Thời sự y học số 474 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ U XƠ TỬ CUNG : ĐIỀU TRỊ THUYÊN GIẢM CHO ĐẾN TỚI KỲ MÃN KINH
35% các phụ nữ trên 35 tuổi, và gần một nửa phụ nữ 50 tuổi bị u xơ tử cung (fibrome utérin)
Sự cắt bỏ tử cung chỉ còn được thực hiện ở hai bệnh nhân trên mười.GYNECOLOGIE. Nếu sự phát triển của các u xơ tử cung (fibromes) (những u hiền tính) là một hiện tượng thường gặp, 35% các phụ nữ trên 35 tuổi và gần một nửa ở 50 tuổi, chúng chỉ gây những triệu chứng trong dưới 1/3 những trường hợp và biến mất một cách ngẫu nhiên với thời kỳ mãn kinh.” Toàn bộ, khoảng 8 đến 10% những phụ nữ trên 30 tuổi sẽ có những triệu chứng phải điều trị “, GS Lavoué, trưởng khoa phụ sản của CHU de Rennes đã nhấn mạnh như vậy. Cắt bỏ tử cung (hystérectomie), điều trị duy nhất đối với những triệu chứng này, chỉ còn được thực hiện ở hai bệnh nhân trên mười, đặc biệt sau 40 tuổi, nhờ sự phát triển hay cải thiện những phương pháp bảo thủ nhằm chỉ loại bỏ các u xơ nhưng đồng thời gìn giữ tử cung. Những kỹ thuật vi phẫu thuật (technique de microchirurgie) đã tiến triển, bằng nội soi ổ bụng (coelioscopie) hay bằng soi tử cung (hystéroscopie), và vài kỹ thuật không ngoại khoa cũng đã chào đời. Còn những thuốc hiện nay không luôn luôn cho phép loại bỏ các u xơ.
Những u xơ tử cung là những khối u, luôn luôn hiền tính, phát triển từ một tế bào duy nhất của thành trong hay ngoài của tử cung. Những tăng sinh tế bào này có thể gây nên, tùy theo vị trí của chúng, số lượng, kích thước và hình dạng của chúng, những loại triệu chứng khác nhau gây khó chịu ít hay nhiều. ” Vô ích điều trị một u xơ không triệu chứng (fibrome utérin), trừ phi nó có kích thước trên 7 cm, GS Claude Hocke, trưởng khoa ngoại sản và y khoa sinh sản của CHỦ đề Bordeaux đã định rõ như vậy. Trong trường hợp này, nhất là nếu bệnh nhân khá trẻ, u xơ sẽ lớn lên và sự xuất hiện những triệu chứng cấp cứu có thể xảy ra.”
Triệu chứng chính của những phụ nữ liên hệ là sự dồi dào và thời gian của các kinh nguyệt, tiếp theo sát bởi đau bụng. Trong 10% các trường hợp, các phụ nữ cảm thấy một cách trực tiếp một sự khó chịu, một cảm giác nặng liên kết với kích thước của các u xơ hay vị trí của chúng : chúng có thể đè lên những cơ quan khác, gây những rối loạn đường tiểu, bón hay đau lúc giao hợp.” Trong những trường hợp hiếm, chính thiếu máu gây nên bởi mất máu quan trọng khiến phải tìm kiếm các u xơ “, GS Vincent Lavoué, trưởng khoa ngoại sản của CHU de Rennes đã chỉ như vậy.
Đôi khi các u xơ được phát hiện bởi một khám lâm sàng đơn thuần, đặc biệt khi chúng to lớn, nhưng một siêu âm chậu, liên kết với Doppler, sẽ luôn luôn được thực hiện để xác nhận sự hiện diện và loại của chúng.Trong 70% các trường hợp, các u xơ được tạo thành trong lớp cơ của thành tử cung. Các u xơ dưới thanh mạc (fibrome sous-séreux) được tạo thành phía ngoài của tử cung. Hai loại ư xo tử cung này có thể đáp ứng với những điều trị thuốc khác nhau, khi đó sẽ được kê đơn ưu tiên. Nếu thuốc không loại bỏ các u xơ, chúng có thể làm giảm những triệu chứng, đôi khi để chuẩn bị một can thiệp ngoại khoa.
Hiếm hơn, các u xơ dưới niêm mạc (fibrome sous-muqueux) tiến triển về phía trong của xoang tử cung và được điều trị bởi ngoại khoa hay embolisation bởi vì chúng không đáp ứng với thuốc. Khi chúng có kích thước nhỏ, chúng là chỉ định lý tưởng cho một can thiệp bằng nội soi tử cung (hystéroscopie), có thể được thực hiện ngoại trú và dưới gây tê : thầy thuốc ngoại khoa đưa qua âm đạo những dụng cụ của mình để tiếp cận trực tiếp những u xơ mà không cần phải xẻ.
Đối với những loại u xơ khác, myomectomie được thực hiện bằng nội soi khi các u xơ khá nhỏ để có thể được lấy ra hoàn toàn hay phân mảnh, bằng những đường xẻ nhỏ cho phép đưa vào những dụng cụ. Khi các u xơ quá lớn, một laparotomie cổ điển sẽ được thực hiện bởi cùng đường xẻ như đường xẻ nhỏ cho phép đưa vào những dụng cụ. Khi các u xơ quá lớn, một laparotomie classique phải được thực hiện qua cùng đương xẻ cho phép sinh bằng césarienne.
Trở ngại chính của myomectomie là tái phát, đôi khi cần phải mổ lại : khi đó cắt bỏ tử cung (hystérectomie) là can thiệp triệt để duy nhất, trong một động tác duy nhất loại bỏ tất cả những triệu chứng. Cắt bỏ tử cung được đề nghị cho các phụ nữ không muốn có con nữa và thường được thực hiện bằng nội soi (coelioscopie) hay bằng soi tử cung (hystéroscopie).Mặc dầu thủ thuật đã được làm nhẹ bớt, nhưng đôi khi nó khá ảnh hưởng lên bình diện tâm lý khiến các phụ nữ từ chối mổ dầu cho những triệu chứng ảnh hưởng hàng ngày chất lượng sống. Một sự đi kèm tâm lý (accompagnement psychologique) cho phép hiểu và vượt qua một sự lo âu do không nhận biết vai trò của tử cung.
Khi đó embolisation xuất hiện, đối với tất cả những phụ nữ không muốn có con, như là một phương pháp thay thế thỏa mãn : đây là một thủ thuật vi xâm nhập và có một nguy cơ tái phát thu giảm so với myomectomie. Đối với nhiều phụ nữ, nó cho phép giảm bớt những triệu chứng một cách thỏa mãn cho đến tuổi mãn kinh, sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề.
(LE FIGARO 26/3/2018)

2/ EMBOLISATION : MỘT PHẢN XẠ CẦN CÓ TRONG ĐIỀU TRỊ U XƠ TỬ CUNGPhong bế sự tiếp máu đến các u xơ tử cung để làm chúng biến mất. Đó là mục tiêu của technique d’embolisation của các u xơ, dựa trên chính nguyên tắc của sự tạo thành chúng. Một tế bào của co tử cung phân chia và tăng sinh để tạo thành một masse encapsulée, và sự tăng sinh này cần một sự tưới máu quan trọng.
Embolisation nhằm đưa vào trong những động mạch chính của tử cung, những microbille bằng polymère bền, được vận chuyển ưu tiên đến những vùng thich luồng máu, mà chúng cuối cùng làm tắt những huyết quản.” Khi đó những u xơ từ cung bi thao khô như những vật xốp mà ta vắt nước, GS Michel Nonent, trưởng khoa quang tuyến và chụp hình ảnh y khoa của CHU de Brest đã nhấn mạnh như vậy. Cuối cùng chúng biến mất với những triệu chứng mà chúng gây ra. ” Ít xâm nhập hơn nhiều tất cả những kỹ thuật ngoại khoa cắt bỏ các u xơ, embolisation ngoài ra có một nguy cơ tái phát thấp hơn nhiều. ” Những u xơ hiện có được loại bỏ và không thể lớn lên trở lại “, thầy thuốc đã nhắc lại như vậy.” Những u xơ mới có thể xuất hiện, vì can thiệp thường được thực hiện hơn ở những phụ nữ không còn muốn có con nữa, nên thời kỳ mãn kinh đôi khi xảy đến trước khi điều đó xảy ra.
TÍNH HIỆU QUẢ VÀ AN TOÀN
Các microbille được tiêm vào, qua một cathéter được đưa vào trong động mạch đùi bởi một thầy thuốc X quang can thiệp (radiologue interventionnel), theo cùng phương pháp như những kỹ thuật sửa chữa mạch máu (technique de réparation vasculaire). Bệnh nhân nhận một chất cản quang cho phép thầy thuốc X quang theo, với một trường tia X thấp, con đường của cathéter vào trong những huyết quản. Ngoài ra sự không dung nạp đối với chất cản quang là chống chỉ định chính của kỹ thuật này. Embolisation đã chứng minh lợi ích, tính hiệu quả và độ an toàn đối với tất cả những phụ nữ không muốn có thai, mặc dầu embolisation không ngăn cản có thai. Embolisation cần 2 đêm nhập viện và một điều trị tích cực 4 đến 5 ngày triệu chứng đau do sự hoại tử của các u xơ.
Được hiệu chính ở Pháp cuối những năm 1990, embolisation các u xo tử cung đã phát triển một cách nhanh chóng trong tất cả các CHU có những unité de radiologie inetrventionnelle. ” Embolisation có thể được đề nghị cho một cố lớn hơn nhiều các phụ nữ, GS Vincent Lavoué, trưởng khoa phụ sản của CHU de Rennes, đã chỉ như vậy. Đó là một lựa chọn mà tôi luôn luôn trình bày cho các bệnh nhân hội đủ điều kiện, nhưng vài thầy thuốc ngoại khoa không luôn luôn nghĩ đến điều đó. ” Và thiếu những thầy thuốc X quang can thiệp trong nhiều vùng.
Những giải pháp thay thế cho ngoại khoa đã được phát triển, đặc biệt những ultrason focalisé, nhưng chúng cần bất động một máy IRM trong ba giờ can thiệp, và ở Pháp chỉ có một CHU còn thực hiện kỹ thuật này. Chỉ có embolisation dường như đáp ứng đồng thời những nhu cầu của các bệnh nhân và những tiêu chuẩn của hệ y tế của chúng ta.
(LE FIGARO 26/3/2018)

3/ NHỮNG THUỐC DÙNG TẠM THỜI.
Thường một điều trị thuốc cho phép cải thiện những triệu chứng liên kết với sự hiện diện của các u xơ tử cung. Nói chung đó là một giải pháp tạm thời. Không một loại thuốc nào cho phép loại bỏ các u xơ tử cung. Chúng có thể làm chậm lại sự tăng trưởng của các u xơ nhưng phải dự kiến, nhanh ít hay nhiều, một can thiệp trực tiếp. Các u xơ tử cung phụ thuộc kích thích tố (hormono-dépendant) và những điều trị tác động lên những circuits hormonaux liên kết với tử cung. Những thuốc giảm đau khác nhau có thể được sử dụng hay được thêm vào những điều trị kích thích tố này.
Progestérone (đường miệng hay stérilet) là thuốc thường được kê đớn nhất để làm giảm bề dày của niêm mạc và làm bớt xuất huyết. Nó không có tác dụng lên thể tích của các u xơ cũng như lên triệu chứng đau : khi đó những thuốc khác (antiprogestérone, agoniste du GnRH) được sử dụng nhưng chỉ một cách đoạn hồi để tránh những tác dụng phụ của chúng. Trong nhiều trường hợp, chúng được sử dụng để làm giảm thể tích của các u xơ hay để giải quyết thiếu máu gây nên bởi những xuất huyết quan trọng trước khi xét đến một can thiệp ngoại khoa.
Chính trong khung cảnh này mà một loại thuốc có sử dụng từ năm 2007, ulipristal, đã bắt đầu một bước ngoặt trong điều trị các u xơ tử cung trước khi bị ngừng kê đơn trên quy mô châu Âu từ 9 tháng hai năm vừa rồi. Thật vậy 5 phụ nữ dùng loại thuốc này đã là nạn nhân của những tai biến gan nặng, cần ghép gan cấp cứu đối với 4 trong số họ, trong đó một tử vong sau can thiệp.
Đó là những biến cố hiếm : hơn 700.000 phụ nữ đã áp dụng điều trị này từ khi thuốc được đưa ra thị trường. Không một kê đơn mới nào phải được dự kiến và các phụ nữ điều trị với ulipristal phải được thăm dò chức năng gan. Các chuyên gia hy vọng rằng điều tra pharmacovigilance đang được tiến hành, mà những kết quả sẽ được biết vào cuối tháng năm, sẽ không dẫn đến việc rút thuốc này ra khó thị trường. Đặc biệt hiệu quả trên thể tích của các fibrome, nó ngay cả cho phép vài phụ nữ tránh phẫu thuật.
(LE FIGARO 26/3/2018)

4/ THAI NGHÉN VÀ U XƠ TỬ CUNG
Khả năng sinh sản và fibrome là hai vấn đề thường cùng xuất hiện, hoặc vào lúc chẩn đoán, hoặc vào lúc điều trị. Thật vật các fibrome đôi khi được phát hiện nhân một consultation vì chứng vô sinh (infertilité) : định vị của chúng và/hoặc thể tích của chúng ngăn cản implantation lâu bền của một phôi thai trong tử cung. Ngược lại, điều trị các u xơ tử cung có thể có những hậu quả lên khả năng sinh sản. Điều trị kích thích tố có thể có một tác dụng chống thụ thai : phải sử dụng chúng một cách đoạn hồi để cho phép sự thụ thai. Ngoại khoa có thể làm tổn hại thành tử cung : vậy nó sẽ được dành cho vài loại myome, ít nhiều và dễ tiếp cận. Ngay cả embolisation, mặc dầu rất ít xâm nhập, có thể làm giảm khả năng sinh sản bằng cách làm giảm sự cung cấp máu tử cung, đầu cho thai nghén đã xảy ra sau kỹ thuật này. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để thích ứng kỹ thuật với những phụ nữ muốn có một đứa con. Trong tất cả các trường hợp, vậy sự điều trị một u xơ tử cung sẽ luôn luôn được thực hiện đồng thời xét đến loại u xơ, nhưng cũng tuổi tác và ước muốn có thai của bệnh nhân.
(LE FIGARO 26/3/2018)

5/ BỆNH PARKINSON : NHỮNG ĐIỀU TRỊ HIỆN NAY VÀ SẮP ĐẾN.
Sau Ngày thế giới Parkinson, 11/4/2018, GS Philippe Damier, coordinateur của centre expert Parkinson ở CHU de Nantes, kiểm điểm tình hình về bệnh Parkinson và những điều trị của nó.Hỏi : Bệnh Parkinson là gì ?
GS Philippe Damier. Đó là một sự thoái hóa thần kinh (neurodégénérescence) xảy ra ở một số nhỏ neurone (khoảng 500.000 trên 90 tỉ) nằm ở thân não. Những neurone này gởi những nối kết đến striatum trong não, một trung tâm liên quan trong sự kiểm soát vận động. Chúng cũng sản xuất một chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmetteur) thiết yếu cho hoạt động của chúng : dopamine. Phần lớn các triệu chứng là do sự mất dần những neurone này và do sự thiếu hụt dopamine.
Hỏi : Tầm quan trọng của bệnh này ở Pháp là gì ?
GS Philippe Damier. Khoảng 200.000 người vì bệnh Parkinson và 15.000 trường hợp mới mỗi năm. Bệnh Parkinson thường xảy ra giữa 45 và 70 tuổi, 1 trường hợp trên 2 trước 58 tuổi, 1 trường hợp trên 10 trước 45 tuổi.
Hỏi : Ta có biết nguyên nhân, những yếu tố nguy cơ, cơ chế của bệnh không ?
GS Philippe Damier. Ở 10 đến 15% bệnh nhân, nguyên nhân là di truyền (hơn một chục biến dị đã được nhận diện). Những gène tạo thuận cũng hiện diện. Những yếu tố môi trường (thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt cỏ) có lẽ đóng một vai trò ở những bệnh nhân có những tiếp xúc nghề nghiệp (nông dân…). Trong 80% các trường hợp, không một nguyên nhân chính xác nào có thể nhận diện. Ở mức tế bào, ta chứng thực những chất lắng, những chất lắng của một protéine, alphasynucléine, được biến đổi trong dạng mà ta nghĩ gây nên một loạt những rối loạn (năng lượng, oxydations), dẫn đến sự chết của neurone.
Hỏi : Những dấu hiệu thông thường là gì ?
GS Philippe Damier. 1. Akinésie (động tác vụng về) là dấu hiệu thường có nhất (khó viết, khó đánh răng, đi khập khiễng…). 2. Ban đầu run (tremblemnt) chỉ hiện diện ở 1/3 các bệnh nhân ; nó cũng có thể không bao giờ xuất hiện. Nó chỉ xuất hiện khi nghỉ ngơi và biến mất với cử động, điều này phân biệt nó với một bệnh thần kinh thường gặp khác, tremblement essentiel (run không rõ nguyên nhân). 3. Cứng khớp đau (vai, háng..) có thể hiện hữu. 4. Những biểu hiện không vận động thường gặp : đau, mệt, những rối loạn khí chất và giấc ngủ… Chẩn đoán dựa trên lâm sàng. Trong trường hợp nghi ngờ, ta thực hiện một scintigraphie được gọi là DAT Scan, cho thấy bằng hình ảnh sự hiện diện của những cellules à dopamine trong não. Trong bệnh Parkinson, chỉ dấu của chúng thấp.
Hỏi : Điều trị nội khoa hiện nay là gì ?
GS Philippe Damier. Điều trị mang lại bằng đường miệng sự kích thích dopaminergique thiếu, dưới dạng L-dopa, được biến hóa trong não thành dopamine, hay những agoniste de la dopamine, những sản phẩm tổng hợp có tác dụng giong dopamine . Ta kê đơn những agoniste trước 60 tuổi và L-dopa trên 60. Nhưng hai loại thuốc này thường được phối hợp. Những điều trị này là hiệu quả chống các triệu chứng.Với thời gian (trung bình sau 5 năm), sự đáp ứng với những thước uống này không còn hằng định trong ngày ; khi đó giải pháp là sử dụng những pompe externe để phát chúng một cách liên tục, dưới đã hay trong tá tràng, qua một cathéter xuyên qua đã, điều này ổn định sự kiểm soát của các triệu chứng. Khi bệnh Parkinson khuếch tán vượt quá circuit dopaminergique (xuất hiện những rối loạn nhận thức, cân bằng…), nó trở nên khó điều trị,. Một phục hồi chức năng vận động, nhận thức, thể dục đều đặn, sự duy trì một hoạt động xã hội cho phép làm chậm lại giai đoạn này.
Hỏi : Lợi ích của neurostimualtion profonde là gì ?
GS Philippe Damier. NSP nhằm cắm, trong một vùng não nằm dưới striatum, những điện cực nối bằng dây cable với một máy phát dưới da, phát liên tục những xung động diện cho phép tái lập những hậu quả âm tính của sự thiếu hụt dopamine.Nguy cơ mổ (xuất huyết, nhiễm trùng) là thấp trong những centre expert. NSP chỉ dành cho những bệnh nhân có một sự thiếu hụt dopamine thuần túy (5 đến 10% những trường hợp) và vẫn hiệu quả chừng nào bệnh Parkinson không ra khỏi khung cảnh này.
Hỏi : Ta có hy vọng một điều trị mới ?
GS Philippe Damier. Điều trị hứa hẹn tiến triển nhất, chữa lành và không còn chỉ điều trị triệu chứng nữa, là miễn dịch liệu pháp với những kháng thể đơn dòng, mà mục đích là loại bỏ những chất lắng d’alpha-synucléine bất thường và như thế làm ngừng lại sự chết của các neurone à dopamine.
(PARIS MATCH 26/4-2/5/2018)

Đọc thêm : TSYH số 383417

5/ BỆNH LYME : CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ĐƯỢC ĐỊNH RÕSANTE PUBLIQUE. Sau gần hai năm công trình nghiên cứu, sau cùng Bộ Y Tế đã công bố Protocole national de diagnostic et de soins (PNDS) của bệnh Lyme. Protocole này định rõ những phương thức điều trị mới của căn bệnh này, đặc biệt chẩn đoán và điều trị. Nhất là nó dựa vào một tên gọi mới cho các người bệnh : triệu chứng/hội chứng kéo dài đa dạng (symptomatologie/syndrome persistant polymorphe (SPPT). SPPT liên quan đến những người có thể đã bị cắn bởi một tique, nhưng không nhất thiết có érythème migrant (dấu hiệu đầu tiên của bệnh sau khi bị tique cắn, có thể không được nhận biết hay bị quên) và biểu hiện những triệu chứng được xác định rõ (mệt, đau cơ-xương, rối loạn trí nhớ,…). Những bệnh nhân này từ nay có thể nhận một điều trị kháng sinh 28 ngày, mặc dầu các trắc nghiệm (Elisa và Western Blot, có tính hiệu quả bị tranh cãi) là âm tính. Nếu điều trị đầu tiên này thất bại, nó có thể được kéo dài, nhưng điều đó sẽ được thực hiện trong khung cảnh của một protocole de recherche, được thực hiện bởi những trung tâm chuyên khoa vùng, mà sự thành lập được dự kiến trong PNDS.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2018)

6/ STATINES : VAI TRÒ TRONG PHÒNG NGỪA BỊ XÉT LẠIMặc dầu những lợi ích của chúng sau một tai biến tim mạch (prévention secondaire) không còn phải chứng minh nữa, nhưng vai trò của chúng trong phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire) vẫn còn phải xác định.
HYPERTENSION. Trong nhiều năm, statines đã được kê đơn rộng rãi để làm hạ nồng độ cholestérol.Nhưng rồi những tranh luận đã nối tiếp nhau, gieo sự nghi ngờ về tính hiệu quả và vô hại của những loại thuốc này. ” Tôi được điều trị với statine từ 10 năm nay. Nhưng tôi bị đau cơ. Sau khi đã xem tivi một phim tài liệu, tôi đã ngừng loại thuốc này “, Bernard, 70 tuổi đã kể lại như vậy. Từ đó, Bernard, đã không thông báo quyết định ngừng thuốc này với thầy thuốc, xác nhận rằng ông theo dõi chế độ ăn uống. Nhưng sự bỏ điều trị này, không phải là hiếm, làm lo ngại Académie de mdecine, vừa công bố một báo cáo về chủ đề này.
” Vai trò của chúng tôi là cảnh giác những bệnh nhân, và nhất là những bệnh nhân đã từng bị một tai biến tim mạch, chống lại những sự ngừng điều trị không đúng lúc “, GS Michel Komajda, người viết báo cáo, đã giải thích như vậy với Figaro. Ở những nguoi da từng bị một tai biến tim mạch, như một nhồi máu cơ tim hay một tai biến mạch máu não, việc ngừng statines có thể có những hậu quả bi thảm.
Báo cáo của Académie nêu lên một công trình nghiên cứu của Assurance-maladie, cho thấy rằng ở những người sử dụng đều đặn từ hơn một năm trong phòng ngừa thứ phát (prévention secondaire) (nghĩa là sau một biến cố tim mạch), sự ngừng statines gây một nguy cơ tử vong hay biển cố tim mạch không chết người trong 3 tháng sau khi ngừng thuốc 3 lần cao hơn nguy cơ của những bệnh nhân đã không ngừng điều trị. ” Trong phòng ngừa thứ phát, mọi người đều đồng ý về vai trò của statines. Trong phòng ngừa nguyên phát, cuộc tranh luận vẫn được bỡ ngỡ “, GS Fabrice Bonnet, trưởng khoa nội của CHU de Bordeaux.
Thật vậy, thái độ của các thầy thuốc diverger ở những bệnh nhân không tiền sử bệnh tim mạch và có một nồng độ cholestérol tăng cao. Trong trường hợp này, có phải kê đơn một statine để phòng ngừa (được gọi là nguyên phát) hay không ? Hôm nay tất cả đều dựa trên sự phân tích nguy cơ tim mạch toàn bộ. Bởi vì cholestérol là một trong những biến số của một phương trình phức tạp gồm nhiều dữ kiện như cao huyết áp, tuổi tác, thuốc lá, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động và tính nguy cơ tim mạch của mỗi trong chúng ta.
Những khuyến nghị mới nhất của Bộ Y Tế, dựa trên ý niệm nguy cơ tim mạch này, xếp nó bằng 4 mức : thấp, trung bình, cao và rất cao. ” Ở những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch thấp, sự kê đơn statine không được biện minh. Ngược lại, nó đuoc kê đơn một cách hệ thống ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ trung bình, statine được bàn bạc tùy theo trường hợp”, GS Eric Bruckert, người đã tham gia vào báo cáo của Viện hàn lâm y học đã nhấn mạnh như vậy.Tạp chí Prescrire tỏ ra triệt để hơn. ” Trong thực hành, vì lẽ những điều không chắc và phí tổn của sự phòng ngừa này, thường tốt hơn là không sử dụng statine trong phòng ngừa nguyên phát “, tạp chí đã viết như vậy trong số tháng tư năm 2018. Tạp chí nêu lên những tác dụng phụ của những thuốc này : những tác dụng cơ biến thái chất lượng sống nhưng cũng nguy cơ đái đường và tai biến mạch máu não xuất huyết (rất hiếm). Những tác dụng phụ cũng được kiểm lại kỹ càng bởi báo cáo của Viện hàn làm y khoa.
Thế thì tin ai ? Câu trả lời qua một cuộc thảo luận với thầy thuốc của mình như Collège national des généralistes enseignants đã chủ trương như vậy.” Khi xét đến toàn bộ nguy cơ tim mạch của bệnh nhân chứ không phải một trị số sinh học (nồng độ cholestérol) chúng ta làm médecine probabiliste. Bắt đầu từ lúc đó, sự kê đơn statine hay không chỉ có thể được thực hiện sau khi đã thảo luận với bệnh nhân những lợi ích và nguy cơ tiềm năng của thuốc “, BS Remy Boussageon đã giải thích như vậy.
Một cuộc thảo luận càng trở nên cần thiết với những người già. ” Chúng ta không có một dữ kiện nào về tính hiệu quả của statines sau 75 tuổi “, GS Bonnet đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà những tác dụng cơ dường như ảnh hưởng mạnh hơn lên chất lượng sống ở những người già. Chính vì vậy, GS Bonnet mong muốn đánh giá lợi ích lâm sàng và y tế-kinh tế của sự ngừng statines ở những người trên 75 tuoi.
(LE FIGARO 4/6/2018)

7/ CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU ĐÃ THÀNH CÔNG CHUYỂN TRÍ NHỚ
Thí nghiệm mê hồn này đã được tiến hành trên các escargot de mer (ốc sên biển). Theo một trong những tác giả, nó mang lại một hướng nghiên cứu để điều trị bệnh Alzheimer.
NEUROLOGIE. Kỳ tích chưa phải xảy ra ở người mà ở escargot de mer ; tuy vậy không phải vì thế mà không mới lạ. Các nhà sinh học của đại học Californie ở Los Angeles (Hoa Kỳ) loan báo đã chuyển những ký ức của một con ốc sên biển vùng Californie (Aplysia californica) cho một con ốc sên khác ! Để thực hiện điều đó, họ đã thực hiện những sốc điện nhẹ lên các mollusque gastéropode để phát khởi một động tác phòng vệ : sự co đuôi. Sau đó họ đã trích ARN từ hệ thần kinh rồi họ tiêm vào những con ốc sên khác.Kết quả, những con sên này sau 24 giờ có cùng phản xạ phòng vệ như thể chúng cũng đã chịu những sốc điện.
Từ đó chuyển thí nghiệm này qua người, có một bước lớn mà David Glanzman, một trong những tác giả, vượt qua, mặc dầu con ốc sên biển có khoảng 20.000 neurone trong hệ thần kinh trung ương so với 100 tỷ ở người : ” Tôi nghĩ rằng trong một tương lai gần , chúng ta sẽ có thể sử dụng ARN để đánh thức và phục hồi những ký ức đã trở nên yên ngủ trong những giai đoạn đầu của bệnh Alzheimer “, ông đã không do dự hứa như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2018)

8/ TÍNH NHẠY CẢM ĐỐI VỚI TOURISTA TÙY THUỘC NHÓM MÁU
Ỉa chảy, mửa…tourista (bệnh ỉa chảy của du khách) xảy ra cho hàng ngàn khách du lịch. Nhưng nếu nhóm máu của anh là A hay B, anh sẽ có nguy cơ mắc bệnh gần như hai lần nhiều hơn ! Nguyên nhân : E. coli, vi khuẩn chịu trách nhiệm phần lớn các trường hợp. Vi khuẩn tiết một protéine cho phép nó gắn vào những tế bào của thành ruột. Thế mà, protéine này lại ưu tiên những tế bào biểu hiện kháng nguyên A. (Journal of Clinical Investigation, 5/2018)
(SCIENCE & VIE 7/2018)

9/ TỐT HƠN LÀ TẮM RỬA NHANH SAU MỘT BARBECUE.
Sau thức ăn, đó là đường vào chính của các phân tử sinh ung thư (hydrocarbures aromatiques polycycliques) hiện diện trong khói của barbecue. Và điều đó, ngay trước các lá phổi, theo một công trình nghiên cứu ở Trung Quốc trên khoảng hai mươi người. Các quần áo chỉ tạo nên một bảo vệ ít ỏi. Ngoài ra các nhà nghiên cứu khuyên tắm rửa nhanh sau khi đã nhấm nháp thịt nướng…(Environmental Science and Technology. 5/2018)
(SCIENCE & VIE 7/2018)

10/ CHỨNG TRẦM CẢM LÀM ĐÀN ÔNG ÍT KHẢ NĂNG SINH SẢN HƠN
Những người đàn ông bị trầm cảm nặng có khoảng 16% ít hơn cơ may cho sự sống. Đó là kết quả của một công trình nghiên cứu Hoa Kỳ được thực hiện trên 1650 cặp vợ chồng bị những vấn đề sinh sản. Ngược lại, bệnh trầm cảm của phụ nữ và sự sử dụng các thuốc chống trầm cảm dường như không ảnh hưởng sự ra đời của đứa bé. (Fertility and Sterility. 5/2018)
(SCIENCE & VIE 7/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/7/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s