấp) và những bệnh viêm khác. Ngoài ra điều trị ít tốn kém !
( PARIS MATCH 7/6-13/6/2018)

8/ LÀM THẾ NÀO VUA LÀ PHỤ NỮ VUA LÀM THĂNG TIẾN KHOA HỌC ?

Natalie Pigeard-Micault
Responsable des ressources hostoriques
de Marie Curie

Maria Sklodowska có cơ may ra đời, 7/11/1867, trong một gia đình nhà giáo, trong một môi truong khá giả thuận lợi cho sự phát triển trí tuệ. Mẹ của Maria là cô giáo tiểu học và cha là giáo sư toán và vật lý và, ở một thời kỳ trong đó ít người biết đọc và viết, ba trong số các con của họ, trong đó Maria là con út, đã hoàn tất trung học với huy chương vàng.
May mắn thứ hai của cô thiếu nữ, đó là may mắn được sinh ở Varsovie. Bị chiếm đóng bởi nước Nga sa hoàng, thủ đô Ba Lan đã phát triển, như trong nhiều nước của Đông Âu, một giáo dục trung cấp có chất lượng cao đối với các thiếu nữ. Sau khi theo học trong một trường tư, Maria Sklodowska chuyển qua một trường trung học công lập và nhận văn bằng tốt nghiệp mà trình độ được công nhận ở Pháp như là tương đương với tú tài. Thế mà các thiếu nữ Pháp chỉ có quyền được vào giáo dục trung cấp từ năm 1880 và chưa thể dựa trên văn bằng tốt nghiệp để đi vào đại học… Nếu không có thời thơ ấu này ở Ba Lan, cô Maria trẻ tuổi sẽ không có được ở Pháp văn bằng trung cấp. Nước Pháp và Ba Lan vào thế kỷ XIX đã thắt nối những liên hệ mạnh về giáo dục đại học, và nhiều người Ba Lan theo đuổi học tập ở Pháp. Ngoài ra, nước Pháp từ năm 1868 là nước châu Âu thứ hai, sau Thụy Sĩ vào năm 1866, đã mở của đại học cho các phụ nữ ; Paris lôi kéo các sinh viên đến từ Đông Âu, ở đó cả một cộng đồng đồng hương tiếp đón họ.
Yếu tố cần thiết thứ ba là sự ủng hộ của những người đàn ông. Vào thời kỳ đó, không có sự ủng hộ này, không thể có học hành cũng như việc làm. Ở Pháp, cho đến năm 1938, để ghi tên vào đại học, bắt buộc phai có sự cho phép của người cha hay của người chồng. Maria Sklodowska được ủng hộ bởi cha mình ; Marie Curie được giúp đỡ bởi chồng mình. Tầm quan trọng của sự ủng hộ nam giới này đo được suốt trong sự tiến triển trí tuệ và nghề nghiệp của nguoi phụ nữ. Một khi học tập hoàn thành, Marie Curie phải được nhận vào trong một phòng thí nghiệm được điều khiển độc nhất bởi những người đàn ông. Để cho nhà nữ khoa học chiếm được một chỗ xứng đáng ở đó, hệ thống gia trưởng phải được xét lại. Đó là vài trò của Pierre Curie khi ông mở cửa phòng thí nghiệm cho bà và bảo vệ sự chỉ định bà ứng viên của giải Nobel, nhưng cũng là vài trò của tất cả những người bạn khoa học của cặp vợ chồng ; sau đó cũng những người bạn này thúc Marie, trở nên góa phụ, chấp nhận chức giáo sư bị khuyết ở Sorbonne do sự qua đời của Pierre. Lại chính một cộng đồng chỉ toàn nam giới giới thiệu bà và bầu bà hội viên phụ nữ đầu tiên của Viện hàn lâm y học năm 1922.Sau cùng, chúng ta đừng quên khung cảnh kinh tế của thời kỳ đó. Marie Curie đã đi vào nghiên cứu khoa học vào một thời kỳ của lịch sử, trong đó xã hội Pháp thiếu can bo lành nghe cho công nghệ mũi nhọn và ngành giao duc của nó. Neu Marie Curie đã hưởng được sự mo cua cua cac dai hoc Phap cho các phụ nữ, đo cũng là một may mắn cho nước Pháp đã tiếp nhận tất cả những phu nữ tre này. Chúng ta hãy tưởng tượng rằng vào năm 1887, trên 114 sinh viên y khoa ở Paris, 90 là Nga hay Ba Lan đối với chỉ 12 phụ nữ Pháp. Sự hiện diện mạnh của những phụ nữ ngoại quốc này đã gia tốc một sự tiến triển văn hóa liên kết với sự chấp nhận những phụ nữ, nếu không có điều đó, sự tiến triển này có thể dài hơn và khó nhọc hơn nhiều. Một khung cảnh kinh tế thuận lợi thường là cái bảo đảm cho sự chấp nhận những thiểu số “phụ nữ” hay dân nhập cư”, và Marie Curie, vừa là phụ nữ vừa là dân nhập cư Ba lan, đúng là biểu tượng.
Marie Curie, trước hết đó là một cuộc phiêu lưu khoa học vĩ đại. Để tham dự vào đó, trước hết phải say mê nghiên cứu, thích công việc của mình và có thể hoàn thành nó, chính bà đã từng nói điều đó, với sự tự do trí tuệ càng nhiều càng tốt, không bị gò bó về mặt hiệu năng. Thế mà, nếu Marie Curie đã hưởng được một khung cảnh kinh tế thuận lợi cho sự hội nhập của các dân tộc thiểu số, đừng quên rằng cuộc khủng hoảng của những năm 1930 được biểu hiện 40 năm sau bởi những đạo luật Laval hạn chế việc làm của phụ nữ… Nếu hôm nay ở Pháp vào đại học là dễ dàng hơn, chúng ta đừng quên rằng những cơ may đạt đến cuối trung học là không đồng đều theo nguồn gốc xã hội. Điều đó cũng đúng với cao học khoa học. Chúng cần nhiều giờ lên lớp, điều này không cho phép sinh viên tự mình chi cấp những nhu cầu của mình và thường làm cho sự hỗ trợ tài chánh của cha mẹ là cần thiết.
Về sự bình đẳng giữa các giới tính, điều đó không hẳn được áp dụng khắp nơi trên thế giới.
(LE FIGARO 27/11/2017)

9/ BỆNH LYME : COI CHỪNG TIQUE !
Vào mùa xuân và cho đến mùa thu, chúng trở lại ở các rừng, vườn, cỏ cao và các bụi cây, sẵn sàng truyền bệnh Lyme do vi khuẩn Borrelia burgdorferi. Vài ngày sau khi bị chích bởi tique, một vết đỏ của da xuất hiện, dưới dạng halo, di chuyển sau đó về những vùng khác của da. Vào giai đoạn này, một điều trị kháng sinh cho phép chữa lành. Sau đó, nhiễm trùng trở nên mãn tính và có thể gây những thương tổn thần kinh, khớp và cơ. Lời khuyên : tránh bước trong cỏ cao và những con đường đầy bụi cây, mang giày đóng, quần áo phủ, sử dụng répulsif, kiểm tra da của mình sau khi đi dạo trong rừng, rút tique ra bằng tire-tique rồi khử trùng. Trong trường hợp nghi ngờ hay rougeur migrante, hãy đi khám thầy thuốc
(PARIS MATCH 14/6-10/6/2018)

10/ VITAMINE D VÀ UNG THƯ ĐẠI-TRỰC TRÀNG
Một công trình nghiên cứu quốc tế đã so sánh 5706 bệnh nhân mang một ung thư đại trực tràng với 7107 người chứng và xác nhận rằng vitamine D (25-hydroxycholécalciferol), mà nồng độ bình thường nằm giữa 50 và 62,5 nanomoles (nmol) mỗi litre, bảo vệ chống lại ung thư này. Dưới 30 nmol (1/3 những người Pháp), nguy cơ được gia tăng 31%.
(PARIS MATCH 17/7-18/7/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(30/8/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s