Thời sự y học số 468 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ RỐI LOẠN THĂNG BẰNG : TAM TRỤ MẮT-MŨI-CƠ BỊ MẤT NỐI KẾT.
Sự tìm kiếm những nguyên nhân của chóng mặt (vertige) cũng giống với cuộc điều tra của cảnh sát.ORL. ” Những rối loạn thăng bằng (trouble de l’équilibre) là những triệu chứng phát hiện một thiếu sót hoạt động của sự giữ cân bằng (équilibration), tập hợp một tổng thể những hệ thống phức tạp mà phải dùng thời gian để thăm khám “, GS André Chays, thuộc khoa TMH của CHU de Reims đã nhắc lại như vậy. Thật vậy để giữ thăng bằng, thân thể phải sửa cho đúng một cách thường trực tư thế của mình, nhờ những thông tin được cung cấp đồng thời bởi mắt, tai, da, các dây gân, các cơ và não. Nếu thiếu sót một trong những yếu tố của hệ thống phức tạp kích thích, phân tích và điều chỉnh này, sự giữ cân bằng không còn được đảm bảo tốt như thế : sự không vững (instabilité) và chóng mặt (vertige) có thể xuất hiện, đôi khi gây té. Với tuổi già, mỗi trong những yếu tố của hệ có thể bị ảnh hưởng, giải thích sự gia tăng hiện nay của những rối loạn thăng bằng, liên hệ với sự lão hóa của dân số.
Trong khi sự không vững liên kết với tuổi già xuất hiện dần dần, những chóng mặt có thể xuất hiện đột ngột hơn và đôi khi ngay cả được điều trị cấp cứu.Chóng mặt (vertige) không được lẫn lộn với một tình trạng khó ở (malaise) : chóng mặt được đặc trưng bởi cảm giác rằng môi trường (đất, trần nhà, các đồ vật…) xê dịch quanh mình hay thân thể mình di chuyển trong không gian, đồng thời xoay, lúc lắc hay té. Những chóng mặt lớn (grands vertiges) gây nôn, mửa và mất năng lực đứng phải được xử trí trong ngày ở khoa TMH hay ở khoa cấp cứu, đặc biệt nếu chúng được kèm theo bởi mất thính giác.
Mọi chóng mặt thật sự, mặc dầu không kéo dài, biện minh cho một thăm khám để nhận diện nguyên nhân, cũng như một sự không vững tăng dần (instabilité croissante) khiến phải bíu vào bàn ghế, tránh cầu thang và nhịn vài hoạt động vì sợ bị té. Thầy thuốc phải thực hiện một thăm khám hoàn chỉnh để loại bỏ một nguyên nhân tim-mạch hay thần kinh của những mất thăng bằng (deséquilibre) này, cấp cứu hay không : đái đường, cao huyết áp, thiếu máu, những rối loạn nhịp, những sự cố thần kinh-mạch máu, những tác dụng phụ của vài loại thuốc hay những rối loạn tâm thần. Nếu không có một nguyên nhân nào trong số này có thể được gợi lên, thầy thuốc có thể hướng chẩn đoán về một nguồn gốc ngoại biên của những rối loạn thăng bằng.
” Vấn chẩn và khám lâm sàng nhằm nhận diện yếu tố nào của tam trụ mắt-tai-cảm thụ bản thể (trépied oeil-oreille-proprioception) bị thiếu sót và ở phía nào “, GS Valerie Franco-Vidal của khoa TMH thuộc CHU de Bordeaux đã giải thích như vậy. Khi đó một vấn chẩn rất chính xác cho phép định rõ những trường hợp của những rối loạn thăng bằng : phải chăng đó là một cơn chóng mặt duy nhất, nó đã kéo dài bao lâu, và nó đã xuất hiện vào lúc nào ? Thầy thuốc cũng sẽ quan tâm những dấu hiệu đi kèm theo nó : mất thính giác, ù tai (acouphène), cảm giác đầy tai, chảy mủ tai…Liên kết với khám bước đi, mắt và tai, nó cho phép xác lập chẩn đoán trong 80% những trường hợp. Sau đó thầy thuốc đa khoa sẽ có thể hướng bệnh nhân về một kinésithérapeute hay về một TMH nếu những thăm khám bổ sung là cần thiết.
Nếu các chuyên gia đôi khi gọi là “policier” vấn chẩn được đề nghị cho một bệnh nhân chóng mặt, chính cũng vì sự tìm kiếm những nguyên nhân của chóng mặt giống như sự điều tra của cảnh sát, trong đó ba thủ phạm có thể chịu trách nhiệm, một hay nhiều. Mắt và tai cung cấp những dấu hiệu thị giác và thính giác về môi trường để tránh hay vượt lên những chướng ngại vật. Phần trong của tai cung cấp những dấu hiệu về sự định hướng trong không gian và về những thay đổi vị trí của nó. Các cơ và dây gân mang lại những thông tin về sự nghiêng và texture của đất cũng như về tư thế của các chi vào mỗi lúc. Khi vài trong những dấu hiệu này thiếu, toàn hệ mất thăng bằng và cung cấp một thông tin không hoàn toàn, chịu trách nhiệm sự lộn xộn của hệ giữ cân bằng (système d’équilibration). Nếu vấn chẩn không đủ, từ nay các chuyên gia có nhiều công cụ, đặc biệt vidéonystagmographie, cho phép phân tích những xung đột này và phát hiện vùng không còn cung cấp nữa những thông tin cần thiết. ” IRM và scanner có thể giúp định vị vấn đề nhưng protocole d’imagerie phải chính xác hay được giao phó cho một kíp chuyên khoa để tránh những thăm dò tốn kém và vô ích khi chúng không mang lại những câu trả lời mong đợi “, GS Chays đã nhấn mạnh như thế.
Mặc dầu có thể nhận diện hệ thống thiếu sót trong phần lớn các trường hợp, nhưng không luôn luôn có thể định rõ định vị chính xác của vấn đề cũng như hiểu tại sao nó đã xuất hiện. Với sự lão hóa, đôi khi chính toàn thể hệ cân bằng đã mất tính hiệu quả của nó. Mặc dầu không có sẵn một điều trí đặc thù, mỗi bệnh nhân có thể lên lại chương trình của hệ phức tạp này đồng thời cải thiện, bằng những động tác và những thực hành đều đặn, những thông tin được cung cấp bởi điều còn hoạt động để tìm lại trong vài tuần một trạng thái thăng bằng thỏa mãn.
(LE FIGARO 12/2/2018)

2/ RỐI LOẠN THĂNG BẰNG : SỰ HIỆU QUẢ CỦA PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VÀ PHÒNG.
Nếu sự thăng bằng dựa trên tam trụ mắt-tai-cơ (trépied oeil-oreille-muscle), não có khuynh hướng làm dễ những thông tin thị giác để có được những thông tin về môi trường của mình. Kết quả : khi mắt bị yếu đi hay khi những thông tin đến từ tai ít chính xác hơn, tam trụ nhanh chóng bị mất cân bằng và, nếu các cơ không đủ khả năng tái lập sự thăng bằng, té sẽ xảy ra không xa…Một tình huống khá thường gặp bắt đầu từ một lứa tuổi nào đó, đôi khi được tạo thuận bởi verres progressifs nhưng dễ phòng ngừa và điều chỉnh bằng cách mang lại nhiều vai trò hơn cho cảm thụ bản thể (proprioception) trong sự quản lý thăng bằng.
Gan bàn chân, nối cơ thể với cái giá đỡ của nó, là một nguồn thông tin thiết yếu để tạo sự thăng bằng, báo cho não độ nghiên của đất và texture của nó. Để phát triển sự nhờ đến nguồn thông tin này, phải giảm sự góp phần của thị giác bằng cách bước thường xuyên, nếu có thể trên những bề rộng không có mốc thị giác và lý tưởng là bằng chân trần. Sự đi dạo vào mùa hè ở bờ biển hay giữa sa mạc, mặc dầu không luôn luôn có thể thực hiện, nhưng không gì ngăn cản những cuộc dạo chơi trên đồng bằng voi giày mềm hay tác động của cảm thụ bản thể (travail de proprioception) trên những giá mềm, mắt nhắm lại. Vả lại, đó là loại bài tập mà một kinésithérapeute sẽ đề nghị để tăng cường vài trò của các bàn chân, các cơ và những dây gân trong sự tạo thăng bằng.
Lắng nghe tốt hơn môi trường của mình, thân thể khi đó có khả năng hơn phản ứng với những biến đổi không thể dự kiến như một ballon thoát khỏi người chủ hay một viên sạn đến nằm chính ngay nơi mà bàn chân vừa đặt xuống.
Liên kết với một chế độ ăn uống đủ giàu protéine, lấy lại thói quen đơn giản bước đều đặn trong những không gian mới cho phép lấy lại niềm tin vào cơ thể mình và giảm một cách đáng kể nguy cơ té ngã. Ngoài những lợi ích vốn đã nhiều này, loại đi dạo này cũng sẽ cho phép không còn phải nghe thầy thuốc mình lập lại rằng sự thực hành một hoạt động đều đặn là yếu tố quyết định của một chất lượng sống kéo dài.
(LE FIGARO 12/2/2018)

3/ CHÓNG MẶT : ĐIỀU TRỊ CẤP CỨU NHƯNG CŨNG ĐIỀU TRỊ LÂU DÀI.
” Cuối cùng ta luôn luôn làm ngừng một cơn chóng mặt xoay (vertige rotatoire) quan trọng “, GS Valérie Franco-Vidal thuộc khoa TMH của CHU de Bordeaux đã đảm bảo như thế. Những cơn chóng mặt này, được xử trí ở khoa cấp cứu, đôi khi cần áp dụng một điều trị thuần triệu chứng ngay cả trước khi tìm kiếm nguyên nhân đối với những bệnh nhân không đứng vững và không thể chịu những thăm khám liên quan đến sự thăng bằng. Mửa làm vô ích mọi điều trị bằng đường miệng và khi đó điều trị chống chóng mặt (anti-vertigineux), an thần hay chống mửa (antiémétique), được cho bằng đường tĩnh mạch, để làm dịu cơn.Một khi cơn đã qua, sự thăm dò nói chung được giao cho một ORL, bởi vì tất cả những thông tin liên kết với sự thăng bằng tận cùng hay bắt đầu trong tiền đình (vestibule). ” Ta không thể mổ mê cung (labyrinthe) để quan sát nó một cách trực tiếp, nó sẽ bị phá hủy một cách không thể sửa chữa được “, GS Jean-Pierre Lavieille, trưởng khoa ORL và chirurgie cervico-faciale của hôpital de la Conception (Marseille) đã giải thích như vậy.” Tuy nhiên từ nay chúng ta có nhiều công cụ thăm dò chức năng và cơ thể học để nhận diện nguồn gốc và định vị của chóng mặt.”
Đôi khi cần nhiều tuần để thăm dò tất cả recoin của tai và của thân não, ở đó tận cùng những dây thần kinh thính giác, để nhận điền không những vùng bị thương tổn mà còn cơ chế liên hệ. Trong vài trường hợp, sự thiếu sót thăng bằng sẽ đáp ứng với một điều tri kháng viêm, chống nhiễm trùng, một sự điều hòa của osmose interne…Trong những trường hợp khác, những giải pháp khác sẽ được vận dụng.
NHỮNG CHẤN THƯƠNG CŨ
Sự thăm dò cũng cho phép tìm thấy những dị dạng hay biến dạng của phức hợp tiền đình (complexe vestibulaire), có thể được điều chỉnh bằng ngoại khoa. ” Hội chứng Minor, được khám phá vào cuối những năm 1990, từ nay có thể được điều trị bằng một can thiệp ngoại khoa vi xâm nhập nhắm đích, GS Lavieille đã chỉ rõ như vậy. Chụp hình ảnh cho phép thầy vài dị dạng của của ống bán khuyên trên (canal semi-circulaire supérieur) và cũng cho phép điều chỉnh những fistule péri-lymphatique.”
Những chấn thương đôi khi cũ, như sự đè ép của những dây thần kinh thính giác và tiền đình bởi các động mạch, sau vài năm, làm rối loạn sự hoạt động tốt của tai, có thể được tìm thấy và điều trị bằng ngoại khoa.
Trong tất cả những trường hợp, dầu một điều trị đã có thể được thiết đặt hay đầu không thể nhận diện một cách đặc thù nguyên nhân của một chóng mặt hay một tình trạng không vững mãn tính, một sự lập lại chương trình (reprogrammation) của các hệ giữ cân bằng sẽ là cần thiết để não học quản lý những circuit bị biến đổi bởi căn bệnh. Một điều trị nền chống chóng mặt đôi khi được kê đơn dài hạn khi không thể thực hiện phục hồi chức năng.
(LE FIGARO 12/2/2018)

4/ BỆNH MÉNIÈRE
Chóng mặt xoay dữ dội, được phát khởi đột ngột, kèm theo nôn, mửa, ù tai và điếc tạm thời liên kết với một cảm giác đầy tai : những triệu chứng của bệnh Ménière gây ấn tượng mạnh. Bệnh lý này, mặc dầu chỉ là nguồn gốc của 5% những trường hợp chóng mặt, tuy vậy thường được gợi lên, có lẽ bởi vì, mặc dầu bệnh đã được nhận diện ngay năm 1861, nhưng những cơ chế của nó vẫn luôn luôn bí mật. Các chuyên gia đã chưa hiểu sự biến đổi áp lực của các dịch của mê cung (biến mất ngoài cơn) là nguyên nhân hay hậu quả của căn bệnh này. Không có điều trị xác định của bệnh Ménière, bệnh nhân thường phải nằm dài trong bóng đêm trong khi chờ đợi cơn tan đi, với sự giúp đỡ của những thuốc điều trị triệu chứng. Những chiến lược phóng ngừa khác nhau cho phép làm chậm sự xuất hiện của những cơn mới và/hoặc làm giảm những triệu chứng. Tiến triển tự nhiên của bệnh dẫn đến một sự mất dần dần thính giác, được ổn định giữa 50 và 60 décibels.
(LE FIGARO 12/2/2018)

5/ SỐNG TỐT HƠN VỚI NHỮNG VẤN ĐỀ THÍNH GIÁC
Những thương tổn của tai trong (oreille interne) không còn là một định mệnh nữa. Những implant và những máy trợ thính (aide auditive) đưa những người nghe kém ra khỏi tình trạng cô đơn. Trong lúc chờ đợi những kết quả cụ thể của những công trình nghiên cứu được thực hiện về liệu pháp gène (thérapie génique).
” Tai, đó là cuộc sống !” ta có thể đọc trong phần mở đầu của một sách chỉ dẫn nhỏ, được xuất bản năm 2017 về những nguy hiểm của tiếng ồn lúc làm việc. Một sự thật mà không ai không biết nữa vào ngày 8 tháng 3, journée nationale để l’audition lần thứ 21, cơ hội để tìm hỏi, lo lắng về sức khỏe của giác quan này, nối chúng ta với thế giới. Thật vậy, hôm nay, ở Pháp, hơn 10 triệu người Pháp bị “nghễnh ngãng” (mal-entendance) ở những mức độ khác nhau nhưng cũng bị ù tai (acouphène), những cảm giác thính giác lạ kỳ làm tê liệt cuộc sống hàng ngày của những người bị chứng bệnh này. Điếc bẩm sinh, chấn thương âm thanh (các tai nạn), điếc nguyên nhân ngộ độc (dùng lâu dài các kháng sinh) hay do tuổi tác (presbyacousie)…Nhiều nguyên nhân có thể tách rời người bệnh ra khỏi thế giới. Những giải pháp hiện hữu : những implant ốc tai, được dành cho những bệnh nhân bị điếc nặng hai bên hay những prothèse externe có tác dụng khuếch đại âm thanh cho những người bị điếc do tuổi già. Những giá bán thường cao của chúng vẫn là một cái hãm, điều này khiến 2 triệu người mặc dầu cần chúng, nhưng không được trang bị, theo một công trình nghiên cứu của Bộ Y tế.
Chướng ngại khác là tính chất phức tạp cực kỳ của thính giác mà các chuyên gia còn khó nắm vững. Ở đây tất cả diễn ra ở trong sâu, ở ốc tai (cochlée), một cơ quan nhỏ nằm trong hộp sọ và những tế bào được gọi là tiêm mao của nó, chuyên trách về sự biến đổi những rung cơ học của những sóng âm thành những tín hiệu điện mà não có thể giải thích.
NHỮNG TIẾN BỘ QUAN TRỌNG ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG NHỮNG THÁNG QUA.
” Những công cụ mà chúng ta có cho phép biết rằng ta nghe kém nhưng chưa cho phép biết một cách chính xác tại sao “, GS Jean-Luc Puel, giám đốc của đơn vị Inserm 1051 ở đại học Montpellier (Hérault) và chủ tịch của 21è journée nationale l ‘audition đã giải thích như thế. Tin vui : nghiên cứu đang trong thời kỳ nở rộ ! Những bước tiến quan trọng đã được thực hiện trong những tháng qua. Kíp của GS David Liu (đại học Havard, Hoa Kỳ) đã thành công điều chỉnh các gène thiếu sót nhờ kỹ thuật ” các con dao phân tử ” (technique des ciseaux moléculaires) được gọi là CRISPR-Cas 9. Mặc dầu công trình nghiên cứu dựa vào những thử nghiệm được tiến hành, hiện nay, ở động vật nhưng nó đã cho thấy rằng có thể phòng ngừa sự mất thính giác của những con chuột con có một biến dị ở một gène (TmCl) liên quan trọng sự thoái hóa của những tế bào tiêm mao, một đích được nhắm đến bởi các nhà nghiên cứu, cố gắng bằng mọi phương tiện để bảo vệ chúng hay làm tái sinh chúng. Một bước đầu tiên để tưởng tượng một can thiệp di truyền tương lai ở những bệnh nhân có biến dị này, trước khi sự mất của những tế bào tiêm mao không thể đảo ngược.
NHIỀU GEN LIÊN QUAN ĐƯỢC KHÁM PHÁ.
Bằng cớ khác về sự năng động của nghiên cứu, hội nghị đầu tiên hoàn toàn dành cho những liệu pháp tương lai của tại trong, đã được tổ chức cuối tháng 7 ở Maroc. Chủ tịch, GS Christine Petit, trưởng unité Inserm génétique et physiologie để l’audition ở Viện Pasteur (Paris) là nguồn gốc của khám phá nhiều gène chịu trách nhiệm của vài trường hợp điếc. ” Từ lâu, chúng ta đã bù nhưng rối loạn thính giác. Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ sửa chữa chúng.” Nhà khoa học nổi tiếng thế giới này sẽ đứng đầu Viện thính giác tương lai ở Paris, gần với viện thị giác, mà sự khánh thành được dự kiến năm 2019. Được ủng hộ bởi Fondation để l’audition, nó sẽ quy tụ các nhà nghiên cứu, các thầy thuốc, bệnh nhân và các nhà công nghiệp. Sau cùng một ván nhún để tiến hành những thử nghiệm ở người.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2018)

7/ ĐIỀU GÌ LÀM ĐIẾC TAI NHẤT ?
Một phát súng được bắn ra rất gần tai, tiếng nổ của một trái bom..Bấy nhiêu sự bùng nổ, khi vượt quá 115 décibels, có thể làm điếc một phần, thậm chí vĩnh viễn.Bởi vì những mức âm thanh như thế phá hủy một cách không đảo ngược những tế bào tiêm mao liên quan trong thính giác. Trong trường hợp một tiếng nổ, làn sóng sốc có thể tạo một áp lực lên màng mảnh của thùng nhĩ, khi đó có thể vỡ. Ngoài đau, có một màng nhĩ vỡ cũng có thể gây nên một giảm thính giác tạm thời, thời gian cần thiết để màng nhĩ tái tạo (trong hai đến ba tháng). Những tiếp xúc thường xuyên và lập lại với vài mức âm thanh cũng đe dọa thính giác, đôi khi dẫn đến điếc. Trên thực tế, mỗi cá nhân sở hữu một “vốn âm thanh” của riêng mình, gồm có những tế bào tiêm mao và những tế bào thần kinh…không có khả năng đổi mới. Thế mà, từ 80 db, cường độ và thời gian của những tổn hại âm thanh mà nạn nhân chịu, bắt đầu gây tổn hại chúng và những triệu chúng xuất hiện : bít tai (oreilles bouchées), ù tai (bourdonnements) và tai rít (sifflements).
NGƯỠNG 85 DECIBELS.
Hiện tượng là hoàn toàn thuần sinh học : bị kích thích bởi những âm thanh mạnh này, những tế bào tiêm mao của tai trong phóng thích thặng dư một chất dẫn truyền thần kinh, glutamate. Chất này trở nên độc đối với những tế bào thần kinh của dây thần kinh thính giác mà nó gắn vào. Bị hao mòn, bị nhiễm độc, những tế bào tiêm mao và những neurone chết, gây nên một presbyacousie sớm. Để phòng ngừa những tổn hại này, luật pháp lao động đã ấn định những ngưỡng chịu đựng (seuil de tolérance) : vượt quá 85 dB (một xe tải chạy với vận tốc 50 km/giờ), một sự tiếp xúc hơn 8 giờ cần một bảo vệ ; vượt qua 90 dB (âm thanh của một máy khoang), tốt nhất là nên hạn chế sự tiếp xúc xuống 2 giờ, và vượt quá 100 dB (tiếng động của một marteau-piqueur), ngưỡng được ấn định ở mức 15 phút. Vượt quá 115 dB (tiếng nổ, phi cơ cất cánh), những tổn hại có thể không đảo ngược được khi chúng được nghe không bảo vệ. Với chứng thực này, hiện nay nước Pháp dự kiến hạ xuống những ngưỡng của các baladeur (hiện nay 100 dB à plein volume) cũng như những ngưỡng của những buổi hòa nhạc và của những hộp đêm, ở đó mức âm thanh được ấn định ở mức 105 dB…Bởi vì trải qua hơn 10 phút ở discothèque hay nghe baladeur à pleine puissante trong 5 phút sẽ làm hại nghiêm trọng tai của mình : vào năm 2014, gần 10% những người dưới 25 tuổi bị mất thính giác, theo Viện quốc gia phòng ngừa và giáo dục sức khỏe.
(SCIENCES ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. ETE 2015)

8/ ĐIẾC : TỪ ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN ĐẾN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Professeur Bernard Fraysse
Chef du service ORL
CHU de Toulouse

Điếc là một trong những bệnh lý của chuyên khoa TMH, đã kinh qua nhiều tiến bộ và đảo lộn trong những năm qua, trên bình diện xã hội nhưng cũng trên bình diện y khoa và kinh tế. Trên bình diện xã hội, những vấn đề đặt ra dĩ nhiên khác hẳn nhau ở hai thái cực của cuộc sống. Được thiết đặt năm 2014, điều tra phát hiện hệ thống (dépistage systématique) của chứng điếc trong những nhà hộ sinh ở Pháp đã góp phần vào những bước tiến thật sự và nhất là đạt một tỷ lệ phát hiện 99%. Dépistage généralisé này đã cho phép giải quyết một sự không đồng nhất nào đó giữa những nhà hộ sinh lớn và nhỏ ; một điểm rất dương tính bởi vì từ nay người ta đã chứng minh rằng sự điều trị những giảm sút thính giác càng sớm, những cơ may bù và phục hồi càng tốt hơn.Có một giai đoạn quyết định vào khoảng năm 3 hay 4 tuổi, khi đó sự vắng mặt của kích thích giác quan thính giác (stimulation sensorielle auditive), sự phát triển một ngôn ngữ bình thường sẽ bị phương hại. Số những gia đình từ chối điều tra phát hiện hôm nay rất thấp và ý chí duy trì ngôn ngữ dấu hiệu (langage signé) đối với những gia đình mong muốn nó được tôn trọng. Vậy đó là chuyển qua giai đoạn tiếp theo và xác nhận rằng một chẩn đoán rồi sự tìm kiếm một căn nguyên, nghĩa là nguyên nhân, di truyền, nhiễm trùng hay khác, của một mất thính giác, sau đó dẫn đến một điều trị thích ứng. Một sự đánh giá tính hiệu quả của dépistage đang được tiến hành, được tổ chức bởi Santé Publique, cộng tác với những cơ quan y te khu vực, cho thấy một tính toàn bộ về mọi mặt, nghĩa là một sự triển khai hiệu quả trong những maternité khác nhau. Bên cạnh dữ kiện này, một protocole de recherche về tính thích đáng của dépistage về mặt xử trí các trẻ em được chẩn đoán đã được đề nghị cho cơ qua Hành động vì thính giác.Ở cực kia của đời sống, ở những người già, những dữ kiện ngày càng vững chắc cho thấy rằng điếc có một tác động trực tiếp lên sự sa sút trí tuệ, tỷ lệ với mức mất thính giác.
NHỮNG KÍCH THÍCH ĐIỆN
Nhiều lý do cho điều đó, đặc biệt sự kiện là sự mất thính giác trước hết gây nên một sự cô lập, rồi một loại “déstockage” của trí nhớ bởi vì người bệnh sẽ sử dụng trí nhớ của mình để bù sự thiếu hụt. Vậy điều cũng quan trọng là thiết đặt một điều tra phát hiện những thiếu sót này bắt đầu từ một lứa tuổi nào đó. Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng ngay khi mất 30 db, khi có rối loạn hiểu hãy dễ hiểu (trouble de la compréhension et de l’intelligibilité), nhất là trong tiếng ồn, đó là lúc cần thực hiện một đánh giá và thử prothèse. Hôm nay, trên 100 bệnh nhân cần phải có một phục hồi chức năng thính giác (réhabilitation auditive), chỉ có 2/3 bệnh nhân đi khám thầy thuốc và 50 bệnh nhân ra khỏi phòng mạch với một toa thuốc, trong đó cuối cùng chỉ có 33 bệnh nhân được trang bị prothèse. Vậy có một vấn đề ở 3 mức : thông tin, phát hiện và khả năng tài chánh.Vậy cần suy nghĩ về một dự luật để điều tra phát hiện hệ thống chứng điếc kể từ 65 tuổi bởi những thầy thuốc đa khoa (đơn giản bằng cách thực hiện qua những bảng câu hỏi).
Trên bình diện y khoa và kỹ thuật, những giải pháp được đề nghị để điều trị chứng điếc đã nhận được nhiều tiến bộ. Các implant cocléaire đã có một góp phần quan trọng. Đó là những thiết bị y khoa cho những trường hợp điếc nặng, hoàn toàn và ở hai bên. Những thiết bị này biến đổi những âm thanh thành những kích thích điện được gởi đến dây thần kinh thính giác. Từ nay những chỉ định mới liên quan đến những chứng điếc nặng, nghĩa là những trường hợp trong đó, mặc dầu mang prothèse, tính dễ hiểu và hay sự hiểu trong tiếng ồn vẫn dưới 50% ở mức 60 dB (hoặc một chữ trên hai được hiểu khi nói to trong im lặng).
Một chương trình nghiên cứu y khoa-kinh tế vừa được phát động để nghiên cứu tính thích đáng của những implant như thế trong những điếc hoàn toàn một bên, liên kết với những acouphènes invalidants. Hai mươi năm qua đã chứng kiến những tiến bộ quan trọng trong sự chế tạo những implant này, về mặt tiểu hình hóa (miniaturisation), về xử lý tín hiệu, giúp một sự tách rời tốt hơn lời nói trong một môi trường ồn ào, về kích thước của các điện cực, cho phép bảo tồn thính giác còn sót lại và sau cùng trong tất cả những kỹ thuật nối kết máy với môi trường bên ngoài.
Những kỹ thuật implant khác trong tài giữa, cho phép đặt một máy khuếch đại trên chaine ossiculaire (những xương nhỏ của xương thái dương), được chỉ định ở những bệnh nhân không thể được trang bị prothèse vì những lý do cơ học. Sau cùng, một kỹ thuật cải tiến có những kết quả rất đáng quan tâm : tiêm vào thùng nhĩ (injection intratympanique). Ta có thể kể 3 thí dụ : các corticoides có thể được tiêm trong trường hợp điếc đột ngột ; cho kháng sinh gentamicine trong bệnh Ménière tiến triển, bệnh lý gây chóng mặt cấp tính, ù tai ; hay trong giai đoạn nghiên cứu trong những chỉ định đặc hiệu, anti-TNF và anti-NMDA (récepteur du glutamate).
(LE FIGARO 10/4/2017)

9/ NHỮNG IMPLANT COCLEAIRE NGÀY CÀNG HOÀN THIỆN
Những thiết bị này thay thế ốc tai, một cơ quan nhỏ của tai, để truyền âm thanh đến dây thần kinh thính giác. Chúng được dành cho những bệnh nhân bị điếc nặng hai bên.Máy điện tử nhỏ này đã cách mạng hóa cuộc sống hàng ngày của những người bị điếc, đã có thể được trang bị, hoặc gần 350.000 bệnh nhân trên thế giới. Mục tiêu của implant cochléaire : thay thế ốc tai bệnh, cấu trúc nhỏ nằm sâu trong taí trong, có hình dáng vỏ ốc sên, không truyền âm thanh đến dây thần kinh thính giác nữa. Ở Pháp, người ta ước tính 1500 implant được đặt mỗi năm, trong đó 1/3 ở những trẻ sinh ra điếc hay trở nên điếc, nhất là sau một bệnh bẩm sinh tiến triển. Để được hưởng điều đó, các bệnh nhân phải bị điếc nặng hai bên và đã không có một cải thiện nào mặc dầu những hệ thống trợ thính hiệu năng nhất. ” Can thiệp này được dành cho những thương tổn sâu không cho phép thu đắc ngôn ngữ ở trẻ em hay duy trì một sự trao đổi ở một người trẻ hay một người trưởng thành trở nên điếc “, GS Marc Labrousse, trưởng khoa tai mũi họng của CHU de Reims (Marne), một trung tâm quy chiếu trong điều trị phế tật thính giác.
NHỮNG MÔ HÌNH TIỂU HÌNH HÓA CÓ HIỆU NĂNG GIA TĂNG
Ngoài ra équipe của ông là một trong những équipe đầu tiên đã đưa vào Pháp sự điều tra phát hiện hệ thống những rối loạn lúc sinh này. Được phổ biến toàn nước Pháp năm 2012, sự đo đã cho phép tự do phát hiện khoảng 800 den 1000 trẻ em điếc mỗi năm. Trung bình, ta ước tính rằng implant có thể được đề nghị khi sự phân biệt lời nói, được đo bằng những trắc nghiệm audiométrie vocale, dưới 50% trong một môi trường 60 décibels, hoặc tiếng ồn sinh ra bởi một cuộc đối thoại. Với một mệnh lệnh, ” thực hiện sự đặt càng sớm càng tốt, trước 2 tuổi, luôn luôn được sắp xếp với gia đình và một kíp đa nghành “, Marc Labrousse đã nhấn mạnh như vậy. Một can thiệp với phí tổn trung bình là 30.000 euros (đặt, điều chỉnh, nhập viện…), được bồi hoàn toàn bộ bởi bảo hiểm xã hội ngoài 300 euros mỗi năm mà bệnh nhân phải đài thọ (assurance).
Trong khi những modèle đầu tiên giống với những baladeur to tướng với boitier mang ở thắt lưng, những implant hiện nay được tiểu hình hóa và hiệu năng của chúng không ngừng được cải thiện.Hôm nay hàng chục modèle có sẵn để dùng. Tất cả phát xuất từ 4 nhà chế tạo Hoa Kỳ (Advanced Bionics-Sonova), Úc (Cochlear) và châu Âu (Med-El, Neurelec-Oticon Medical), không kể những thiết bị có giá thấp mới đây phát xuất từ Trung Quốc và Ấn độ. Trong tất cả các trường hợp, nguyên tắc đều như nhau : tránh sự loạn năng của ốc tai bằng cách biến đổi một cách nhân tạo tín hiệu thính giác cơ học thành tín hiệu điện. Như thế trong một môi trường ít ồn ào, có thể phân biện một cách chính xác lời nói và những âm thanh. Nhờ suivi orthophonique và nhờ sự ủng hộ gia đình, những kết quả có sức thuyết phục : đối với 50% trẻ em được trang bị, sự giảng dạy có thể diễn ra, với sự giúp đỡ hay không, trong môi trường học đường bình thường, 70% thụ đắc ngôn ngữ. Đối với những người trưởng thành, những hiệu năng thính giác được cải thiện, như chất lượng sống.Tuy vậy,” implant không phải là oreille magique hoàn hảo ! “, Marc Labrousse đã cảnh cáo như vậy. Thật vậy sự tri giác âm thanh được thực hiện không chính xác hơn ngay khi có nhiều nguồn âm thanh. Lý do này khiến cho những nhà chế tạo và những nhà nghiên cứu không ngừng mang lại những cải thiện cho những mô hình hiện có.
” Những implant của ngày mai sẽ không thể thấy và sẽ hoạt động với ánh sáng “, GS Jean-Luc Puel, giám đốc của Unité Inserm 105 ở đại học Montpellier đã lấy làm phấn khởi. Những hướng nghiên cứu khác đang được khảo sát. Nhà khoa học như thế hy vọng rằng những thứ nghiệm lâm sàng sẽ được phát động từ nay đến 2019. Những thử nghiệm này sẽ kết hợp với các implant sự khuếch tán tại chỗ của những loại thuốc có khả năng hạn chế phản ứng viêm phản ứng với sự đặt implant. Một partenariat vừa được ký kết theo chiều hướng này giữa société française de biotechnologie Sensorion và nhà chế tạo Úc Cochler.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2018)

10/ ÁNH SÁNG ĐỂ NGHE TỐT HƠN
OPTOGENETIQUE. Nhiều nhà nghiên cứu dựa vào optogénétique (kỹ thuật nhằm biến đổi những neurone, ở đây là những neurone thính giác) nhằm làm cho chúng nhạy cảm với ánh sáng để có thể kích thích chúng một cách đặc hiệu. ” Hôm nay chúng ta biết rõ mã hóa cường độ của tín hiệu âm thanh nhưng ít rõ hơn nhiều chất lượng của nó. Với ánh sáng, có thể kích thích nhiều neurone hơn, điều này tương đương nhân gấp mười số điện cực để cải thiện thính giác “, GS Labrousse đã tóm tắt như vậy. Sự chứng minh tính khả thi đã được mang lại bởi những thử nghiệm ở những động vật gặm nhấm và nhiều kíp hy vọng thực hiện chúng ở người từ nay đến 5 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/4/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s