Thời sự y học số 476 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ ASPERGILLOSES : THƯỜNG GẶP HƠN NHƯNG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TỐT
8563 trường hợp aspergillose invasive đã được thống kê ở Pháp giữa 2001 và 2010Những nhiễm trùng gây nên bởi những loại nấm nhỏ này có thể gây chết người.
MICRO-ORGANISMES. ” Chúng ta sống từ lâu trong một thế giới được ở chủ yếu bởi các vi sinh vật (microorganisme). Chúng ta thở chúng, chúng ta ăn chúng, vài vi sinh vật giúp chúng ta và chúng ta đã học chống lại những vi sinh vật có thể gây hại cho chúng ta “, GS Stéphane Bretagne, trưởng laboratoire de parasitologie-mycologie của bệnh viện Saint-Louis, Paris, đã nhắc lại như vậy. Như thế các nấm vi thể (champignons microorganismes) có thể gây nên những rối loạn và những nhiễm trùng, đặc biệt những aspergilloses, từ vài năm nay gia tăng và đặt ra những vấn đề mới cho cộng đồng khoa học.
Nếu những nhiễm trùng gây nên bởi các vi khuẩn là thường gặp nhất và được biết tốt nhất, sự gia tăng những người suy giảm miễn dịch, sau một căn bệnh, sau một điều trị hay do cao tuổi, đã tạo một cơ hội chưa từng có đối với những nấm vi thể. Như thế, từ nay các thuốc chống nấm (antifongique) là một món chi tiêu quan trọng hơn các kháng sinh và các chiến lược chống nấm (stratégies antimycosiques) trong những năm đến phải nằm ở trung tâm của nhiều chiến lược y tế công cộng.
Từ những năm 1990, HIV đã gây nên một sự gia tăng đột ngột số lượng những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và như thế các bệnh nấm cơ hội (mycoses opportunistes), từ nay được kiểm soát nhờ sự xuất hiện của những antirétroviraux. Từ đó, những loại nấm khác “lợi dụng” sự suy yếu miễn dịch của vài bệnh nhân để xâm nhập với những hậu quả đôi khi rất nặng, như những aspergillose, chủ yếu do Aspergillus fumigatus.
Khi những bào tử (spore) của nấm này đi vào trong các lỗ mũi, chúng có thể được vận chuyển đến tận hai lá phổi và gây ở đó, ở những bệnh nhân nhạy cảm, một phản ứng dị ứng và/hay hen phế quản. Khi đó, đó không phải là một nhiễm trùng do Aspergillus và điều trị không cần sử dụng một thuốc chống nấm, ngoại trừ trong vài trường hợp, nếu bệnh ở một giai đoạn rất khởi đầu và nếu sự loại bỏ nấm cho phép tránh không để nó cố định. Nếu đó là một aspergillose broncho-pulmonaire allergique, điều trị tốt nhất là giảm sự tiếp xúc bằng cách phân tích những điều kiện sống của bệnh nhân để tìm thấy ở đó những nguồn khả dĩ của nấm.
Nếu các bào tử không được loại bỏ một cách nhanh chóng tiếp theo sau một suy giảm miễn dịch (điều trị suy giảm miễn dịch, HIV, bệnh huyết học ác tính) hay cơ học (xoang phổi tồn dư sau một lao phổi, mucoviscidose), chúng có thể dẫn đến một sự tăng sinh ít hay nhiều nghiêm trọng của nấm. ” Trên một phổi suy yếu, thường do lao phổi, một aspergillome có thể được tạo thành, GS Francis Couturaud, trưởng khoa phổi học của CHRU de Brest đã giải thích như vậy. Điều trị duy nhất là lấy đi bằng ngoại khoa những nấm kết tụ này.
Ở loại bệnh nhân này, Aspergillus có thể gây một nhiễm trùng mãn tính bán xâm nhập (infection chronique semi-invasive) tiến triển âm thầm, với một sự thoái hóa chậm của tình trạng tổng quát của bệnh nhân thường làm nghĩ đến một ung thư. Scanner khi đó cho phép phát hiện sự hiện diện của nấm có thể bị loại bỏ bởi một thuốc chống nấm. ” Nếu nấm được nhận diện trong đờm những bệnh nhân không có những dấu hiệu nhiễm trùng trong máu và không có dấu hiệu phổi, điều trị không cấp cứu “, GS Couturaud đã nhắc lại như vậy. Lavage bronchopulmonaire và sự phục hồi chức năng hô hấp (rééducation respiratoire) thường nhất mang lại lợi ích cần thiết cho con người. Tất cả những lo sợ được tập trung vào một aspergillose phát ra ở một bệnh nhân suy giảm miễn dịch, ở đây nó có thể xâm nhập rất nhanh và gây chết người trong hơn một trường hợp trên ba đối với những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính (neutropénie). ” Trong những khoa huyết học, trong đó nhiều bệnh nhân nhận những điều trị suy giảm miễn dịch, các équipe đặc biệt cảnh giác trước nguy cơ này “, GS Bretagne đã nhấn mạnh như vậy. Chiến lược khi đó là theo dõi vài yếu tố phát hiện sự hiện diện của nấm và/hoặc áp dụng một điều trị chống nấm phòng ngừa trong suốt thời gian suy giảm miễn dịch.
Mọi sự nghi ngờ aspergillose invasive ở những bệnh nhân nguy cơ (sốt riêng rẻ đôi khi được kèm theo đau ngực và ho nhẹ) cần phải thực hiện một scanner, thường cho thấy những dấu hiệu rõ ràng của nhiễm trùng. Khi đó điều trị bằng đường tĩnh mạch được thực hiện cấp cứu, ngay trước khi xác nhận bằng cach tìm kiếm những kháng nguyên trong máu.
Nếu số aspergillose invasive đã gia tăng 4,4% giữa 2001 và 2010, tỷ lệ tử vong tiếp tục giảm nhờ những can thiệp càng ngày càng nhanh này cũng như nhờ những họ thuốc chống nấm mới.
(LE FIGARO 25/9/2018)

2/ NHỮNG VI TRÙNG DƯỚI SỰ GIẢM SÁT CAO ĐỘ
Nước Pháp được xem như là thí dụ trong lãnh vực các bệnh nấm nhờ sự thành lập, năm 2004, Trung tâm quốc gia quy chiếu về các bệnh nấm xâm nhập (mycoses invasives) và các thuốc chống nấm. Vai trò của trung tâm này là đề nghị và tạo nên một giám định vi trùng học cũng như một sự theo dõi quốc gia về những trường hợp bệnh nấm xâm nhập và sự điều trị chúng bằng những thuốc chống nấm. Sứ mệnh này được đảm bảo bởi Viện Pasteur và Y tế công cộng Pháp với những dữ kiện thu thập được trong những laboratoire référent của 26 CHU trên toàn lãnh thổ.
Báo cáo theo dõi mới nhất, được xác lập năm 2013, đã cho thấy sự thụt lùi của các bệnh nấm liên quan đến HIV và tầm quan trọng gia tăng của các aspergillose invasive. Mạng theo dõi cũng cho phép nhận diện những đề kháng với các thuốc chống nấm, ít gặp ở Pháp (1 đến 2% cac souche d’Aspergillus fumigatus đề kháng với azolés) nhưng có nguy cơ gia tăng trong những năm đến.
” Aspergillus có được những đề kháng này chủ yếu do tiếp xúc với các thuốc chống nấm trong môi trường và do sử dụng chúng mãn tính ở vài bệnh nhân “, GS Olivier Lortholary, phụ trách centre Necker-Pasteur de médecine tropicale et maladies infectieuses ở Hopital Necker-Enfants malades, cũng là phó giám đốc của Centre national de référence des mycoses invasives et antifongiques ở Viện Pasteur, đã nhấn mạnh như vậy.
NHỮNG GIỐNG ĐỀ KHÁNG.
Sự sử dụng các thuốc chống nấm azolé trong nông nghiệp thâm canh (agriculture intensive) đã làm xuất hiện những giống đề kháng ở những bệnh nhân đã chưa từng bao giờ được điều trị chống nấm. Ở Hỏa Lan, những đề kháng này đạt đến 20% các trường hợp trong vài trung tâm bệnh viện và chiến lược điều trị đã được biến đổi để nhận diện một cách hệ thống các giống đề kháng trước khi bắt đầu một điều trị hay trước khi sử dụng amphotéricine B en première intention. Ở Pháp, con số này đã không bao giờ vượt quá 2% và không đặt lại vấn đề sử dụng voriconazole en première intention, cũng như sử dụng nó để dự phòng ở vài bệnh nhân suy giảm miễn dịch hay những bệnh nhân bị aspergillose mãn tính.
Centre national de référence, liên kết với các laboratoire de recherche, cũng tiến hành một công trình nghiên cứu quan trọng để nhận diện những giống nấm thiết yếu để tối ưu hóa sự sử dụng những thuốc chống nấm khi những đề kháng đặt lại vấn đề những thuốc điều trị hiện có, như điều đó đã là cần thiết đối với các kháng sinh.
” Chúng tôi đã nhận diện những espèce hiếm hơn và đã chia cắt những groupe d’espèce để cho phép phân lập nhưng loại đề kháng với một thuốc chống nấm để điều trị một cách có ý thức “, GS Lortholary đã xác nhận như vậy. Sự nhận diện chính xác này, đối với mỗi trường hợp aspergillose, cũng cho phép đánh giá lợi ích lâm sàng thật sự của những công cụ chẩn đoán mới.
(LE FIGARO 25/9/2018)

3/ NẤM HIỆN DIỆN VỚI NHỮNG LƯỢNG LỚN TRONG VÀI LOẠI MÔI TRƯỜNG
” Aspergillus Fumigatus là một nấm có thớ sợi (champignon filamenteux), một loại mốc có những đặc điểm lý tưởng để xâm thực cơ thể con người. Nó cũng có thể gây nhiễm các con chim, gây nên một aspergillose aviaire. Trái với phần lớn những nấm mà công việc không thể thay thế (hủy hoại những vật liệu đề kháng nhất của thực vật đang phân hủy) được thực hiện ở nhiệt độ môi trường, nấm này có khả năng đề kháng những nhiệt độ 37 độ C của cơ thể người.
Ngoài ra nó có những bào tử đặc biệt nhờ được vận chuyển bởi hơi thổi không khí nhẹ nhất và có thể thoát sự quét không ngừng của các tiêm mao phủ đường hô hấp của chúng ta để đến ở trong những xoang nhỏ xíu, ở đây một hệ miễn dịch hơi suy yếu không thể phát hiện chúng hay đuổi chúng đi.
TRÁNH LÀM VƯỜN
Aspergillus fumigatus sản xuất nhiều chất biến dưỡng, những nguồn độc tính, như clavine hay gliotoxine. Tuyệt đối có mặt khắp nơi, không thể tránh sự hiện diện của chúng nhưng nấm hiện diện với lượng lớn hon trong vài loại môi trường mà những người nhạy cảm, dị ứng hay dễ bị thương tổn có thể tránh được.
Như vậy được khuyến nghị nên tránh những hoạt động làm vườn với phân ủ (compost) và mùn (humus). Đối với các nông dân, thường chạm trán với Aspergillus trong cỏ khô hay các silo, mang một mặt nạ lọc cho phép giảm các nguy cơ. Những nhà ở không lành mạnh hay những bề mặt tù hãm được chia sẻ bởi nhiều người cũng là những môi trường thuận lợi cho sự phát triển và sự tồn tại của các bào tử Aspergillus.
Giữa 2001 và 2010, 8563 trường hợp aspergillose invasive đã được thống kê ở Pháp. Chúng xảy ra ở đàn ông trong 63,9% trường hợp, trung bình 58 tuổi, nhất là sau 2004. Aspergillus xâm thực phổi trong 95% những trường hợp, tỷ lệ còn lại liên quan các xoang (sinus) và da. Điều này liên hệ chủ yếu những bệnh nhân trong khoa phổi (20%) và huyết học (80%) : aspergillose xâm nhập xảy ra ở 5 đến 10% những bệnh nhân đã chịu một allogreffe de moelle.
(LE FIGARO 25/9/2018)

4/ ASPERGILLOSE : NHỮNG TIẾN BỘ TRONG ĐIỀU TRỊ
Hiện nay các aspergillose có một bộc phát dịch tễ học, theo sau những tiến bộ điều trị mới đây. Có mặt khắp nơi nhưng gây bệnh cơ hội (pathogène opportuniste), Aspergillus fumigatus chỉ xâm thực những người có hệ miễn địch bị suy yếu. Hoặc do một bệnh lý như HIV, hoặc do những điều trị suy giảm miễn dịch càng ngày càng nhiều trong arsenal thérapeutique của y khoa hiện đại. Như thế, corticothérapie là yếu tố nguy cơ đầu tiên của aspergillose. Nhiều chất suy giảm miễn dịch khác được sử dụng chống lại những bệnh tự miễn dịch, vài ung thư, nhưng cũng được dùng để làm dễ những ghép cơ quan và tủy xương. Các aspergillose không do nhiễm trùng cũng đang gia tăng, lợi dụng một môi trường trong đó các dị ứng và hen phế quản gia tăng hằng định do tiếp xúc với những chất gây ô nhiễm, những thuốc trừ sâu, cũng như do một sự ám ảnh vệ sinh (obsession hygiéniste) được làm dễ bởi những nhà chế tạo những produit détergent.
(LE FIGARO 25/9/2017)

5/ HIỆN TƯỢNG RAYNAUD : CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ
BS Pascal Priollet, trưởng service de médecine vasculiare, Groupe hospitalier Paris Saint-Joseph, giải thích làm sao nhận biết và điều trị hội chứng Raynaud. Hội chứng này thường gặp và nói chung được phát khởi bởi lạnh.
Hỏi : Hiện tượng Raynaud là gì ?
BS Pascal Priollet. Đó là một co thắt của những động mạch nhỏ, ở đầu của các chi, nhất là ở ngón tay, được gây nên bởi lạnh hay một nhiệt độ môi truong thấp (nơi có điều hòa khí hậu, những giận hàng thực phẩm đông lạnh…), đôi khi bởi một stress hay một xúc cảm. Các bàn tay là nơi thường xảy ra, các ngón chân ít thường hơn, mũi hay tai hiếm khi. Sự hóa trắng đột ngột của những vùng thương tổn là đặc trưng và đủ để chẩn đoán. Sau sự xanh tái của các ngón tay, trở nên lạnh, không nhạy cảm, trong vài phút hay vài giờ, một màu xanh xuất hiện, tiếp theo bởi một màu đỏ phục hồi (máu trở lại). Hôm nay, nhờ những photo mà bệnh nhân chụp với portable của mình, chẩn đoán dễ dàng hơn.
Hỏi : Tần số bệnh ở Pháp ?
BS Pascal Priollet. Ta ước tính rằng 10% dân chúng bị một hiện tượng Raynaud ở những mức độ khác nhau. Chỉ những người thật sự bị phiền nhiễu mới đi khám, đàn bà nhiều hơn đàn ông. Có hai dạng của hiện tượng Raynaud : nguyên phát, không biết nguyên nhân, hiền tính, được gọi là maladie de Raynaud, và dạng thứ phát liên kết với một nguyên nhân có thể nhận diện.
Hỏi : Bệnh Raynaud được đặc trưng bởi gì ?
BS Pascal Priollet. Bệnh Raynaud là thường gặp nhất của tất cả những hiện tượng Raynaud (90% các trường hợp), và thường bắt đầu ngay thời kỳ thiếu niên : bệnh xảy ra hai bên, đối xứng, ở hai bàn tay nhưng trừ ngón cái (trừ ngoại lệ) hay ở hai bàn chân. Bệnh Raynaud xảy ra ở 9 trường hợp trên 10. Những phụ nữ này khá mảnh khảnh, thường bị một điều phiền khác do co thắt mạch máu, như migraine hay một rối loạn vận mạch (trouble vasomoteur) như acrocyanose (sự đỏ hiền tính và thường trực của các bàn tay) hay sự nứt da vì lạnh (engelure) (brulure do lạnh các ngón tay với/hoặc các ngón chân). Các cơn có thể thường xảy ra (mỗi ngày) khi tiếp xúc với lạnh, nhưng biến mất với những ngày đẹp, không để lại một biến chứng nào. Ngoài các cơn, khám lâm sàng hoàn toàn bình thường.
Hỏi : Còn những dạng được gọi là thứ phát ?
BS Pascal Priollet. Hiếm hơn nhiều, chúng có thể liên kết với một loại thuốc, thường một beta-bloquant dùng bằng đường miệng để điều trị một cao huyết áp hay một bệnh động mạch vành, hay thuốc nhỏ mắt để điều trị một glaucome. Trong vài trường hợp, nhieu bệnh có thể gây hiện tượng Raynaud : những bệnh tự miễn dịch, trội ở phụ nữ, như sclérodermie (sự dày lên của da, da mảnh dẻ, đôi khi với những vết loét của các đầu ngón tay), trong đó hiện tượng Raynaud thường xuất hiện và còn trong những bệnh khác (lupus, polyarthrite rhumatoide…). Trong những trường hợp khác, những nguyên nhân có thể do nghề nghiệp, được làm dễ bởi thuốc lá, nhiều hơn ở nam giới (người đốn củi, thợ lát, thợ làm thùng xe, người sử dụng marteau piqueur) và trong đó écho-doppler sẽ phát hiện một sự hẹp của các động mạch của cổ tay và của bàn tay.
Hỏi : Những thăm dò có hữu ích để xác nhận chẩn đoán ?
BS Pascal Priollet. Không, bởi vì chẩn đoán này là lâm sàng. Nó loại bỏ những triệu chứng không do mạch máu mà do đè áp thần kinh của một canal carpien (cảm giác kiến bò, gia tăng vào ban đêm, không biến đổi màu da cũng như không có liên hệ với lạnh). Những thăm khám phụ chỉ hữu ích trong sự tìm kiếm một nguyên nhân : xét nghiệm máu nhằm tìm kiếm những bất thường miễn dịch học và capillaroscopie (quan sát bằng kính hiển vi các mao mạch của da ở nền móng, làm cho trong suốt nhờ nhỏ một giọt dầu). Những thăm dò này luôn luôn bình thường trong bệnh Raynaud, nhưng không trong những trường hợp khác.
Hỏi : Sự phòng ngừa và điều trị của hội chứng Raynaud ?
BS Pascal Priollet. Sự phòng ngừa gồm bảo vệ chống lại lạnh và ẩm (gant, bao tay, chaufferette), ngừng thuốc lá, hủy bỏ régime vào mùa đông (bởi vì sự mất cân làm nặng hiện tượng Raynaud). Khi các cơn xảy ra thường xuyên và gây trở ngại, những thuốc nhằm phong bế sự xuất hiện của co thắt động mạch được kê đơn (inhibiteur calcique với liều thấp).
Hỏi : Hiện tượng Raynaud tiến triển trong thời gian như thế nào ?
BS Pascal Priollet. Trong thể thứ phát, sự tiến triển tùy thuộc vào bệnh nguyên. Trong thể nguyên phat, hiện tượng Raynaud giảm bớt với tuổi và ngay cả có thể biến mất.
(PARIS MATCH 5/4-11/4/2018)

6/ THỂ THAO GIA TĂNG NHỮNG CHỨC NĂNG NHẬN THỨC
Hoạt động cơ sinh ra những protéine làm tăng gấp mười các năng lực của não bộ.
Để học tốt hơn, hãy chơi Baskets ! Vào năm 2003, University College de Londres (Vương Quốc Anh) đã chứng minh rằng ta càng tập thể dục ở tuổi 36, trí nhớ của chúng ta sau 40 tuổi càng tốt hơn. Hiệu quả còn có thể tức thời hơn. Một phân tích méta của đại học Colombie-Britanique (Canada) đã duyệt xét 39 bài báo được công bố cho đến năm 2016 và nói về những tác dụng lên sức khỏe não sau 50 năm thể dục tất cả các loại (style, cường độ, thời gian…). ” Những kết quả gợi ý rằng một chương trình phối hợp những hoạt động hiếu khí (activités d’endurance) và những activité de résistance có lợi cho chức năng nhận thức (fonction cognitive), với điều kiện hoạt động này ít nhất có cường độ vừa phải và được thực hiện trong những buổi kéo dài ít nhất 45 phút, nếu có thể hàng ngày “, các tác giả đã kết luận như vậy. Thể thao cũng có một anh hưởng lên những hiệu năng học tập như một công trình nghiên cứu của đại học Dundee (Ecosse) đã chứng minh điều đó : một hoạt động vật lý vừa phải có một hiệu quả dương tính lên những hiệu năng về anh ngữ, toán học và khoa học ở 4755 thiếu niên 11,13 và 16 tuổi.
Martine Duclos, trưởng khoa médecine du sport của CHU de Clermont-Ferrand, gợi lên một tác dụng trực tiếp của cơ lên các neurone, ít nhất ở chuột. ” Hoạt động cơ gây nên sự sản xuất protéine (myokine). Những protéine này thúc não bộ gia tăng những yếu tố tăng trưởng, đặc biệt hơn BDNF (brain-derived neurotrophic factors) “. Thế mà BDNF, can thiệp vào sự tạo thành những circuit neuronal, là một chất điều hòa của plasticité synaptique : nó tạo điều kiện cho sự tạo thành các vi huyết quản và sự sản xuất những neurone mới. Vẫn còn phải chứng minh điều đó ở người. Trong lúc chờ đợi, ở đại học Illinois (Hoa Kỳ), équipe d’Aron Barbey đánh giá rằng ta còn có thể làm tốt hơn. Một công trình, được công bố năm 2018, tiết lộ rằng chương trình hiệu quả nhất để gia tăng các điểm số (score) khi thực hiện những test cognitif (chức năng chấp hành, trí nhớ công tác và sự kế hoạch hóa) là “multimodal”. Chương trình này gồm một entrainement cognitif sur ordinateur, những buổi tập thể thao nhưng cũng một kích thích qua sọ (stimulation transcranienne). ” Một approche globale phối hợp engagement intellectuel và social, kích thích não không xâm nhập (stimulation cérébrale non invasive), hoạt động vật lý và cách ăn uống là lý tưởng “, Aron Barbey đã đảm bảo như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 6/2018)

7/ TẠI SAO SỰ QUAN TÂM ĐỘT NGỘT ĐẾN BỆNH LYME NÀY ?

Professeur Marc Gentilini
Président honoraire de l’Académie nationale
de médecine
Professeur François Bricaire
Membre de l’Académie nationale de médecine

Bệnh Lyme không phải là “huyền bí” chẳng phải “bùng nổ”, thế mà bổn phận của chúng ta là phải chống lại, nhân danh chân lý khoa học và nhất là vì lợi ích của bệnh nhân, “Lymemania” (cuồng Lyme) đã chiếm lấy một phần những đồng hương của chúng ta, những nạn nhân của một chiến dịch bóp méo thông tin kỳ lạ phát xuất từ Hoa Kỳ.Chỉ còn mới đây thôi, công chúng đã không bao giờ nghe nói đến bệnh Lyme ; ngay cả đối với các thầy thuốc, đó là một điều lạ lùng, trừ phi nằm trong số những bệnh nhân của họ, những người quen đi dạo trong rừng. Ngược lại đối với các thầy thuốc chuyên bệnh nhiễm trùng, đó là một bệnh nhiễm trùng như những bệnh nhiễm trùng khác, mà ta biết nguyên nhân, một vi khuẩn (Borrelia), sự truyền bệnh do tique cắn (với điều kiện côn trùng này bị nhiễm trùng), và những dấu hiệu lâm sàng : vài tuần sau khi bị tique cắn, ở nơi này, một ban đỏ xuất hiện, lan rộng và biến mất một cách ngẫu nhiên trong 3 đến 6 tuần. Nó có thể không được nhận biết. Không được điều trị, nhiễm trùng có nguy cơ lan tràn, gây nên những triệu chứng toàn thân ; về sau, nhưng rối loạn khớp và thần kinh… Trong trường hợp nghi ngờ, sự kê đơn các kháng sinh đóng vai trò trắc nghiệm chẩn đoán. Thật vậy, trong các trường hợp, bệnh Lyme không đề kháng một điều trị kháng sinh với điều kiện tôn trọng lúc, sự lựa chọn, liều lượng và thời gian.
Ở Pháp, bệnh Lyme ít được chẩn đoán một cách nghiêm trọng, mặc dầu với 30.000 trường hợp mới mỗi năm ! Những trắc nghiệm huyết thanh (test sérologique) được sử dụng không đáng tin cậy và quá nhiều bệnh nhân được khai báo âm tính, một cách sai lầm. ” Sự bùng nổ ” của căn bệnh (hơn 300% trong vài tiểu bang Hoa Kỳ và thêm một triệu người bị bệnh ở châu Âu trong một năm…) bị phủ nhận trong những thống kê chính thức. Người ta cũng bác bỏ sự hiện hữu của một “dạng mãn tính” của bệnh đến độ không biết, xem thường và đánh giá thấp sự đau khổ của các bệnh nhân. Bị lưỡng lự từ khoa này đến khoa khác, những bệnh nhân này đôi khi rớt vào khoa tâm thần ! Bấy nhiêu lý do để các thầy thuốc không thừa nhận những xác nhận này, đã bị média đưa lên đoạn đầu đài đến độ là đối tượng của những khiếu nại vì không giúp đỡ người đang lâm nguy !
CHARLATANS
Phải chăng ta có thể cần bằng những khuyến nghị được chuẩn nhận bởi cộng đồng khoa học quốc tế với những tuyên bố của một gourou, ngay cả Prix Nobel, trong những cơ hội khác nhau, được minh họa bởi những lập trường nguy hiểm về y tế công cộng ? Phải chăng ta phải để không trừng phạt những média và những mạng xã hội không thể kiểm soát tiếp sức những lời buộc tội ” négationnisme” từ các hiệp hội được gọi là “bảo vệ những người bệnh” chống lại những thầy thuốc thực hành thực hiện nghề nghiệp của mình : săn sóc và thông tin các bệnh nhân từ những dữ kiện thu được của khoa học.
Phải chăng phủ nhận sự đau khổ của các bệnh nhân hơn là làm họ thoát khỏi những bàn tay của các lang băm hướng họ về những phòng thuốc, ở đó người ta xác nhận, bằng những trắc nghiệm giả mạo và tốn kém, thực tế của căn bệnh. Phải chăng từ chối điều trị những bệnh nhân này bằng cách cảnh giác họ chống lại những “Lyme doctors” đôi khi có chân trong đại học này, đảm xác nhận trong một lời nói khó hiểu làm ngạc nhiên : ” người ta công nhận rằng, từ nhiều dữ kiện dịch tễ học và khoa học, bệnh Lyme trong thể mãn tính của nó có liên quan trong một số lớn nhubg bệnh lý viêm, từ miễn dịch và thoái biến (nhiều bệnh lý mật, những bệnh lý tim, xơ cứng rải rác, sclérose latérale amyotrophique, Alzheimer, những bệnh trong lãnh vực tự kỷ, fibromyalgie, hội chứng mệt mãn tính…)
Có đủ những bệnh thật để không phải tạo ra những bệnh nhân tạo. Bởi vì những rối loạn của bệnh nhân là có thật, mặc dầu chúng không thuộc về một bệnh Lyme. Thuyết phục những bệnh nhân rằng họ bị một bệnh Lyme mãn tính giả thuyết là vô trách nhiệm, nguy hiểm và bất lương bởi vì như thế ta ngăn cản sự tìm kiếm một chẩn đoán thật và kê đơn một điều trị thích đáng. Bởi vì nhiều xét nghiệm mà người ta buộc bệnh nhân thực hiện là vô ích và tốn kém và chỉ có thể làm họ lạc đường thêm nữa. Bởi vì những điều trị mà người ta dồn dập cho họ là có hại và bởi vì cac coctail điều trị không hợp lý có nguy cơ làm gia trọng chứng bệnh của họ.
” Dịch bệnh borréliose ” chỉ hiện hữu đối với những kẻ tìm thấy ở đó lợi ích của họ, dầu đó là để được nổi tiếng hay để kiếm tiền khi phân tán trong nước Pháp những clinique dành cho bệnh này, với lời hứa chữa lành với giá hơn 10.000 euro ! Các société savante chỉ có một lợi ích : bảo vệ người bệnh và y tế cộng đồng. Đó là lý do tại sao hôm nay các société này từ chối ký một Protocole national de diagnostic et de soins de la maladie de Lyme (PNDS) được đề nghị bởi chính quyền không thể bị áp lực, chantage hay những quầy nhiễu khác nếu không muốn trở thành đồng lõa cho một dérive médicale và một arnaque sanitaire.
(LE FIGARO 11/6/2018)

8/ NHỊN HÁCH XÌ CÓ NGUY CƠ ĐỐI VỚI SỨC KHỎE.
Để thoát ra một “Atchoum” lớn có lẽ không được lễ phép lắm, nhưng kềm giữ những biểu hiện của hách xì không phải là không nguy hiểm ! Những vấn đề phổi, thủng màng nhĩ, thậm chí vỡ phình mạch…vài nguy cơ đã được biết nhưng các nhà nghiên cứu Anh vừa nghiên cứu một trường hợp ngoạn mục mới, trường hợp của một thanh niên được nhập viện sau khi bịt mũi và miệng khi hách xì. Một scanner đã phát hiện anh ta bị rách phía sau của họng. Động tác này gây nên một sự gia tăng đột ngột của áp lực trong hầu, làm thủng nó ở vùng được gọi là “sinus piriforme”. Theo các nhà nghiên cứu, kềm chế một hách xì là một “thủ thuật nguy hiểm cần phải tránh”.
(SCIENCE & VIE 4/2018)
Đọc thêm : THỜI SỰ Y HỌC số 213 bài số 8 và 9

9/ VIÊM GAN C : HƯỚNG VỀ SỰ TRIỆT TRỪ HOÀN TOÀN CĂN BỆNH Ở PHÁP
Các thầy thuốc chuyên về gan đề nghị mở cửa cho các thầy thuốc đa khoa kê đơn những thuốc chống virus (antiviraux) hiệu quả nhưng rất tốn kém.
HEPATOLOGIE. Loại bỏ viêm gan C từ nay đến 2025. Từ nay đó là một mục tiêu chính thức đối với Pháp, được loan báo bởi thủ tướng và bộ trưởng y tế, ngày 26 tháng ba vừa qua, khi trình bày kế hoạch phòng ngừa.Bởi vì viêm gan C mãn tính, nhiễm trùng thầm lặng chịu trách nhiệm xơ gan và ung thư gan, hôm nay là căn bệnh mãn tính duy nhất do virus có thể được chữa lành.Để đạt được điều đó, kế hoạch đề nghị mở rộng sự kê đơn những thuốc chống virus, vào lúc này chỉ dành cho những thầy thuốc chuyên về gan. Tuy nhiên vẫn còn mù mờ về ai có thể kê đơn, mặc dầu các hépatologue đã tán thành một sự kê đơn mở rộng đến các thầy thuốc đa khoa.
Vào năm 2014, các thuốc chống virus có tác dụng trực tiếp (antiviraux d’action directe), như chúng được gọi như vậy, đã rầm rộ đến trên thị trường Pháp.Có năng lực loại trừ virus của viêm gan C, trong vài tuần, nhưng với một cái giá quá mức, chúng đã gây nên cuộc luận chiến. Chính phủ Pháp trước hết dành chúng cho những trường hợp nặng nhất. Rồi, hai năm sau, Bộ y tế chủ trương một tiếp cận ” universel” đối với những điều trị này nhờ một sự hạ giá, được làm dễ bởi sự cạnh tranh giữa các loại thuốc.
Từ vài tuần nay, một giai đoạn mới đã được vượt qua vì lẽ hai traitement pangénotypique, hiệu quả chống lại tất cả génotype của virus của viêm gan C, có mặt trong các hiệu thuốc thành phố, như thế tạo điều kiện cho các bệnh nhân tiếp cận những thuốc này. Giá của chúng, 28.000 euros cho 8 hay 12 tuần điều trị, vẫn còn cao, nhưng, theo các nhà quan sát, không còn là một trở ngại. Cái chốt cuối cùng cần phải cho mở ra là người kê đơn (prescripteur). ” Những điều trị hôm nay có thể tiếp cận cho tất cả mọi người. Nhưng đối với vài người, đó vẫn còn là một đoạn đường chiến binh”, giáo sư Christophe Bureau, tổng thư ký của hiệp hội bệnh gan của Phap, đã nhấn mạnh như thế trong cuộc họp báo nhằm trinh bày những khuyến nghị của société savante để loại bỏ nhiễm trùng bởi virus của viêm gan C. “Tất cả bệnh nhân phải được điều trị tốt như thế khắp nơi ở Pháp”, giáo sư Victor de Lédinhen đã phát biểu như vậy.TĂNG CƯỜNG ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN
Đối với các chuyên gia, đó là để cho các thầy thuốc đa khoa theo dõi những người bệnh “dễ ” nhất, nghĩa là những người bệnh không bao giờ được điều trị vì viêm gan C, không bị nhiễm cùng lúc bởi VIH hay virus de l’hépatite B hay không bị xơ gan.
Một đề nghị được tiếp nhận một cách thận trọng bởi những hiệp hội của các bệnh nhân. ” Chúng tôi tán thành gia tăng những người kê đơn nhưng không thiệt cho chất lượng của điều trị. Thế mà chúng tôi không hoàn toàn yên tâm về những phương tiện được thiết đặt để đào tạo những thầy thuốc đa khoa “, bác sĩ Pascal Melin, chủ tịch của SOS hépatite đã xác nhận như vậy. Ông lo lắng nhất là về sự điều tra phát hiện và theo dõi kém những bệnh nhân bị xơ gan. Một cách bất ngờ hơn, các thầy thuốc đa khóa cũng rất thận trọng. ” Đề nghị là hấp dẫn bởi vì nó nhấn mạnh vai trò của thầy thuốc đa khoa. Nhưng mặc dầu traitement pangénotypique là khá dễ, tuy nhiên cần phải biết đánh giá đúng sự xơ hóa của gan và theo dõi bệnh nhận một cách đều đặn. Thế mà, ở một thầy thuốc gia đình, trên 1000 bệnh nhân chỉ một hay hai bị nhiễm bởi virus. Thế mà chúng tôi chỉ làm tốt điều mà chúng tôi thường làm “, giáo sư Henri Partouche, thành viên của hội đồng khoa học của Collège national des généralistes enseignants, đã đánh giá như vậy.
Mặc dầu việc kê đơn bởi thầy thuốc đa khoa không được nhất trí, nhưng các thầy thuốc chuyên khoa, đa khoa và bệnh nhân đều đồng ý về sự cần thiết tăng cường công tác điều tra phát hiện. ” 120.000 bệnh nhân cần phải được điều trị và hơn một nửa không được phát hiện”, GS Christophe Bureau đã nói rồi như vậy. Vậy hiệp hội bệnh gan Pháp chủ trương điều tra phát hiện mọi người trưởng thành ít nhất một lần trong cuộc đời. ” Chúng ta cũng phải tìm kiếm một cách phối hợp tất cả những virus mãn tính. Nghĩa là những virus của các viêm gan C và B và HIV”, giáo sư Yazdan, trưởng khoa những bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới của bệnh viện Bichat (Paris) đã xác nhận như vậy.
Đối với association SOS hépatite, đề nghị sự điều tra phát hiện một cách hệ thống ở những người 50 tuổi sẽ cho phép “vớt” những người đã lọt qua những mắt của lưới phát hiện cho đến khi đó. ” Thế thì tại sao không đề nghị điều tra phát hiện hệ thống nhân một cuộc mổ hay vào lúc thai nghén ? “, Pascal Melin đã đề nghị như vậy. Kế hoạch phòng ngừa đã không dự kiến một đề nghị nào trong số những đề nghị điều tra phát hiện này. Tuy nhiên, nó đề nghị dépistage de proximité bằng test rapide d’orientation diagnostique (TROD).
(LE FIGARO 9/4/2018)

10/ JEUX VIDEO CÓ LỢI SAU MỘT TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Các nhà nghiên cứu Anh đã quan sát rằng những thương tổn chịu trách nhiệm vài rối loạn vận động sau một tai biến mạch máu não nằm một cách chính xác trong những vùng liên quan trong sự chú ý. Thế mà sự chú ý là một trong những năng lực được kích thích nhất khi ta chơi jeux vidéo.
(SCIENCE & VIE 4/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/8/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s