Cấp cứu hô hấp số 51 – BS Nguyễn Văn Thịnh

HEN PHẾ QUẢN
(ASTHMA)

Jeffrey Callard
Saint Joseph Mercy Hospital
Ann Arbor, Michigan

– Hen phế quản làm mắc bệnh khoảng 5% dân số Hoa Kỳ
– Chịu trách nhiệm 2 triệu khám cấp cứu hàng năm ở Hoa Kỳ.

I. SINH BỆNH LÝ
– Tắc nghẽn luồng khí có thể đảo ngược, gây nên bởi co cơ trơn, sung huyết mạch máu, phù thành phế quản, và các chất tiết niêm dịch đặc
– Những yếu tố khởi phát cơn bộc phát hen phế quản gồm có dị ứng, nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus (thường nhất), thể dục, thuốc, GERD, tiếp xúc lạnh, và hít những chất kích thích.

II. LÂM SÀNG
– Bệnh cảnh lâm sàng là những cơn khò khè tái diễn, ho, và khó thở
– Hãy thẩm tra về thời gian của cơn, những thuốc hiện đang dùng, sự nhập việc trước đây, và nội thông khí quản
– Những dấu hiệu sinh tồn có thể biến thiên và không nhất thiết phản ảnh mức độ nghiêm trọng của tắc nghẽn. Những dấu hiệu khám cổ điển như tim nhịp nhanh, thở nhịp nhanh, và khò khè có thể bình thường hóa trong tắc nặng dần.
– Tắc nặng đường khí, được chỉ bởi khả năng chỉ nói vài lời, sự chuyển động không khí kém hay ngực im lặng (silent chest) (hội chứng phổi câm), sử dụng các cơ phụ hô hấp, tần số tim > 120, tần số hô hấp > 30, và những biến đổi trạng thái tâm thần.

III. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

IV. XỬ TRÍ Ở KHOA CẤP CỨU
1. CHẨN ĐOÁN
– Chẩn đoán hen phế quản thường dựa trên bệnh sử và khám vật lý
– Trong hầu hết những cơn bộc phát hen phế quản, thăm dò chẩn đoán ít có giá trị. Những thăm dò hữu ích hơn trong việc loại bỏ những chẩn đoán khác.
– Chụp X quang cho thấy bằng cớ của tăng căng phồng (hyperinflation). Nó không được chỉ định thường quy, nhưng có thể được chỉ định trong trường hợp sốt, những dấu hiệu khám khu trú, sự không đáp ứng với điều trị, hay đợt khò khè đầu tiên.
– Pulse oxymetry cũng được sử dụng như một indicator về mức độ nghiêm trọng của bệnh.
– Đo PEFR trước và sau điều trị có thể cung cấp một đo lường khách quan của tắc luồng khí. Nó là một predictor không đáng tin cậy về sự cần thiết phải nhập viện. PEFR < 100L/phút lúc khởi đầu hay < 30-50% predicted baseline gợi ý bệnh nặng.
– Khí huyết động mạch hữu ích ở những bệnh nhân với suy hô hấp sắp xảy ra (impending respiratory failure), gồm mệt, trạng thái tâm thần bị biến đổi, tình trạng trở nên xấu hơn sau điều trị, hay pulse oxymetry < 90%
– Các xét nghiệm không được chỉ định một cách thường quy
2. ĐIỀU TRỊ
– Mục đích để điều trị hen phế quản là đảo ngược sự tắc luồng khí, giảm viêm, và cung cấp oxygenation thích đáng.
– Những thuốc kích thích beta2 (beta-adrenergic agonists), những anticholinergics, và những corticosteroids là những trụ cột chính của điều trị cấp cứu hen phế quản.
– Những thuốc kích thích beta2 gia tăng cAMP, đưa đến giãn phế quản.
– Những thuốc hít được cho qua máy khí dung (nebulizer)
– Albuterol, dung dịch 0,5%, 2,5 mg trong 2 đến 3 cc NS mỗi 20 phút x 3 là phát đồ điều trị thông thường. Cho khí dung liên tục trong 1 giờ với albuterol đã được sử dụng trong hen phế quản nặng
– Anticholinergics làm tăng thêm giãn phế quản bằng cách giảm cGMP. Tác dụng chủ yếu ở những đường khí lớn. Ipratropium bromide (Atrovent) là thuốc được sử dụng rộng rãi nhất.
– Atrovent, 500 mg trong 2 cc NS mới 20-30 phút x 3 và sau đó mỗi 4-6 giờ
– Corticosteroids làm giảm viêm đường khí. Chúng nên được cho tất cả ngoại trừ những bệnh nhân đáp ứng tức thời với một điều trị khí dung đơn độc. Đường miệng và đường tĩnh mạch đều hiệu quả như nhau, đường tĩnh mạch được chọn khi những lo ngại về đường khí hay sự hấp thụ là một vấn đề.
– Methylprednisolone, 125 mg tĩnh mạch
– Prednisone, 60 mg đường miệng. Những bệnh nhân xuất viện prednisone phải được cho trong 4-5 ngày. Nếu cho dài ngày hơn, thuốc có thể cần phải giảm liều dần (tapering)
– Magnesium sulfate nên được xét đến đối với những người hen phế quản nặng. Có thể có lợi ích nào đó trong ngăn ngừa nội thông khí quản ở những bệnh nhân này, nhưng những công trình nghiên cứu mâu thuẫn nhau.
– Magnesium sulfate, 2 mg TM trong 5 phút.
– Heliox (helium và 02) làm giảm sức cản đường khí và công hô hấp. Nó được sử dụng trong vài trung tâm và có thể có vài lợi ích.
– May mắn thay, nội thông khí quản hiếm khi cần thiết. Quyết định thường dựa trên khám lâm sàng chứ không dựa trên những trắc nghiệm. Vài trong số những chỉ định gồm có kiệt sức, suy sụp mặc dầu điều trị tích cực, hay biến đổi trạng thái tâm thần. Sử dụng một ống nội thông khí quản cỡ lớn, xét cho ketamine, 1-2 mg, để induction do tác dụng giãn phế quản của nó. Nếu được nội thông, cho phép permissive hypercapnia để tránh barotrauma. Tidal volume 8-10 cc/kg, RR 10-12
– Methylxanthines, trước đây là một trụ cột trong điều trị cấp cứu, bây giờ không được khuyến nghị nữa.
– Kháng sinh không được cho một cách thường quy trong hen phế quản.
3. DISPOSITION
– Tùy thuộc vào đáp ứng của bệnh nhân với điều trị, sự cải thiện của wheezing, khó thở, và trao đổi khí. Những yếu tố khác phải xét đến gồm có tiền sử các cơn bộc phát, nhập viện và tình huống xã hội.
– Xét nhập viện nếu bệnh nhân không cải thiện hay trở nên xấu hơn ở phòng cấp cứu, nếu hypoxia hay tim nhịp nhanh sau điều trị, hay đã được điều trị ngoại trú tối đa
– Nếu xuất viện, bệnh nhân được khuyên sử dụng inhaler với spacer device, 2 puffs mỗi 4 giờ, và được cho prednisone, 40 đến 60 mg bằng đường miệng mỗi ngày trong 5 ngày
– Tất cả bệnh nhân hen phế quan cần follow-up trong 2-5 ngày và giáo dục về sử dụng thích hợp inhaler và spacer.

Reference : Emergency Medicine. Quick Glance. 2006

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/7/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu hô hấp, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s