Thời sự y học số 467 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG THƯƠNG TỒN Ở MẮT : THƯỜNG NGHIÊM TRỌNG HƠN ĐIỀU MÀ TA TƯỞNG.
Những chấn thương mắt thường có thể tránh được với vài thận trọng.OPHTALMOLOGIE. ” Tất cả chúng ta có kinh nghiệm khi trực garde de fêtes cuối năm, tiếp nhận những nạn nhân bị đụng dập mắt đôi khi rất nghiêm trọng, với những mắt bị hỏng vì những bouchon de champagne.” Đối với GS Antoine Brézin, thầy thuốc nhãn khoa (bệnh viện Cochin, Paris), một quy tắc đơn giản để tránh tai nạn : ” Không bao giờ mở một chai champagne khi hướng nó về một người nào đó và không bao giờ nhìn nút chai khi ta mở một chai ! ”
” Trong số 120.000 trường hợp mỗi năm, được tiếp nhận trong 3 trung tâm cấp cứu nhãn khoa Paris (les Quinze-Vingts, Fondation Rothschild và OphtalmoPole de l’AP-HP ở Cochin), 16% là những cấp cứu chấn thương, GS Jean-Louis Bourges, thầy thuốc nhãn khoa (bệnh viện Cochin), tác giả của một báo cáo sắp đến về những cấp cứu nhãn khoa, đã xác nhận như vậy. Hoặc 20.000 nạn nhân. Ở Pháp, những cấp cứu nhãn khoa chiếm 3% của tất cả những cấp cứu, và mỗi năm, 6,5% dân chúng đến khám vì một cấp cứu mắt.”
Trong số 300.000 trường hợp được thấy ở cấp cứu nhãn khoa, một trên sáu đến vì một chấn thương. ” Những người từ 35-45 tuổi, nạn nhân của những tai nạn khi làm những công việc vặt ở nhà (accidents de bricolage), thể thao hay nghề nghiệp, những phụ nữ già té ngã và những trẻ em trước 5 năm là bị ảnh hưởng nhất “, thầy thuốc đã chỉ rõ như vậy.Những đụng dập của nhãn cầu, không vết thương, là thường gặp nhất. Nhưng không luôn luôn ít nghiêm trọng nhất.” Bouchon de champagne hay balle de squash có thể rất phá hủy : năng lượng của va chạm, được truyền đến tận phía sau của mắt qua thành của nó, củng mạc (sclère), gây một phù nề có thể làm ngưng sự tiếp máu của điểm vàng (macula), vùng quan trọng của võng mạc hay của dây thần kinh thị giác. Ngay cả tạm thời, nó có thể gây những thương tổn nghiêm trọng của các trung tâm thị giác, với một con mắt nguyên vẹn về mặt cơ thể học nhưng không còn hoạt động nữa. Để làm giảm những hậu quả, bệnh nhân được nhập viện cấp cứu này và được điều trị bằng corticoides tiêm tĩnh mạch với liều mạnh. Nhưng những cơ may phục hồi bị hạn chế và những di chứng thường vĩnh viễn “, GS Louis Hoffart, thầy thuốc nhãn khoa thuộc bệnh viện Timone (Marseille) đã giải thích như vậy.
” Dầu là do một tai nạn hay một hành hung vật lý, mọi đụng dập đáng kể đáng được một ý kiến y khoa. Ngay khi có một dấu hiệu nghiêm trọng (mắt đỏ, đau, giảm thị lực, nhìn thấy đôi hay những bất thường trong thị trường), phải đi khám cấp cứu một thầy thuốc nhãn khoa “, GS Bourges đã nhấn mạnh như vậy. Mặc dầu không có những tổn hại rõ ràng, một thăm khám nhãn khoa với một dụng cụ thích đáng được ưa thích hơn để kiểm tra tất cả các cấu trúc và đáy mắt, đồng thời những ngày hôm sau chuyển bệnh nhân để theo dõi tiến triển.
Trong trường hợp chất hóa học bắn vào mắt, dầu đó là nước Javel, acide, soude, vôi, béton trên một công trường, một phản xạ duy nhất : tưới rửa tức thời mắt với nước của robinet, ít nhất 1/4 giờ, rồi đi khám cấp cứu tức thời.
Cành cây đụng vào trong mắt, cú móng tay của em bé, sỏi hay côn trùng cắm vào bề mặt của giác mạc cực kỳ gây đau, bởi vì giác mạc này được phân bố thần kinh 300 lần nhiều hơn da, và những người này sẽ đến khám một cách nhanh chóng nếu đau vẫn tồn tại. Nguy cơ đầu tiên của một vết thương ở mắt, ngay cả nông, đó là nhiễm trùng. Trong trường hợp vỡ, nhiễm trùng trong nhãn cầu, cực nặng, có thể làm hỏng mắt. Vậy kháng sinh phải cho một cách hệ thống.
Cũng vậy, người hý hoáy những công việc vặt ở nhà (bricoleur) hay người thợ bị một mảnh kim loại phóng vào mắt vì không mang kính bảo vệ phải tức thời đến khoa cấp cứu. ” Nhưng một vết thương ở mắt không nhất thiết gây đau, và một vết thương đau nhất không nhất thiết là nghiêm trọng nhất. Một mảnh rất nhỏ có thể gần như không được nhận thấy nếu nó đi vào trong mắt với tốc độ rất cao và gây thiệt hại lớn lên thủy tinh thể, mống mắt, vitré hay võng mạc, tức thời hay xa tai nạn, GS Eric Tuil, thầy thuốc nhãn khoa (hôpital des Quinze-Vights, Paris), đã giải thích như vậy. Vậy quy tắc tuyệt đối, đó là luôn luôn tìm kiếm sự hiện diện của một vật lạ, bằng X quang hay scanner. Vì lẽ một mảnh sắt hay đồng, nếu không được chú ý đến, sẽ phóng thích các muối độc, có thể gây hỏng mắt.”
Quy tắc tuyệt đối khác : không bao giờ được đụng một vết thương của mắt cũng như cố lấy một vật lạ. ” Phải đặt một pansement mà không được ấn lên một tí nào, và đi ngay đến khoa cấp cứu. Những người cứu đặt một vỏ cứng (coque) trên mắt để bảo vệ nó, hay nếu thiếu, đáy của một gobelet coupé “, BS Tuil đã nhấn mạnh như vậy. Vậy cấp cứu đối với thầy thuốc nhãn khoa, đó là đóng nhãn cầu càng nhanh càng tốt, lấy vật lạ đi hay không, tùy theo thành phần, kích thước và định vị của nó, và thực hiện một bilan hoàn chỉnh, dù phải mổ lại sau này.
Nhưng sự phòng ngừa, nhất là, phải được cải thiện. Cần thiết phải mang những kính bảo hộ đối với những môn thể thao như squash, những công trình hay công việc vặt nguy hiểm ở nhà phải được nhắc lại một cách hệ thống trong những cơ sở liên hệ và những cửa hàng bán đồ lặt vặt trong nhà.
(LE FIGARO 8/1/2018)

2/ CHẤN THƯƠNG MẮT : TẤT CẢ CÓ THỂ SỬA CHỮA ĐƯỢC…HAY HẦU NHƯ VẬY
Vài thương tổn của mắt như đụng dập nhẹ sẽ tự chữa lành một cách ngẫu nhiên. Nhưng bilan nhãn khoa của một chấn thương mắt phải luôn luôn hoàn chỉnh và chính xác, phải tìm kiếm một thương tổn của giác mạc, của mống mắt, của thủy tinh thể, của góc mống mắt-giác mạc (angle irido-cornéen), của vitré, của võng mạc…” Mỗi trong những cấu truc này có thể đã bị hỏng do onde de choc của đụng dập hay bởi chấn thương do vật lạ đã đi xuyên qua nó. Sau đó, tất cả có thể sửa chữa được hay gần như vậy, có để lại những di chứng. Để không có những di chứng, vết thương không được xuất hiện trên trục quang học (axe optique), sẹo không được ở trong trục này “, GS Brézin đã giải thích như vậy.
Sau một đụng dập, một xuất huyết nhỏ có thể xuất hiện, tạo thành một mức máu nhỏ ở đáy của mống mắt. Đó là một xuất huyết tiền phòng (hyphéma), chữa lành một cách ngẫu nhiên với nghỉ ngơi và một collyre chống viêm, nhưng phải theo dõi. Nếu đụng dập này bị kèm theo bởi một bong võng mạc, phải can thiệp ngoại khoa để dán lại nó.Nhưng, GS Hoffart nhấn mạnh, ” nếu đụng dập mạnh và kèm theo một hoại tử hay một thiếu máu cục bộ của võng mạc, tiên lượng là khá u tối và những cơ mày phục hồi bị giới hạn. Võng mạc là một xuất phát của não, vậy nếu nó chịu một chấn thương mạch máu, đó cũng như một tai biến mạch máu não : những khả năng can thiệp sau đó bị giới hạn “.
NHỮNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT ĐÁNG KỂ
Những vết thương nhỏ rất nông, chỉ chạm biểu mô, lớp nông của giác mạc, tự sửa chữa một cách ngẫu nhiên trong 24 đến 48 giờ, nhưng phải chăm chú theo dõi nguy cơ nhiễm trùng. Ngay khi vết thương thấu đến những lớp sâu hơn của giác mạc, nó có thể để lại một vết sẹo, một biến dạng hay cả hai. Khi đó phải mổ. ” Vì một vết sẹo trên võng mạc có thể kèm theo một sự mất thị giác, nên một ghép giác mạc có thể sẽ cần thiết. Cũng vậy, mọi thương tổn của thủy tinh thể sẽ để lại một vết sẹo, như một đục thủy tinh thể (cataracte), và đôi khi tốt hơn là thay thế nó một cách trực tiếp bằng một implant “, BS Tuil đã xác nhận như vậy. Nhưng không một implant nào sẽ mang lại sự thoải mái của thị giác tự nhiên.
Vài động tác ngoại khoa cũng được thực hiện về sau. Như thế, một thương tổn của mống mắt không bao giờ được điều trị cấp cứu. ” Đó là một phẫu thuật trình độ cao, rất khó, mà ít thầy thuốc ngoại khoa biết làm. Vậy phẫu thuật này được thực hiện ở thì hai “, GS Brézin đã giải thích như vậy.
Chấn thương mắt, cũng như mọi ngoại khoa của mắt, đã có những tiến bộ kỹ thuật quan trọng. ” Nếu cách nay 30 năm phải mở 1/2 nhãn cầu, vitréotome hiện nay cho phép chúng ta can thiệp bằng vi phẫu thuật trong mắt với những mặt cắt 1/2 mm, ít gây chấn thương hơn nhiều, với một tiên lượng tốt hơn “, GS Bourges đã nhấn mạnh như vậy. Những tiến bộ vẫn còn cần thiết trong điều trị khó khăn những thương tổn của các cấu trúc bao quanh mắt, appareil lacrymal, đặc biệt các cơ hốc mắt và vỡ ổ mắt.
(LE FIGARO 8/1/2018)

3/ NHỮNG HẬU QUẢ CÓ THỂ BIỂU HIỆN TRONG THỜI GIAN DÀI HẠN
” Điều phức tạp trong chấn thương học của nhãn cầu, đó là những hậu quả trong thời gian dài hạn. Mot người nào đó, đã tung nhận một balle de tennis trong mắt lúc 9 tuổi, có thể phát triển một bong võng mạc những năm sau này, bởi vì dịch kính (vitré) của mắt đă bị rung chuyển, bởi vì đă xảy ra những sức kéo trên vitré, hoàng điểm (macula), điều này đă tạo một thể địa thuận lợi cho bong vơng mạc. Hay bị một đục thủy tinh thể (cataracte) sau chấn thương bởi vì thủy tinh thể đã bị làm cho yếu đi. Trước một bong võng mạc hay một đục thủy tinh thể một bên ở một người từ 40-45 tuổi, chúng ta phải luôn luôn tìm kiếm một tiền sử chấn thương mắt “, GS Brézin đã giải thích như vậy.
Hậu quả khả dĩ khác, sự xuất hiện của một glaucome thứ phát một chấn thương. ” Nếu góc mống mắt-giác mạc (angle irido-cornéen) bị hỏng và nếu thương tổn này đã không được phát hiện vào lúc chấn thương, sự chảy của thủy dịch (humeur aqueuse) của mắt có thể bị xáo trộn, gây nên một áp lực nội nhãn đáng kể trong một mắt, với một nguy cơ mất thị giác. Vậy phải luôn luôn kiểm tra áp lực nhãn cầu (tension oculaire) một đến ba tháng sau một chấn thương.” Một xuất huyết kém tiêu đi trong phần trước của mắt có thể có cùng hậu quả.
NHỮNG THƯƠNG TỔN THOÁI HÓA
Một vật lạ kim loại, ngay cả bé nhỏ, nếu bị để lại tại chỗ, cũng có thể có những hậu quả nguy kịch về sau. Như thế, sắt khi thoái biến phóng thích những muối độc, dần dần sẽ khuếch tán trong tất cả mắt, gây những thương tổn thoái hóa trong tất cả những cấu trúc của mắt. Sự nhiễm sắt (sidérose) một khi thành hình là không đảo ngược được và có thể là nguồn gốc của một glaucome. Một mảnh đồng có thể có cùng hậu quả, khi đó ta nói sự nhiễm đồng (chalcose). Nhưng đôi khi, vài vật liệu trơ (thủy tinh) bị de lai tại chỗ và chỉ đuoc lấy đi về sau.
Hậu quả khác, tổn hại thị giác của một vết thương mắt có thể kèm theo một tổn hại cho sự thoải mái và một thiệt hại thẩm mỹ mà cần phải hạn chế.” Nếu ta có thể bảo tồn củng mạc (sclère), mặc dầu hỏng mắt, kết quả của prothèse sẽ tốt hơn bởi vì ta sẽ gìn giữ tính song song của các con mắt “, GS Bourges đã xác nhận như vậy.
(LE FIGARO 8/1/2018)

4/ MỘT PHẢN ỨNG KHÔNG DỄ CẢM
Khi con mắt không thể sửa chữa được, đôi khi phải cấp cứu lấy nó đi. ” Một vết thương rất hủy hoại của mắt có thể bộc lộ ra ngoài vài cấu trúc của mắt, bình thường encapsulé và đã không bao giờ tiếp xúc với hệ miễn dịch của chính người bị thương. Trong trường hợp vỡ mắt, chúng có thể đến tiếp xúc với máu, và cơ quan phòng vệ miễn dịch của bệnh nhân sẽ nhận biết chúng như là vật lạ và tấn công chúng. Phản ứng thải bỏ (réaction de rejet) này cũng có thể được hướng chống lại mắt lành ở phía kia, và đôi khi được phát khởi những năm sau. Đó là điều mà ta gọi là một ophtalmie sympathique. Vậy dể phòng ngừa nó, trong vài trường hợp cần thực hiện khoét bỏ nhãn cầu bị thương để gìn giữ mắt lành. Chính ở đó mà oculariste, chuyên gia về prothèse mắt, sẽ can thiệp. Có nhiều loại, trên một mắt khó coi hay để thay thế cho cho một nhãn cầu, trong đó vài prothèse di động.Chủ yếu chúng được cấu tạo bằng thủy tinh và được thực hiện để không có thể phân biệt với mắt kia.”
(LE FIGARO 8/1/2018)

5/ MẮT CÁ CỨU VÕNG MẠC CỦA CHÚNG TA
OPHTALMOLOGIE. Nếu chúng ta là những con cá và nếu võng mạc của chúng ta bị thương tổn, chúng ta sẽ không phải lo lắng : trong vài tuần, võng mạc của chúng ta sẽ như mới. Làm sao không quan tâm bởi năng lực tái sinh diệu kỳ này ? Chính vì điều đó mà nhiều phòng thí nghiệm trên thế giới nghiên cứu sinh vật có vây (organisme à nageoire modèle), cá vằn (poisson zèbre). Một kíp những nhà sinh học của Đại học Vanderbilt xác nhận đã nhận diện tín hiệu làm phát khởi sự tái sinh này. Và họ cho là có thể gây nên cùng tiến trình tự sửa chữa (processus d’autoréparation) trong một con mắt người trong trường hợp bị những bệnh thoái hóa (DMLA, viêm võng mạc sắc tố…) hay những vết thương (các công trình được công bố trong tạp chí Stem Cell Reports).
Cấu trúc của võng mạc của các con cá và cấu trúc của con người rất giống nhau. Rất mảnh, dưới 0,5 mm bề dày, các võng mạc được cấu tạo bởi 3 lớp tế bào thần kinh : những tế bào cảm thụ ánh sáng (cellules photoréceptrices) phát hiện ánh sáng ; những tế bào nằm ngang hội nhập những tín hiệu được gởi bởi những tế bào cảm thụ ánh sáng ; sau cùng những tế bào hạch (cellules ganglionnaires) sẽ gởi những thông tin thị giác lên não.
Các võng mạc có một loại tế bào thứ tư được gọi là Muller. Đó là những tế bào đệm (cellules gliales), nghĩa là đảm bảo sự sự cố kết cơ học của cơ quan và sự cách dien của nó. Chúng dường như đóng một vai trò trong sự tái sinh. Khi quá trình tái sinh được phát động, những tế bào Muller mất năng lực biệt hóa, nghĩa là trở nên không chuyên môn hóa, rồi tăng sinh và biến hóa thành những tế bào thần kinh để thay thế những tế bào đã bị tổn hại. Những tế bào Muller cũng hiện diện ở người nhưng không chứng tỏ năng lực biệt hóa này.
Các nhà nghiên cứu đã có thể cho thấy rằng một chất dẫn truyền thần kinh, GABA (gamma butyric amino acid), một chất ức chế của hệ thần kinh trung ương có liên hệ trong sự phát khởi của sự biến hóa của những tế bào Muller. Một con cá vẫn có thể làm lại cho mình một võng mạc trong 28 ngày ; ngoại trừ, nếu, như những nhà nghiên cứu đã làm, ta tiêm vào cho nó những sản phẩm dẫn đến những nồng độ cao GAMA trong mắt. Trái lại, nếu ta tiêm một enzyme lấy đi GAMA, những tế bào Muller mất năng lực biệt hóa và sự tái sinh và chuỗi sản xuất những yếu tố tăng trưởng khác nhau, bắt đầu.
(LE FIGARO 13/3/2017)</p

6/ MỘT CON MẤT BƯỚM CHO NHÀ PHẪU THUẬT
IMAGERIE. Ta biết đánh dấu một cách đặc hiệu những tế bào ung thư với một phân tử huỳnh quang nhưng những tế bào lành mạnh không bị nhuộm màu. Hiện tượng huỳnh quang này có thể thấy rõ trong tỉa hồng ngoại (infrarouge) hay tia tử ngoại (ultraviolet). Điều đó cho phép phân biệt những tế bào bệnh với những tế bào khác. Các nhà nghiên cứu của đại học Illinois, ở Urbana Champaign, giải thích trong tạp chí Optica, làm sao họ đă hiệu chính một caméra nhỏ cho phép đặt chồng lên nhau một hình ảnh được nhuộm màu “bình thường” và cùng hình ảnh với tia hồng ngoại, dựa trên cấu trúc của mắt bướm Morpho. Con bướm này có những cấu trúc nano, cho phép chúng thấy đồng thời các màu và tia hồng ngoại. ” Những con mắt phức hợp của chúng, có những cảm thụ ánh sáng đối với nhiều độ dài sóng, trong đó có tia hồng ngoại, nằm rất gần nhau, Missael Garcia, người tham gia công trình này đã giải thích như vậy. Như thế chúng có một thị giác nhiều quang phổ (vision multispectrale).”
Đó là điều mà các nhà nghiên cứu này đã chế tạo bằng cách trộn lẫn những cơ quan cảm thụ ánh sáng khác nhau trong cùng một thiết bị có échelle nanoscopique. Họ đánh giá rằng máy của họ có nhiều lợi điểm. ” Đó là một thiết bị nhỏ, cô đặc (compact) và rẻ tiền khoảng 20 dollars. Như thế appareil d’imagerie này có thể được sử dụng bởi bất cứ nhà ngoại khoa nào trong bất cứ bệnh viện nào.”
Caméra đã được trắc nghiệm thành công trên những con chuột modèle của ung thư vú, và trên 11 bệnh nhân của Washington University de Saint Louis để tìm kiếm những di căn trong hệ hạch bạch huyết. Những trắc nghiệm tiền lâm sàng đã cho thấy rằng những hình ảnh có được như thế là chính xác, rõ ràng, ngay cả với những lunettes vives của một phòng mổ.” Trong một can thiệp ngoại khoa thuộc loại này, nhất thiết rằng tất cả mô ung thư phải được lấy đi, Viktor Gruev đã nhấn mạnh như thế. Thiết bị này, cặp với những lunettes chirurgicales hẳn sẽ hữu ích đối với các thầy thuốc ngoại khoa ” Ưu điểm khác của hệ thống, những hình ảnh của huỳnh quang có thể chống lên những hình ảnh bình thường, điều này không phải như vậy trong những thiết bị khác cùng loại.
(LE FIGARO 9/4/2018)

7/ SỐT RÉT : NHỮNG TIẾN BỘ, NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC MẤT CẢNH GIÁC.
Ký sinh trùng và vecteur của nó đặc biệt có tài để tìm những cách tránh đỡ đối với những chiến lược chống bệnh sốt rét đã được thiết đặt.
INFECTIOLOGUE. Từ năm 2000, tỷ lệ tử vong do bệnh sốt rét đã sụt giảm 60%, ” điều này được thể hiện bởi 6,2 triệu mạng người được tha miễn, phần lớn là các trẻ em “, OMS và Unicef đã nhấn mạnh như thế vào tháng 9 năm 2016 trong một báo cáo chung. Những kết quả thu được nhờ một cố gắng quốc tế không tiền khoáng hậu đã cho phép phổ biến những phương tiện phòng ngừa và những điều trị trong các nước có liên hệ bởi bệnh sốt rét : những trắc nghiệm phát hiện, các loại mùng ngấm những thuốc diệt ký sinh trùng, điều trị với artémisinine…
Tuy nhiên sự thành công không tiền khoáng hậu này chống lại một ký sinh trùng đe dọa 3, 3 tỷ người trên Trái đất rất là mỏng manh. ” Hôm nay, chúng ta khó đi xuống dưới ngưỡng 500.000 tử vong mỗi năm “, Robert Ménard, giám đốc nghiên cứu ở Viện Pasteur, nhân Journée mondiale contre le paludisme, đã nhấn mạnh như vậy. Tại sao ? Bởi vì ký sinh trùng gây bệnh là đặc biệt quỷ quyệt. Cũng như con muỗi truyền nó. Trong cuộc chiến giữa thanh gươm và cái khiêng (la lutte entre glaive và bouclier), không bao giờ thu được gì.
Bệnh sốt rét được gây nên bởi những ký sinh trùng thuộc loại Plasmodium falciparum, thường gặp nhất và gây tử vong nhất, có khả năng phát triển những đề kháng với những điều trị. ” Ký sinh trùng không những thích nghi và trở nên đề kháng, mà còn có một đề kháng bị gây nên : Plasmodium đề kháng được chọn lọc bởi chính thuốc điều trị. Điều đó có nghĩa rằng khi anh cho thuốc chống sốt rét, chỉ còn lại những ký sinh trùng đề kháng “, Philippe Deloron, giám đốc của UMR216-MERIT, thuộc viện nghiên cứu và phát triển, đã giải thích như vậy.
Đó cũng là cơ chế đối với đề kháng kháng sinh (antibiorésistance) : áp lực thuốc càng cao thì sự đề kháng được chọn lọc càng nhanh. Từ một chục năm nay, artémisinine, thuốc được trích ra từ một loại cây, Artemisia annua, khi kết hợp với những thuốc chống sốt rét khác, đã trở nên điều trị quy chiếu chống lại Palsmodium falciparum. Loại thuốc này, đã khiến cho giáo sư Youyou Tu, người đã phân lập nó, được giải thưởng Nobel, đã phế truất quinine và những thuốc chống sốt rét khác ít hiệu quả hơn. Thế mà từ ít lâu nay, những trường hợp đề kháng đầu tiên với loại thuốc này đã xuất hiện ở châu Á. Nhưng người ta thật sự không biết tại sao, những đề kháng với các thuốc chống sốt rét đã luôn luôn xuất hiện ở châu Á để sau đó lan tỏa đến châu Phi, lục địa bị ảnh hưởng nhất bởi căn bệnh.
Vào lúc này châu Phi được tha miễn bởi những đề kháng này, nhưng còn được bao lâu ? ” Sự đề kháng sẽ lan rộng. Chính vì vậy, điều rất quan trọng, như đối với những kháng sinh, là sử dụng tốt những phối hợp trên cơ sở artémisinine. Nghĩa là chỉ kê đơn trong trường hợp sốt rét (điều này cần sử dụng những trắc nghiệm chẩn đoán nhanh), đúng liều và thời gian đúng đắn. Và dĩ nhiên, theo đuổi những nghiên cứu về những thuốc mới “, bác sĩ Bruno Pradines, thuộc viện nghiên cứu biomédicale của quân đội, đã giải thích như vậy.
Thế mà những thuốc mới, cũng hiệu quả như những dẫn xuất của artémisinine, không có nhiều. Chất ở giai đoạn tiến triển nhất là OZ239 liên kết với ferroquine, được phát triển bởi Sanofi. Hướng nghiên cứu vaccin cũng dường như cũng bị rải bởi những bẫy sập. Vaccin đầu tiên đã nhận đèn xanh là hiệu quả trong 30% những trường hợp. Sự bảo vệ kém này được giải thích bởi tính phức tạp của ký sinh trùng. ” Ký sinh trùng biến đổi suốt trong chu kỳ sống của nó, với những kháng nguyên khác nhau ở mỗi giai đoạn “, giáo sư Franois Bricaire, trưởng khoa các bệnh nhiễm trùng và nhiệt đới ở bệnh viện Pitié-Salpétrière, Paris, đã giải thích như vậy ” Những người bị nhiễm bởi ký sinh trùng được miễn dịch nhưng kém và khi họ rời xa vùng sốt rét, họ mất sự bảo vệ trong vài tháng. Nếu tính miễn dịch tự nhiên ít hiệu quả, ta hiểu rằng khó mà tìm được một vaccin rất bảo vệ “, giáo sư Bricaire đã nói tiếp như vậy. Những vaccin khác đang được nghiên cứu để bảo vệ những phụ nữ có thể dễ bị thương tổn hơn.
Ngoài ra, thách thức thật sự đối với điều trị và vaccin, ký sinh trung có thể dụa vào khả năng thích nghi của các muỗi anophèle, những con muỗi truyền ký sinh trùng sốt rét. ” Những chiếc mùng tẩm thuốc diệt muỗi chịu trách nhiệm phần lớn sự giảm của bệnh sốt rét. Nhưng các con muỗi đã trở nên đề kháng với các thuốc diệt côn trùng và chúng đã thích nghi nhưng hành vi của chúng : chúng chich vào đầu chiều và vào buổi sáng “, Frédéric Simard, giám đốc của đơn vị chuyên nghiên cứu những bệnh nhiễm trùng và vecteurs của Viện nghiên cứu và phát triển đă giải thích như vậy.
Mối quan ngại khác : bằng cách phát triển những cơ chế đề kháng với các thuốc trừ sâu, các muỗi anophèle cũng trở nên có khả năng chịu những chất gây ô nhiễm khác nhau. ” Thế mà cho đến nay, chúng phát triển trong nước sạch và như thế ở vùng nông thôn. Từ nay chúng có thể sống trong những nước bị ô nhiễm của các thành phố “, Frédéric Simard đã lấy làm tiếc như vậy. Sự sử dụng những bẫy hút hay thao tác di truyền của các con muỗi nằm trong chương trình nghị sự hôm nay. Như Robert Ménard đã nhắc lại điều đó, ” hôm nay không có phương tiện nhiệm màu để thắng bệnh sốt rét, cuộc chiến đầu tiếp tục “. Trên tất cả các mặt trận.
(LE FIGARO 25/4/2016)

8/ CÁC ĐỘI QUÂN NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU BẮN PHÁ LIÊN HỒI BỆNH ĐỐT RÉT
MALADIE TROPICALE. Cuộc chiến đấu chống bệnh sốt rét là cuộc chiến đấu huy động những đội quân các nhà nghiên cứu. Vào năm 1996, một chương trình quốc tế rộng lớn được phát động, nhằm vào séquençage génétique ký sinh trùng chính gây căn bệnh này. Vào năm 2002, 14 nhiễm sắc thể của nó được séquencé : khoảng 50 nhà nghiên cứu và 15 phòng thí nghiệm đã góp phần vào việc này. Vào năm 2014, các génome của 16 loài muỗi truyền bệnh (moustique vecteur) (các muỗi anophèle) đã sẵn sàng : một trăm nhà nghiên cứu và 50 viện nghiên cứu đã được huy động. Tháng giêng 2017, 22 nhà nghiên cứu, 13 trung tâm nghiên cứu từ Hoa Kỳ đến Úc qua châu Âu và châu Phi dưới sự chỉ đạo của Wellcome Trust Sanger Institute giải mã các génome của hai loại ký sinh trùng cuối cùng chưa được biết rõ. Điều này lại còn cho phép cải thiện những phương tiện chống lại chúng (những công trình được công bố trong tạp chí Nature).
Vào năm 2015, khoảng 214 triệu trường hợp sốt rét đã được ghi nhận trên thế giới và 438.000 trường hợp tử vong do ký sinh trùng. ” Bệnh sốt rét là do một protozoaire ký sinh trùng thuộc loại Plasmodium, chủ yếu được truyền từ người qua người qua một mũi chích của một con muỗi Anophèle cái. Có 5 loài Plasmodium khác nhau gây nhiễm người : Plasmodium falciparum, Plasmodium vivax, Plasmodium ovale, Plasmodium malariae và Plasmodium knowlesi. Chúng được phân biệt bởi vùng địa l mà chúng hoành hành và bởi profil các triệu chứng mà chúng gây nên “, các chuyên gia của Inserm đă viết như vậy. Plasmorium malariae và P. ovale là ít được biết đến nhất.
Protozoaire là một động vật nguyên sinh (don bào). Đó là mức “thấp” nhất trên thang của thế giới động vật. Sự sinh sản của nó phức tạp hơn sự sinh sản của các vi khuẩn : nó ” chín mùi” một phần trong ruột của muỗi vecteur, rồi trong những tế bào gan của ký chủ người, rồi trong những hồng cầu người trước khi trở lại ngủ, đối với vài loài, trong gan. Nhiều chu kỳ và nhiều khuôn mặt này làm cho những công trình nghiên cứu về sự hiệu chính một vaccin rất khó khăn. Những kết quả đáng lưu ý trong phòng thí nghiệm trên chuột đã có được vào năm 2016 bởi những nhà nghiên cứu của Viện Pasteur. Các chuyên gia ước tính rằng mặc dầu nếu ta có được một vaccin chỉ hiệu quả 80%, sự triệt trừ bệnh sốt rét sẽ được dự kiến.
(LE FIGARO 30/1/2017)

9/ BỆNH SỐT RÉT : MUỖI CÀNG NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG VỚI THUỐC DIỆT CÔN TRÙNG
GENETIQUE. Sẽ phải tìm ra những phương tiện khác để cố kiểm soát những dân số muỗi truyền bệnh sốt rét. Một công trình nghiên cứu di truyền rộng lớn của Wellcome Trust Sanger Institute, lớn nhất thuộc loại này từng được thực hiện, vừa cho thấy rằng những gène đề kháng với những thuốc diệt trùng được sử dụng nhất lan tràn ngày càng nhiều ở các muỗi anophèle mang ký sinh trùng Plasmodium gây bệnh sốt rét (những công trình được công bố trong tạp chí Nature). Họ đã séquencer các génome của 765 mẫu nghiệm của hai loài muỗi truyền phần lớn bệnh sốt rét, Anopheles gambiae và Anopheles coluzzli. Những mẫu nghiệm này đã được lấy trong 15 vùng, bờ biển hay trong đất liền, của 8 nước châu Phi (Guinée, Burkina Faso, Cameroun, Ouganda, Gabon, Kenya, Angola và Guinée-Bissau). Ta không thể phân biệt chúng bằng mắt trần nhưng chúng khác nhau về mặt di truyền, có một sự sinh sản, những hành vi và những chiến lược để sống còn mùa khô rất phân biệt.
Nhiều bài học đã có thể được rút ra từ những phân tích này. Thí dụ những dữ kiện được thu nhận đã cho thấy rằng những cấu trúc của những quần thể muỗi rất phức tạp. Các nhà khoa học của Wellcome Trust Sanger Institute cũng đã chứng thực rằng có những gène lan tràn hơn những gène khác, đặc biệt những gène mang lại một đề kháng với các thuốc diệt côn trùng.
” Những dữ kiện mà chúng tôi đã thu thập là một nguồn duy nhất để biết bằng cách nào những quần thể muỗi đáp trả những cố gắng kiểm soát của chúng ta ; Alistair Miles, tác giả đầu tiên của công trình nghiên cứu đã đánh giá như vậy. Điều đó sẽ giúp chúng ta tìm những kỹ thuật và những chiến lược mới để kiểm soát tốt hơn những con muỗi.
Nhưng các nhà nghiên cứu cũng có thể có những ngạc nhiên bất ngờ. Họ đã chứng thực rằng tính đa dạng di truyền của các con muỗi anophène, nhất là A.gambiae, là quan trọng hơn điều mà họ hằng tưởng. Và rằng bán kính hoạt động của các con muỗi không giới hạn ở 5 km, nhưng chúng có thể đi xa hơn nhiều, suốt trong quá trình di tản, để phát tán những gène của chúng.
(LE FIGARO 4/12/1917)

10/ ZONA, SỰ NHẮC LẠI ĐAU ĐỚN CỦA BỆNH THỦY ĐẬU Ở TRẺ EM
1/4 những bệnh nhân, nhất là những người già, đã từng bị bệnh nhi đồng này, sẽ làm một cơn zona. Bây giờ một vaccin được ghi vào lịch tiêm chủng.
MALADIE INFANTILE. Ít trẻ em thoát được bệnh thủy đậu, căn bệnh rất lây nhiễm, thường hiền tính và không đau.Khi căn bệnh biến mất, virus vẫn ở đó, yên ngủ trong các hạch thần kinh cảm giác. Một ngày nào đó, những năm sau này, virus có thể tự tái hoạt động và phát khởi bệnh zona. Những cơ chế giải thích sự tái hoạt động này vẫn chưa được biết rõ, nhưng sự suy yếu của hệ miễn dịch của ký chủ đóng một vai trò quan trọng.Zona, mặc dầu nó không trừ miễn những người trẻ lành mạnh, nhưng thường gặp hơn ở những người suy giảm miễn dịch và ở những người già. ” Trong suốt một cuộc đời, 25% những người đã từng bị thủy đậu có một nguy cơ phát triển một zona. Nhưng tuổi là là một yếu tố nguy cơ quan trọng. Điều đó được giải thích bởi một sự suy giảm của miễn dịch tế bào, xuất hiện kể từ 50 tuổi. Sau 80 tuổi, tỷ lệ bệnh hàng năm là 2 lần quan trọng hơn ở 60 tuổi (1% dân số so với 0,5%) “, giáo sư Henri Agut, trưởng khoa virus học của bệnh viện Pitié-Salpetrière (Paris) đã nhấn mạnh như vậy.
Chính vì vậy, vaccin, có sẵn để dùng từ một năm nay và được ghi vào lịch tiêm chủng mới nhất, được khuyến nghị đối với những người trưởng thành hơn 65 tuổi và trước 75 tuổi. Tuy nhiên, những người hơn 75 tuổi và dưới 79 tuổi có thể nhận một tiêm chủng nhắc lại (vaccination de rattrapage). Vaccin làm giảm một nửa nguy cơ xuất hiện bệnh.
” Zona không phải là một bệnh lý hiền tính. Rất thường nó có thể gây nên sự bất ổn định của một tình trạng đã yếu ớt ở những người già. Chính vì vậy, trên bình diện y khoa, sự tiêm chủng rất hữu ích đối với vài quần thể. Không những nó tránh một zona trên hai trong lứa tuổi này mà nó còn làm giảm 61% tỷ lệ của những đau đớn “, giáo sư Christian Chidiac, trưởng khoa các bệnh nhiệt đới và nhiễm trùng ở CHU de Lyon.
Thật vậy zona có thể làm cho bệnh nhân trải nghiệm một tra tấn thật sự. Bởi vì, khi tỉnh dậy, virus lan tràn dọc theo những sợi thần kinh và chịu trách nhiệm một nổi ban da đặc biệt đau đớn trên khu vực được phân bố bởi những sợi thần kinh này. ” Những triệu chứng đầu tiên có thể xuất hiện vài ngày trước khi nổi ban, dưới dạng những cảm giác kim châm, rát bỏng, phóng điện “, bác sĩ Christophe Trivalle, thầy thuốc lão khoa ở bệnh viện Paul-Brousse ở Villejuif đã xác nhận như vậy.
Những mụn nước tập trung thành cụm, tương tự với những mụn của bệnh thủy đậu, sẽ xuất hiện sau đó. Trong 5 đến 7 ngày, các mụn nước khô và các vẩy được tạo thành. Thường nhất chúng xuất hiện trên ngực và trên da đầu. Những zona mắt (zona ophtalmique) hiếm hơn (5 đến 10%), nhưng cũng có thể gây nên một sự giảm thị lực.Phần lớn các zona chữa lành không để lại di chứng trong hai hay ba tuần và sự xuất hiện về sau của một đợt zona khác rất hiếm xảy ra. Tuy nhiên, ở hơn 15% những người bị bệnh zona triệu chứng đau có thể tồn tại hơn 3 tháng : đó là douleurs neuropathiques. Trong những trường hợp nặng, chúng ảnh hưởng sâu chất lượng sống. ” Nguy cơ xuất hiện của chúng gia tăng với cường độ của những triệu chứng đau ban đầu và tuổi của người bệnh “, bác sĩ Christophe Trivalle đã giải thích như vậy. Các thuốc giảm đau thông thường không hiệu quả để làm giảm đau. Chúng sẽ được điều trị bởi những thuốc chống trầm cảm và những thuốc giảm đau.
Hơn 240.000 zona được chẩn đoán ở Pháp mỗi năm. Điều trị chúng dựa vào valaciclovir, một thuốc chống virus. ” Thuốc phải được cho càng sớm càng tốt sau khi xuất hiện những dấu hiệu lâm sàng bởi vì hiệu quả của nó lên thời gian của những dấu hiệu lâm sàng là không thể chối cãi. Những lợi ích lên một sự giảm những neuropathie post-zostérienne ít rõ ràng hơn “, giáo sư Henri Agut đã xác nhận như vậy.
Để tránh những biến chứng của zona, tại sao không tiêm chủng chống bệnh thủy đậu, vì lẽ vaccin hiện hữu ? ” Tỷ lệ tiêm chủng ở Pháp chắc chắn không đủ để tránh sự lưu hành của virus “, giáo sư Chidiac đã giải thích như vậy. Thật vậy, vì virus của bệnh thủy đậu được truyền rất dễ dàng, nên cần phải đạt một tỷ lệ tiêm chủng 90%. Nếu không phải vậy, nguy cơ, như điều đó xảy ra với bệnh sởi, là thấy những trường hợp thủy đậu di chuyển về những người lớn tuổi hơn.
Điều này làm gia tăng nguy cơ bị bệnh thủy đậu nghiêm trọng hơn nhiều. Vả lại, không chắc chắn rằng tiêm chủng chống bệnh thủy đậu cho phép giảm tỷ lệ mắc bệnh zona. Thật vậy, sự tiêm chủng đại trà làm giảm sự lưu hành của virus, do làm giảm những gặp gỡ với virus “tự nhiên” trong cuộc đời. Thế mà những tiếp xúc này làm tăng trở lại tính miễn dịch đối với virus.
(LE FIGARO 2/5/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(16/4/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s