Cấp cứu hô hấp số 54 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CƠN HEN PHẾ QUẢN CẤP TÍNH
(ACUTE ASTHMA ATTACK)

TEST 2

Adam J.Rosh, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
Wayne State University School of Medicine
Detroit, MI

Một người đàn bà 24 tuổi được mang đến khoa cấp cứu sau khi được tìm thấy trên một con đường kế cận, khom mình xuống và trong tình trạng suy kiệt hô hấp nhẹ. Lúc đến, bệnh nhân thở nhịp nhanh với tần số 24 hơi thở mỗi phút, với một độ bảo hòa oxy 97% khi cho oxy bằng mặt nạ mặt. Lúc khám vật lý, bệnh nhân có vẻ trong tình trạng suy kiệt hô hấp nhẹ với co rút trên đòn. Tieng thở khò khè rải rác trên khắp hai phế trường.

Những thuốc nào sau đây nên được cho đầu tiên ?
a. Corticostérode
b. Magnesium sulfate
c. Epinephrine
d. Điều trị bằng khí dung anticholinergic
e. Điều trị bằng khí dung beta2-agonist

Câu trả lời đúng là e
Bệnh nhân này đang bị một cơn hen phế quản cấp tính. Đây là một co thắt phế quản có thể đảo ngược, được phát khởi bởi nhiều yếu tố môi trường, gây hẹp và viêm các phế quản. Điều trị ưu tiên để mở đường khí gồm một bêta2-agonist. Thuốc này có tác dụng làm giảm co thắt cơ trơn của phế quản.
Sự sử dụng những thuốc chủ vận beta2 chọn lọc (beta2-mimétique sélectif), thời gian tác dụng ngắn và với liều mạnh bằng đường khí dung là điều trị đầu tiên cần được thực hiện trong hen phế quản thể nặng xét vì tính hiệu quả và tác dụng nhanh (thời hạn tác dụng dưới 5 phút). Dường như sự cho thở khí dung liên tục (administration par inhalation continue) ít nhất cũng hiệu quả như cho bằng thở gián đoạn liên tiếp (bolus répété) và British Thoracic Society khuyến nghị xét cho thở khí dung liên tục khi lưu lượng đỉnh (DEP) dưới 50% hay khi có một đáp ứng kém với lẫn thở khí dung đầu tiên. Không có khác nhau được mô tả giữa salbutamol và terbutaline. Những liều cổ điển được khuyến nghị là 5 mg salbutamol hay từ 5 đến 10 mg terbutaline, thở khí dung với 6 đến 8 L/phút oxy và lập lại 3 lần trong giờ đầu.

(a) Corticosteroids là một biện pháp hiệu quả để làm giảm những phản ứng viêm xảy ra muộn trong hen phế quản.
Các corticoides cho bằng đường tổng quát làm giảm tỷ lệ tử vong, nguy cơ tái phát và tái nhập viện, cũng như sự sử dụng những beta2-mimétique và nhất là khi chúng được cho càng sớm. Vậy có một chỉ định chính thức dùng corticostéroides cho mọi cơn bộc phát của bệnh hen phế quản, dầu mức độ nghiêm trọng như thế nào. Hiệu quả, bằng đường toàn thân, bắt đầu khoảng giờ thứ 4 và tối đa trong 6 đến 8 giờ sau khi dùng thuốc.
Sự cho bằng đường miệng cũng hiệu quả như cho bằng đường tĩnh mạch. Vậy đường tĩnh mạch phải dành cho những bệnh nhân khó cho bằng đường miệng.

(b) Magnesium sulfate cũng được nghĩ có tác dụng một cách tương tự, nhưng nên được cho trong những trường hợp đề kháng của hen phế quản.
Cách tác dụng của sulfate de magnésium là ức chế sự co của các cơ trơn. Đó là một anticalcique. Sulfate de magnesium có thể được cho bằng đường hít hay bằng đường tĩnh mạch nhưng tính hiệu quả của nó, cặp với một sự an toàn sử dụng, chủ yếu được phát hiện khi tiêm tĩnh mạch duy nhất chậm 20 phút và với những liều lượng 1 đến 2g. Chỉ định của nó dành cho hen phế quan cấp tính kèm theo những dấu hiệu báo động hay hen phế quản thể nặng đề kháng với điều trị ban đầu.
Hôm nay không có một khuyến nghị nào về những chỉ định rộng rãi hơn hay một sử dụng với liều lượng quan trọng hơn.

(c) Epinephrine làm giảm co thắt phế quản, nhưng xét vì những tác dụng phụ lâm sàng, nên chỉ được cho ở những bệnh nhân trong tình trạng suy kiệt hô hấp nặng.
Adrénaline là một sympathomimétique non sélectif, từ lâu đã được sử dụng ưu tiên một và bằng đường dưới da trong điều trị hen phế quản thể nặng. Cách tác dụng của nó là co mạch, tác động lên thành phần phù của tắc phế quản. Vào lúc này, không có một chứng cớ chính thức nào về tính ưu việt của adrénaline so với những bêta2-agonist và những tác dụng phụ tim mạch của nó hạn chế lợi ích của sự sử dụng, những tác dụng phụ này vẫn ở mức trung bình đối với một liều thở khí dung dưới 3 mg. Tác dụng của 2 mg adrénaline bằng đường khí dung có thể tương đương với tác dụng của 5mg salbutamol được cho cùng đường nhưng thời gian tác dụng ngắn hơn của adrénaline buộc phải lập lại sát hơn những liều khí dung.
Adrénaline hiện nay không còn có vai trò nữa trong điều trị hen phế quản ngoại trừ cho bằng đường tĩnh mạch liên tục với bơm tiêm diện trong trường hợp trụy mạch.

(d) Anticholinergics có hiệu quả ở những bệnh nhân với bệnh viêm phế quản phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), và cũng được cho phối hợp với một bêta2-agonist ở những bệnh nhân với một cơn bộc phát hen phế quản cấp tính. Tuy nhiên nó không bao giờ được cho một mình để điều trị hen phế quản.
Tác dụng giãn phế quản của anticholinergique ít mạnh hơn và dần lên hơn so với tác dụng của của những beta2-mimétique. Thời hạn tác dụng của bromure d’ipratropium là 15 đến 20 phút và tác dụng kéo dài từ 3 đến 9 giờ. Trái lại, sự thêm bromure d’ipratropium vào beta2-agoniste bằng đường thở khí dung, được khuyến nghị bởi vì ipratropium tăng thêm những tác dụng của beta2-agoniste. Liều lượng là 0,5 mg mỗi lần thở khí dung, được cho trong hen phế quản thể nặng, những cơn bộc phát nặng hay những cơn bộc phát cấp tính không đáp ứng với điều trị ban đầu.

Reference :
– Emergency Medicine. PreTest
– Dyspnée aigue. Actualités en Réanimation préhospitalière. Journée scientifique de Samu de France. 2004

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(17/7/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s