Thời sự y học số 471 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THIỀN ĐỊNH TÁC ĐỘNG LÊN NÃO, CÁC TẾ BÀO VÀ ADN !
Ngồi xấp bàn, tránh xa tiếng ì ầm của thế giới. Tập trung vào hơi thở của mình. Để cho tâm trí mình dịu đi và cảm thấy rằng ta dần dần đạt tới một trạng thái tri thức sắc sảo về những xúc cảm, tư duy và nhận thức của chính mình, đến độ có thể quan sát chúng một cách tách rời, như một dòng nước chảy ngoài thân thể mình và khi đó đạt một trạng thái thanh thản, thoải mái. Trước khi trở lại thế giới, như được tái sinh…
Mỗi ngày, 3 hay 4 bài đăng trên báo khoa học về chủ đề này. Số những ấn bản nghiên cứu khoa học về chủ đề này đã tăng gấp mười trong vòng 15 năm. Một đam mê khoa học mang lại kết quả : từ nay khoa học có thể vẽ một cách chính xác chưa từng có những đường biên của thiền định (méditation), một trong những trạng thái tri giác quyến rũ nhất !
Khi làm như vậy, các nhà nghiên cứu vén lên bức màn về một trong những bí ẩn lớn nhất của sinh lý con người : năng lực của tinh thần của chúng ta trên cơ thể của chúng ta ! Bởi vì không có tinh thần làm sao giải thích rằng trạng thái nhập định có thể gây nên một cách bền bỉ những thay đổi tinh vi như những biến đổi hóa học của ADN, và những biến đổi sâu như sự làm mạnh hơn vài vùng não bộ ? Hai kết quả làm mê hồn trong số một loạt những kết quả có được của ” khoa học về sự nhập định ” (science de la méditation).
Khoa học này dựa trên những kỹ thuật học mới nhất về chụp hình ảnh não bộ và génomique. Nhất là, nó gọi đến những môn học mũi nhọn và mới nhất như neurobiologie, sinh học tế bào hay phân tử.
IMAGERIE DERNIER CRI
Vấn đề thu hút về sự có thực của một trạng thái thiền định đã bắt đầu lôi cuốn các nhà nghiên cứu ngay cuối những năm 1970, khi nhà sinh học John-Kabat Zinn du nhập sự thực hành phỏng theo Phật Giáo này vào bệnh viện đại học của Massachusetts Institute of Technology nổi tiếng, để giúp các bệnh nhân thư giãn sức ép. Nhà nghiên cứu tước đi sự nhập định khỏi những ý đồ tôn giáo và tinh thần của nó để chỉ giữ khía cạnh thực hành. Kỹ thuật thế tục này, được gọi bằng tiếng Anh là MBSR (réduction du stress par la méditation pleine conscience) từ nay được nghiên cứu và sử dụng trong 800 trung tâm bệnh viện trên toàn thế giới và cũng phát triển trong các xí nghiệp, trường học cũng như quân đội.
Đến độ MBSR được xem như là thuốc bách bệnh : trầm cảm, đau, rối loạn giấc ngủ, nghiện…nó chữa lành tất cả, theo các môn đồ. Để tính đến sự hâm mộ quá chừng, khoa học về nhập định tìm cách đối chiếu kinh nghiệm chủ quan và những quan sát khách quan được thực hiện trong phòng thí nghiệm. Ngay những năm 1980, chính Dalai-lama đã làm dễ cho một sự xích lại gần như thế, cộng tác với Francisco Varela, neuroscientifique và philosophe Chí Lợi
Nhưng nhập định chính xác là gì ? Khó khăn thứ nhất, ” thuật ngữ che dấu một họ to lớn những phương pháp phức tạp điều hòa những cảm xúc và sự chú ý, được vận dụng vì những mục đích khác nhau ” Antoine Lutz, thuộc Centre de recherche en neurosciences de Lyon, đã giải thích như vậy. Các nhà nghiên cứu xếp loại những thực hành này thành 3 nhóm lớn : sự chú ý tập trung (attention focalisée), méditation compassionnelle và la pleine conscience. Pleine conscience, trung tâm của phương pháp MBSR, hôm nay được khoa học nghiên cứu nhiều hơn cả.
Ngồi trên một chiếc ghế hay xếp bàn, các người tập tu nói chung bắt đầu trong một nhóm được hướng dẫn bởi một huấn luyện viên. Mục đích của nhập định ý thức hoàn toàn (la pleine conscience) : phát triển một sự chú ý gia tăng vào mình và vào thế giới đồng thời chấp nhận, không phán đoán, tất cả những biểu hiện của hiện tại, ngay cả không hợp thời nhất. Antoine Lutz không do dự so sánh nó với surf, ” trong đó ta trượt trên những làn sóng đồng thời theo sát những chuyển động ngẫu nhiên của chúng “, các làn sóng ở đây tượng trưng cho những hiện tượng có thể nhận thấy, bên trong cũng như bên ngoài. Khác với thôi miên (hypnose et autohypnose), trong đó trường chú ý tập trung vào những pensée suggestive như một mentra, pleine conscience mở ra cho tất cả những gì đến.
Nhập định ý thức hoàn toàn gây nên những hiệu quả nào ở những người thực hành nó một cách đều đặn ? Phải chăng chúng được giới hạn vào những lúc thực hành hay kéo dài sau đó ? Các nhà tâm lý học đã tìm cách thăm dò trạng thái tâm thần của những những nhập định vào những lúc khác nhau của thực hành và đời sống. Nhưng những kết quả này, phát xuất từ những bảng câu hỏi được điền bởi những người tham dự, vẫn không chắc chắn : ” Những tác dụng lên hành vi và tâm lý khó định rõ rệt bởi vì chúng dựa trên những đánh giá chủ quan “, neuroscientifique Trung quốc-Hoa Kỳ Yi-Yuan Tang đã nhấn mạnh như vậy.
Hơn là tìm cách mô tả những trạng thái tâm lý gây nên bởi thiền định, và để đánh giá một cách khách quan hơn trạng thái ý thức bị biến đổi này, những neuroscientifique như Yi-Yuan Tang hay Antoine Lutz dựa trên một đồng minh quan trọng : chụp hình ảnh não. Những vùng của não có kích hoạt hơn những vùng khác khi ta trở lại ý thức hoàn toàn ? Những vùng khác có giảm hoạt động của chúng ? Những vùng này có chịu những thay đổi do một thực hành đều đặn ?
Chụp hình ảnh đã mang lại cho những câu hỏi này những câu trả lời gây ngạc nhiên : ” 3 tác dụng thần kinh quan trọng dường như đặc hiệu cho nhập định ý thức hoàn toàn, Yi-Yuan Tang đã xác nhận như vậy. Nó tác động lên những vùng não liên quan đến sự kiểm soát sự chú ý, lên những vùng điều hòa những cảm xúc và lên métacognition (quá trình tâm thần liên kết với những ý tưởng mà ta có về những ý tưởng của chính mình).” Phân tích lại hơn 100 công trình nghiên cứu được công bố về chủ đề, nhà nghiên cứu Californie Kieran Fox xác nhận những khám phá này : ” Mặc dầu những hiệu quả là khiêm tốn, nhưng đúng là có một loại những sự kích hoạt đặc hiệu cho là nhập định ý thức hoàn toàn. ” Ta tìm thấy ở đó lộn xộn cortex préfrontal, insula, cortex cingulaire antérieur..
PLASTICITE CEREBRALE
” Insula đóng một vai trò chủ chốt trong intéroception, hoặc sự ý thức về tình trạng nội tại của cơ thể mình, những tim đập hay hô hấp, Antoine Lutz đã định rõ như vậy. Ta cũng tìm thấy những vùng của cortex préfrontal, hay của cortex cingulaire antérieur liên quan trong kiểm soát sự chú ý.”
Những công trình nghiên cứu được thực hiện bởi Antoine Lutz về sự tri giác đau đớn cũng đã cho phép phát hiện một trong những hiệu quả quan trọng của nhập định ý thức hoàn toàn : ” Dường như rằng những thay đổi thần kinh sinh lý trong vài vùng của não tạo thuận cho một découplage giữa những cảm xúc và cộng hưởng tâm lý của chúng.”
Những tác dụng thần kinh sinh lý dường như ăn sâu dài lâu vào trong não theo dòng thời gian : ” Cũng như cách anh phát triển cơ ở cơ thể của anh với một thực hành thể thao đều đặn, Yi-Yuan Tang đã giải thích như vậy, sự thiền định phát triển não bộ của anh. ” Khi đó ta nói tính dẻo của não bộ (plasticité cérébrale). Một cơ chế quan trọng, ở trẻ em cũng như ở người lớn, cho phép não bộ của chúng ta thích ứng suốt trong cuộc sống của chúng ta những tình huống mà chúng ta gặp phải.
Một thực hành đều đặn thiền định ý thức hoàn toàn (la méditation de pleine conscience) do đó dường như tăng cường tính dẻo (plasticité) của những vùng có liên quan trong sự kiểm soát sự chú ý và sự điều hòa những cảm xúc. Do đó với thời gian những vùng này có một mật độ lớn hơn những tế bào thần kinh và những nối kết neurone, nói một cách khác là một sự gia tăng đồng thời của chất xám và chất trắng. Đó là điều được tiết lộ bởi nhiều chục công trình nghiên cứu về chủ đề này, được duyệt xét và tổng hợp bởi Kieran Fox. Bởi cơ chế thần kinh sinh lý nào ? ” Ta chưa biết một cách chính xác điều đó xảy ra như thế nào “, tuy nhiên Yi-Yuan Tang đã lấy làm tiếc như vậy.
Nhưng những tác dụng của thiền định ý thức hoàn toàn được cảm thấy vượt cả não bộ, dấu hiệu hùng hồn của sự tương tác sau giữa thân thể và trí tuệ. Neuroscientifique Clifford Saron, giáo sư của Đại học Californie, đã là một trong những người đầu tiên phát hiện ảnh hưởng của thiền định lên tuổi thọ của các tế bào. Kíp nghiên cứu của ông đã đánh giá tác dụng của một retraite intensive 3 tháng lên một enzyme chủ yếu cho sự quản lý vật liệu di truyền, télomérase. Men này đảm bảo sự bảo trì các télomère, những đầu mút của những nhiễm sắc thể của chúng ta, bị xói mòn bởi sự phân chia tế bào. Enzyme càng hoạt động, tế bào sẽ càng phân chia nhiều lần trước khi sự rút ngắn của các télomère đạt một giai đoạn gây nên sự chết tế bào.
Thế mà, ở những người sau khi thiền định, hoạt động của enzyme này nhảy vọt 30% ! ” Chúng tôi cũng đã chứng minh rằng ở những người này, kích thước của các télomère là cao hơn ở những người không thiền định, xác nhận mối liên hệ giữa một sự gia tăng của nồng độ của télomérase và sự gìn giữ của những télomère”, Clifford Saron đã giải thích như vậy. Hiện tượng này đã được quan sát một cách độc lập bởi một kíp những nhà khoa học Tây Ban Nha, ở những môn đệ của thiền định zen.
Bằng cơ chế nào sự kiện ” cởi mở tinh thần của mình ” có thể tác động lên một thực thể ở cách xa và “vô thức” như một men tế bào ? Đối với nhà sinh học Perla Kaliman, chuyên gia về ảnh hưởng của những yếu tố môi trường lên sự chuyển hóa tế bào, ” tất cả điều này gắn bó chặt chẽ với sự kiện là những stress quan trọng làm giảm hoạt tính của télomérase. Thế mà ta biết từ lâu rằng la pleine conscience làm giảm stress. ”
Thật vậy stress được biết là tác động như một gạch nối giữa thân thể và môi trường. Nó có thể kích thích thân thể một cách dương tính, thí dụ bằng cách làm dễ sự đáp ứng cơ và oxygénation não bộ đứng trước một tình huống nguy hiểm. Nhưng nó có thể tỏ ra độc khi trở nên kinh điển và kèm theo nhưng rối loạn lo âu. Vậy con đường này của stress như con dao hai lưỡi. Tuy nhiên sự nhập định ý thức hoàn toàn (méditation de pleine conscience) dường như tạo thuận phía có lợi nhất, cùng cách với một vệ sinh đời sống tốt hơn hay sự thực hành đều đặn hoạt động vật lý được biết làm giảm cường độ của stress lên cơ thể.
MỘT NGÀY NHẬP ĐỊNH CŨNG ĐỦ
Mặc dầu khoa học về sự nhập định khó có được một cái nhìn toàn diện những cơ chế này, những quan sát tế bào và sinh lý dường như xác nhận giả thuyết này. ” Tác dụng gây ấn tượng nhất ở tế bào là một sự hạ của các chất chỉ dấu của stress và viêm “, Perla Kaliman đã xác nhận như thế. Chỉ cần một ngày nhập định cũng đủ để gây nên một khởi đầu đáp ứng. ” Sau 8 giờ nhập định, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy, chung ta đã quan sát một sự thay đổi của mức biểu hiện của các gène liên quan đến sự điều hòa những biến đổi épigénétique.”
Thật vậy những biến đổi épigénétique tương ứng với những thay đổi hóa học và cấu trúc của ADN, ảnh hưởng sự biểu hiện của các gène trong các tế bào. “Effet épigénétique” này là biểu hiện tế bào của ” fenêtre de plasticité” được gợi lên ở trên. Một cửa sổ có thể mở lên nhiều effet positif, bắt đầu bằng sự chậm lại của đồng hồ nội tại của các tế bào.
Đó là điều được quan sát bởi Perla Kaliman, Antoine Lutz và Raphaelle Chaix, généticienne của CNRS : ” Trong cuộc sống, vài trong số những marque épigénétique của chúng ta tiến triển, đó là “horloge épigénétique”.
(SCIENCE ET VIE 3/2018)

2/ NHẬP ĐỊNH : 3 PHUƠNG PHÁP CHO MỘT THỰC HÀNH
Chữ “nhập định” che dấu ” 84.000 thực hành khác nhau, theo những người Tây Tạng !” , Antoine Lutz đã nhắc lại như vậy. Nhưng dầu sao ta có thể xếp loại chúng thành 3 họ lớn.
– La méditation par attention focalisée có mục đích làm dịu đi tinh thần và đạt tới một trạng thái theo dõi những cảm xúc của chính mình. Nó có thể là một giai đoạn tiến về :
– La méditation de pleine conscience (nhập định ý thức hoàn toàn) : phương pháp này không tìm kiếm tập trung chú ý, nhưng mở nó, không phân đoán, cho tất cả những biểu hiện của hiện tại. Chính phương pháp này chủ yếu được nghiên cứu bởi các nhà khoa học. Nó làm dễ sự không thay đổi tính khí, tính chất được cho là cần thiết để thực hành loại nhập định thứ ba :
– La voie de la compassion : tìm cách mở rộng đến những kẻ khác những sentiments de bonté, d’empathie và d’amour
(SCIENCE ET VIE 3/2018)

3/ NHẬP ĐỊNH : MỘT TRẠNG THÁI TRI GIÁC BIẾN ĐỔI GÂY NÊN :1. Một sự kiểm soát tăng cường của sự chú ý.
Điều này nhờ sự kích hoạt của cortex cingulaire antérieur. Vùng này đóng vai trò trọng tài đối với nhiều thông tin đến não bộ. Những vùng khác có liên quan trong sự kiểm soát của sự chú ý, đặc biệt cortex préfrontal dorso-latéral cũng được kích hoạt và dày lên theo dòng thực hành đều đặn.
2. Một sự điều hòa các cảm xúc tốt hơn
Nếu một cảm xúc được biểu hiện, nhập định bắt sự chú ý, thậm chí kéo dài thành một loạt những traitements cognitifs (trí nhớ, phán đoán..). Bằng cách tránh gắn chặt tâm trí của mình chỉ vào sự xúc động, la pleine conscience làm dễ một découplage giữa điều được cảm nhận và sự lý giải tâm lý, như thế lơi giãn áp lực lên amygdale, trung khu xử lý những cảm xúc.
3. Một sự tiếp cận với méta-cognition
Sự lùi lại nội tâm, cái ý tưởng về những ý tưởng của riêng mình, được mệnh danh là méta-cognition, là một trong những thành phần tích cực quan trọng của pleine conscience. Sự kích hoạt và tăng cường theo dòng thời gian của insula và cortx cingulaire postérieur là phản ánh thần kinh sinh lý.
(SCIENCE ET VIE 3/2018)

4/ NHỮNG ĐƯỜNG SINH HỌC CỦA NHẬP ĐỊNH ĐƯỢC GIẢI THÍCH BẰNG 3 GIAI ĐOẠNCon đường của stress. Đó là một trong những hướng nghiên cứu chính để giải thích sự khuếch tán trong cơ thể của những tác dụng sinh học của la méditation de pleine conscience. Như thế nào ? Một sự kiểm soát tốt những cảm xúc và sự chú ý có thể đóng một vai trò điều hòa những thành phần của bộ mặt thần kinh sinh lý của stress.
1. Bắt đầu từ não..
Amygdale và hippocampe, “musclé” bởi thiền định, sẽ làm giảm bớt écho émotionnel của những tình huống stress. Hypothalamus, liên quan với hai vùng này, khi đó sẽ kiểm soát sự tiết của vài hormone liên quan với stress.
2. Qua các tuyến thượng thận…
Các kích thích tố được tiết bởi não phản ứng lại với stress đến lượt kích thích sự sản xuất cortisol bởi các tuyến thượng thận. Kích thích tố này của stress khuếch tán trong cơ thể qua mạng máu.
3. Cho đến các tế bào và ADN
Cortisol đi vào bên trong những tế bào và liên kết với những thụ thể khác nhau chi phối đời sống tế bào. Sự gìn giữ của các télomètre và sự chậm lại của của đồng hồ di truyền được quan sát ở những người thiền định có thể được giải thích bởi một sự điều hoà cortisol tốt hơn.
(SCIENCES & VIE 3/2018)

5/ NHIỄM TRÙNG DA NẶNG : ĐỀ KHÁNG KHÁNG SINH
GS Eric Senneville, chef du service universitaire des maladies infectieuses et du voyageur au CH Gustave-Dron, à Tourcoing, giải thích tính hình kháng sinh đề kháng. ” Sự đề kháng gia tăng với các kháng sinh tạo điều kiện cho sự xuất hiện những nhiễm trùng da nghiêm trọng.
Hỏi : Tác động của kháng sinh đề kháng ở Pháp ?
GS Eric Senneville. Phần lớn những nhiễm trùng nặng hiện nay là do sự đề kháng của các kháng sinh. Thường nhất chúng xuất hiện khi được điều trị ở bệnh viện (nhiễm trùng bệnh viện) hay ở nhà. Khoảng một nửa của những nhiễm trùng này là da (phát xuất từ những vết thương mở, cathéters,..), hai lần thường hơn những nhiễm trùng đường tiểu và 10 lần nhiều hơn những nhiễm trùng phổi. Ta ước tính rằng sự đề kháng kháng sinh là nguồn gốc của 13.000 trường hợp tử vong mỗi năm ở Pháp.
Hỏi : Những nhiễm trùng da này xuất hiện như thế nào ?
GS Eric Senneville. Da là một cái vỏ bọc ngoài trong đó những tế bào miễn dịch đứng gác. Da cũng được phủ bởi rất nhiều vi khuẩn (nhiều ngàn đến 1 triệu/cm2 tùy theo định vị), cần thiết cho sự hoạt động và phòng vệ của nó. Trong trường hợp vết thương, các vi khuẩn có thể đi xuyên qua da, điều này theo quy tắc chúng vẫn hiền tính nhưng có thể gây nên một nhiễm trùng được tạo thuận bởi những yếu tố như suy giảm miễn dịch (do thuốc, bệnh), một bệnh da mãn tính (eczéma, psoriasis…) hay sự hiện diện của một vật lạ (các chỉ của vết sẹo, matériel prothétique…). Những vi khuẩn nguy hiểm nhất trong những tình huống này là tụ cầu khuẩn vàng và vài liên cầu khuẩn. Nhiễm trùng có thể đi đến các mô mềm dưới da, rồi tuần hoàn máu (nhiễm trùng huyết) và đe dọa các mô và cơ quan khác.
Hỏi : Những dạng thường gặp nhất của nhiễm trùng da ?
GS Eric Senneville. Những nhiễm trùng nông nhất là impétigo, furoncles, viêm quần, viêm tổ chức tế bào hoại tử. Những nhiễm trùng sâu là những abcès và phlegmon. Nhưng cũng có những vết thương mãn tính với những lan rộng xuống sâu : mal perforant plantaire của bệnh nhân đái đường, loét cẳng chân nguồn gốc mạch máu, những mảng mục do nằm kéo dài. Đó là những tình huống và thể địa tạo điều kiện cho sự trổi dậy của những vi khuẩn da đề kháng.
Hỏi : Làm sao giải thích hiện tượng đề kháng kháng sinh và sự gia tăng của nó hiện nay ?
GS Eric Senneville. Các vi khuẩn hiện hữu từ 3,6 tỷ năm nay, trong đó chúng đã chịu một cách thường trực sự tấn công của những vi sinh vật khác, như mốc và nấm, mà xuất phát từ đó các kháng sinh đã được tạo thành và sản xuất. Chúng đã sống sót bằng cách lập những hệ phòng vệ hiệu quả được ghi trong génome của chúng, mà chúng sử dụng để thích ứng với môi trường hay chống lại những kháng sinh hiện nay, dầu chúng là tự nhiên, bị biến đổi hay nguồn gốc tổng hợp. Mọi sức ép mạnh cua kháng sinh cho phép sự xuất hiện những cơ chế bảo vệ được ghi trong những gène vi khuẩn. Mọi sự giảm sức ép này tái lập khuẩn chí (flore bactérienne) nhạy cảm với các kháng sinh và giảm đề kháng kháng sinh. Ngoài ra, rất ít kháng sinh thật sự mới đã được chế tạo từ hai mươi năm nay và việc lấp đầy chỗ thiếu này là điều cấp bách, bởi vì những giải pháp thay thế trong trường hợp đề kháng kháng sinh khan hiếm đi.
Hỏi : Ông khuyến nghị gì về kế hoạch của sự phòng ngừa ?
GS Eric Senneville. Trách nhiệm thuộc về tập thể. Quá nhiều kháng sinh được kê đơn ngay cho những nhiễm trùng chỉ do virus (viêm mũi họng) hay thường do virus (angine) mà không tìm nguyên nhân vi khuẩn của chúng (lấy mẫu nghiệm, sinh học) và trong thời gian quá dài làm gia tăng nguy cơ đề kháng kháng sinh. Những người Pháp nằm trong số những người tiêu thụ và yêu cầu kháng sinh nhiều nhất (+30% so với trung bình châu Âu), điều này làm dễ sự kê đơn những kháng sinh vô ích (30 đến 50% những trường hợp)
Hỏi : Ta có những liệu pháp nào trong trường hợp những nhiễm trùng da với đề kháng kháng sinh.
GS Eric Senneville. Trong trường hợp đề kháng với các kháng sinh cổ điển (pénicillines, macrolides, vancomycines,…), hiện nay ta có những kháng sinh mới với những đặc điểm có thể góp phần chống lại đề kháng kháng sinh : tédizolide hiệu quả nhanh với liều thấp hơn những kháng sinh cổ điển, điều này làm giảm sự đề kháng kháng sinh. Dalbavancine, được dung nạp tốt và là kháng sinh đầu tiên có thời gian tác dụng kéo dài (2 đến 3 tuần) sau một liều duy nhất được cho bằng đường tĩnh mạch, cho phép xét đến một sự giảm thời gian nhập viện và do đó, giảm sự nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện.
(PARIS MATCH : 15-21/3/2018)

6/ VACCIN CHỐNG UNG THƯ : MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐẦY HỨA HẸN.
Kíp của GS Ronald Levy (đại học Standford, California) đã hiệu chính một vaccin được cấu tạo bởi 2 tác nhân, được tiêm một lần duy nhất, với liều rất thấp (do đó ít tác dụng phụ), vào chính trung tâm của những u ác tính, sẽ đánh thức, bằng tác dụng cộng lực của chúng, hệ miễn dịch bị làm yên ngủ bởi những tế bào ung thư, nhất là những tế bào lympho T. Những tế bào này khi đó được kích hoạt, phá hủy khối u và những di căn của nó. Điều trị này đã chữa lành 87 con chuột trên 90 bệnh nhân có một lymphome và một cách tương tự, những con chuột bị ung thư đại tràng, vú hay mélanome. Một công trình nghiên cứu ở người (những bệnh nhân có một lymphome) đang được tiến hành. Đơn giản, không hạn chế vào một ung thư rắn duy nhất, ít tốn kém, vaccin này, nếu tỏ ra hiệu quả ở người, sẽ là một cuộc cách mạng !
(PARIS MATCH 10/5-16/5/2018)

7/ LYMPHOME NON HODGKINIEN : NHỮNG BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG.
GS Gilles Salles, chef du service d’ hématologie adulte des Hospices civils de Lyon : ” Điều trị các lymphome, các ung thư máu gia tăng mạnh, là đối tượng của những tiến bộ lớn. ”
Hỏi : Một lymphome (LY) là gì ?
GS Gilles Salles. Đó là một ung thư phát triển từ những tế bào lympho, những tế bào chủ chốt của hệ miễn dịch của chúng ta. Có hơn 60 sous-type khác nhau. Một cách sơ đồ, ta phân biệt lymphome de Hodgkin, thường gặp ở người trưởng thành trẻ, với những lymphome được gọi là non hodgkinien (LNH) có thể xuất hiện ở bất cứ lứa tuổi nào và hoặc là ác tính, đe dọa nhanh chóng sự sống, hoặc “indolent”, tiến triển chậm trong nhiều năm.
Hỏi : Tần số của những lymphome ở Pháp ?
GS Gilles Salles. Có hơn 12.000 trường hợp mới mỗi năm (5% của tất cả các ung thư), con số đã tăng gấp đôi trong 25 năm và tiếp tục gia tăng, ở đàn ông hơi nhiều hơn đàn bà. Một nguyên nhân hay những yếu tố tạo thuận thường vẫn không được biết rõ. Vai trò khả dĩ của một virus (mononucléose infectieuse, viêm gan B hay C…), của một vi khuẩn (Helicobacter pylori), những thuốc trừ sâu, thậm chí một thể trạng gia đình) đôi khi được gợi lên.
Hỏi : Những lymphome non hodgkinien (LNH) nào thường gặp nhất và làm sao xác lập chẩn đoán ?
GS Gilles Salles. 1. Le B diffus à grandes cellules, ác tính, là thường gặp nhất (35% những LNH). Nó bắt đầu trong một hạch, lớn lên trong vài tuần, có thể sờ thấy trong cổ, vùng bẹn, dưới nách, hay ở sâu và là nguồn gốc của những dấu hiệu không điển hình (đau bụng, ho..) ; nó cũng có thể phát triển trong bất cứ cơ quan nào của cơ thể (dạ dày, phổi, não…). 2. Lymphome folliculaire (20% của những LNH) là thể thường gặp nhất của lymphome indolent. Lúc đầu, đó là sự gia tăng kín đáo của một hạch, có thể không được nhận thấy trong nhiều năm. Mệt, mất cân, sốt không thể giải thích, mồ hôi đêm có thể kèm theo tất cả các loại LNH. Một scanner sẽ nhận diện những hạch và/hoặc những cơ quan bị thương tổn. Có thể sinh thiết các hạch và những cơ quan bị thương tổn này để phân tích dưới kính hiển vi và xác nhận chẩn đoán. Một Pet-scan (chụp hình ảnh những ổ hoạt động) sẽ định rõ sự lan tỏa của bệnh trong cơ thể. Ta cũng sẽ phân tích tủy xương bằng chọc tủy (myélogramme) hay bằng sinh thiết.
Hỏi : Điều trị chuẩn của lymphome à grandes cellules và những kết quả của nó ?
GS Gilles Salles. Điều trị dựa trên một hóa trị (liên kết với một miễn dịch liệu pháp bằng những kháng thể đơn dòng được chế tạo trong phòng xét nghiệm để nhắm một cách đặc hiệu những tế bào ác tính), nói chung được cho mỗi 3 tuần trong khoảng 6 tháng. Như thế ta chữa lành hơn 60% những bệnh nhân. Những tái phát có thể xảy ra, khiến phải lập lại hóa trị hay sử dụng những phương pháp tích cực hơn (ghép những tế bào gốc của máu). Sự chữa lành khi đó hiếm hơn, nhưng trong những thể đề kháng này, một điều trị cách mạng có thể thay đổi tình hình.
Hỏi : Điều trị đó là gì?
GS Gilles Salles. Điều trị này, qua biotechnologie avancée, biến đổi những tế bào lympho lành mạnh (lymphocytes sains) của bệnh nhân thành những lymphocyte tueur de lymphome (được gọi là CAR-T cells). Những tế bào lympho lành mạnh được lấy trong máu của bệnh nhân (cytaphérèse), được xử lý về mặt di truyền trong phòng thí nghiệm để nhắm một protéine đặc thù cho những tế bào ung thư và được tiêm trở lại vào bệnh nhân qua đường tĩnh mạch : khi đó chúng gia tăng đến nghìn lần, rồi tấn công đích của chúng, nghĩa là những tế bào ác tính. Trong vài ngày hay tuần (với cái giá những tác dụng phụ không đảo ngược), sự tan khối u diễn ra ngoạn mục : mặc dầu không hoàn toàn ở một nửa những bệnh nhân, nhưng hoàn toàn sau 6 tháng ở 30 đến 40% những bệnh nhân này và một cách dài lâu. Phương pháp mới này nhiên hậu được áp dụng cho tất cả lymphome.
Hỏi : Một sự theo dõi y khoa đôi khi đủ. Nếu không, ta sử dụng một kháng thể đơn dòng (rituximab) có hay không có hóa trị. Một sự cho kéo dài rituximab (một mũi tiêm mới hai hay ba tháng trong 2 năm) gia tăng thời gian những thuyên giảm. Phần lớn các bệnh nhân có thể sống như vậy không tái phát trong ít nhất 10 năm, thậm chí hơn. Những kháng thể đơn dòng khác và những sản phẩm đầy hứa hẹn có thể kích thích tính miễn dịch (lenalidomide) đang được nghiên cứu, và điều đó ngoài hy vọng mang lại bởi những CAR-T cells.
(PARIS MATCH 12-18/4/2018)

8/ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ SAU 65 TUỔI.
Những lợi ích của tập thể dục được khuyến nghị, nhưng như thế nào sau 65 tuổi và với cường độ nào ? Những công trình nghiên cứu vừa trả lời, trong đó có công trình của BS Jean-Claude Barthélémy (đại học Lyon), được thực hiện ở hơn 1000 người ở Saint-Etienne, tuổi 65 và được theo dõi trong 15 năm. Kết quả : tái tục hay bắt đầu một hoạt động vật lý lúc về hưu làm giảm tỷ lệ tử vong tim mạch 44% so với vẫn nhàn rỗi không hoạt động. Giảm hoạt động vật lý gia tăng nguy cơ tai biến tim mạch gấp 2 và tỷ lệ tử vong gấp 3. Những lợi ích của hoạt động vật lý đều đặn chỉ có thể quan sát và dài lâu ở những người thực hiện tối thiểu 15 phút bước mỗi ngày, kể cả những người già và tàn tật, những người này được giúp lúc gắng sức.
(PARIS MATCH 12/4-18/4/2015)

9/ THỂ THAO SAU NHỒI MÁU CƠ TIM
Một công trình nghiên cứu Thụy Điển vừa mới được trình bày trước Société européenne de cardiologie, xác nhận những khuyến nghị mà công trình nghiên cứu này mang lại về vấn đề thể thao sau một nhồi máu cấp tính của cơ tim. Đó là : theo một chương trình réadaptation cardiaque dựa trên thể dục, được thích ứng với tuổi tác và tình trạng của bệnh nhân, và duy trì hoạt động này một cách đều đặn. 22.000 người Thụy Điển, tuổi từ 18 đến 74, những nạn nhân của một nhồi máu cơ tim, đã được theo dõi trung bình trong 4 năm bởi những thầy thuốc của Ecole des sciences du sport et de la santé ở Stockholm. Những người đã thực hành thể thao hai lần mỗi tuần (và đôi khi hơn) đã có một tỷ lệ tử vong 11% mỗi năm, thậm chí 0,75% nếu họ đã thực hành nó trước nhồi máu cơ tim. Nếu những người vẫn nhàn rổi không hoạt động có một tỷ lệ tử vong hàng năm 2 đến 3 lần cao hơn (2,8%) !
(PARIS MATCH 17/5-23/5/2018)

10/ MỘT ĐIẾU THUỐC MỖI NGÀY : ĐÓ LÀ MỘT ĐIẾU QUÁ NHIỀU !
Một méta-analyse, được thực hiện bởi một équipe londonienne (University College), tập hợp 141 công trình nghiên cứu đã theo dõi 5,6 triệu người trên bình diện động mạch vành và 7,3 triệu trên bình diện của những tai biến mạch máu não, vừa chứng minh rằng chỉ cần hút một điếu thuốc mỗi ngày mang lại một nguy cơ tim-mạch cao hơn nhiều so với dự kiến : bị gia tăng một nửa ở đàn ông và 75% ở phụ nữ nếu chỉ xét đến tuổi ; gia tăng 75% ở đàn ông và 119% ở phụ nữ khi, ngoài tuổi tác, có một yếu tố nguy cơ khác, điều này thường gặp. Nguy cơ tai biến mạch máu não gia tăng 30% trong cả hai giới. Kết luận : không liên hệ trực tiếp giữa sự tiêu thụ thuốc lá và tác động của nó lên những huyết quản của tim và não. Một điếu thuốc mỗi ngày mang lại 50 đến 75% nguy cơ tim mạch mà những người hút 20 điếu mới ngày có !
(PARIS MATCH 29/3-4/4/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(13/6/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s