Xử trí sớm bệnh nhân chấn thương nặng (Chương 17, Phần 2) – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHƯƠNG XVII
CHẤN THƯƠNG VÀ NHỮNG THƯƠNG TỔN DO BỎNG
(TRAUMA ET LÉSIONS PAR BRULURES)

Dr. Jean-Marie Jacques
Service des Urgences
CH Hornu-Frameries, Hornu
Belgique

PHẦN II

V. XỬ TRÍ BAN ĐẦU BỆNH NHÂN BỊ BỎNG : BILAN SƠ CẤP
Nạn nhân bỏng (victime brulée) là một nạn nhân chấn thương (victime traumatisée) và việc điều trị ban đầu tương tự với sự điều trị của mọi bệnh nhân bị chấn thương nặng và theo ABCDE. Có thể có những thương tổn khác với bỏng và những thương tổn này phải được nhận biết và điều trị.
Những thủ thuật hồi sức cần thiết cũng được thực hiện trong khi thực hiện bilan sơ cấp này. Tất cả các biểu hiện của bỏng sẽ không xuất hiện trước nhiều giờ và sẽ cần lập lại các bilan. Bilan đầu tiên này cần thiết để nhận diện tất cả những thương tổn có thể phương hại sự sống còn (gồm cả những thương tổn khác với bỏng) đồng thời thực hiện một đánh giá đầu tiên các diện tích bỏng.

Nên xem mọi vết bỏng trên 10% diện tích toàn cơ thể như là nghiêm trọng và cần một sự đánh giá trong một đơn vị hồi sức.

A. ĐỘNG TÁC ĐẦU TIÊN : LÀM NGỪNG QUÁ TRÌNH GÂY BỎNG.
Một xử trí đầu tiên thường đã được thực hiện trước khi bệnh nhân đến bệnh viện, đôi khi bởi những người không phải nghành y. Dầu sao điều thiết yếu, ở tiền viện cũng như ở bệnh viện, là phải đảm bảo rằng quá trình gây bỏng đã được làm ngừng lại. Những quần áo đang bị cháy hay bị ngấm bởi các chất dịch sôi, các nữ trang và các đồng hồ (tác dụng như những nơi tàng trữ nhiệt) phải được lấy đi tức thời. Những đồ vải tổng hợp bắt lửa dễ dàng, cháy nhanh và nóng chảy đồng thời tạo nên những chất cặn nóng tiếp tục gây bỏng cho bệnh nhân. Mọi quần áo bị ngấm bởi các sản phẩm hóa học phải được lấy đi một cách thận trọng. Những thành phần hóa học dưới dạng bột khô phải được chải và loại bỏ, đồng thời tránh tiếp xúc da thêm đối với bệnh nhân và dĩ nhiên đối với nhân viên điều trị.
Sau đó bề mặt bỏng được rửa dồi dào với nước ấm. Sự làm lạnh tức (cooling immédiat) của vùng bỏng sẽ biến đổi viêm tại chỗ và làm giảm sự lan rộng của hoại tử tế bào. Điều này sẽ được thực hiện tốt nhất bằng cách đắp nước ấm tại chỗ, lý tưởng bằng phun nhẹ : quy tắc 3 x 20 được khuyến nghị : nước máy ở nhiệt độ 20 độ C, trong 20 phút, vùng bỏng cách nơi phun 20 cm. Điều này có thể được thay thế bằng gel lạnh hiện có trên thị trường dưới dạng tấm chăn thích ứng cho một chi, thân hình hay cho gương mặt (loại water jel). Sự
làm lạnh vết bỏng cũng có một tác dụng giảm đau tại chỗ nhanh chóng. Cần tránh nước quá lạnh hay nước đá, bởi vì ngoài việc làm lạnh một cách vô ích toàn cơ thể bệnh nhân, còn có một nguy cơ thật sự gây nên một sự co mạch tại chỗ có thể làm gia trọng tình hình.
Lý tưởng là, sự làm lạnh được bắt đầu tức thời và được tiếp tục trong 20 phút và điều này được thực hiện đến 9 giờ sau khi bị bỏng. Quá thời hạn này, lợi ích không rõ ràng. Một sự làm lạnh kéo dài cũng có thể gây nên hạ thân nhiệt toàn thể có hại, nhất là ở trẻ rất nhỏ

Đừng quên :
Làm lạnh vùng bỏng, sưởi ấm người bị bỏng !
Sự làm lạnh của những thương tổn bỏng
Một chủ đề gây tranh cãi là việc thực hiện sự làm lạnh của các thương tổn bỏng. Nhiều công trình nghiên cứu đă đánh giá hiệu quả của những phương pháp làm lạnh khác nhau lên dạng vẻ vi thể của các mô bỏng, cũng như tác động lên sự chữa lành của các vết thương. Trong một công trình, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng sự làm lạnh của các vết bỏng có một tác dụng có lợi lên những vết bỏng thí nghiệm. Những vết bỏng được điều trị bởi một sự làm lạnh có ít thương tổn tế bào hơn những bỏng không được làm lạnh.
Các nhà nghiên cứu đã có thể đo một cách trực tiếp tác động của sự làm lạnh lên nhiệt độ của bì bị bỏng, lên cấu trúc vi thể của mô và lên sự chữa lành của các vết thương. Một công trình nghiên cứu đã đánh giá những kết quả của những phương pháp làm lạnh khác nhau. Các nhà nghiên cứu này đã so sánh những vết bỏng được làm lạnh với nước robinet (15 độ C) với sự đắp một gel được bán trong thương mại. Mỗi trong những phương pháp này được thực hiện tức thời sau bỏng cũng như sau một thời hạn 30 phút. Một sự làm lạnh tức thời với nước robinet hiệu quả gần hai lần hơn để làm giảm nhiệt độ của mô bị bỏng. Trong thử nghiệm này, những vết thương được làm lạnh có một bề ngoài tốt hơn ở kính hiển vi và một sự chữa lành tốt hơn 3 tuần sau bỏng.
Một sự làm lạnh rất tích cực với nước đá có hại và sẽ gia tăng những thương tổn của các mô đã bị tổn hại với các vết bỏng. Kết quả này đã được chứng minh trong những modèle động vật ; sự làm lạnh tức thời của những vết bỏng bằng cách đắp nước đá là có hại hơn là sử dụng nước robinet hay không một điều trị nào. Sự sử dụng nước đá ở một nhiệt độ từ 1 đến 8 độ C gây nhiều phá hủy mô so với những vết bỏng không nhận một điều trị nào. Ngược lại, sự làm lạnh với nước robinet ở một nhiệt độ từ 12 đến 18 độ C cho thấy ít hoại tử mô hơn và một tốc độ chữa lành nhanh hơn tốc độ được quan sát trong những vết thương không được làm lạnh.
Điều quan trọng cần xét đến là những nghiên cứu về sự làm lạnh đã được tiến hành trên những động vật phòng thí nghiệm, và rằng những vết bỏng có kích thước rất giới hạn. Bỏng lớn nhất được đánh giá là 10% của diện tích toàn cơ thể.
Tóm lại, tất cả các phương pháp làm lạnh của các vết bỏng không tương đương. Một sự làm lạnh quá tích cực sẽ gây nên những thương tổn mô. Nếu sự làm lạnh bị trì hoãn, có lẽ nó sẽ không có lợi. Ở những bệnh nhân có những bỏng rộng, sự làm lạnh của các vết bỏng có thể gây nên một hạ thân nhiệt. Một nguy cơ khác khi làm lạnh một vết bỏng là ở những bệnh nhân có đồng thời những vết bỏng và những thương tổn cơ học, một hạ thân nhiệt toàn thân có những hậu quả có thể tiên đoán và có hại lên năng lực đông máu

B. ĐƯỜNG KHÍ
Mặc dầu thanh quản bảo vệ đường khí dưới thanh môn (voies respiratoires sous-glottiques) khỏi bị bỏng nhiệt trực tiếp, vùng trên thanh môn (zone supra-glottique) hết sức dễ bị tắc, gây nên do sự tiếp xúc với nhiệt. Những dấu hiệu tắc đường khí có thể không rõ rệt tức thời. Dẫu sao, sự hiện diện của những dấu hiệu, ngay cả tối thiểu, phải báo động khả năng tắc đường khí trong một thời gian ngắn.

Các đường khí thông thương ít lâu sau một bỏng có thể bị tắc vài giờ sau : phải có một mức nghi ngờ cao những thương tổn đường khí hay hít khí phải có một mức nghi ngờ cao những thương tổn đường khí hay hít khí và nên tái đánh giá một cách rất đều đặn !

Vậy nên rất chú ý đến khả năng của một thương tổn đường khí với những tổn do hít (lésions d’inhalation) : phải nhận diện tức thời những dấu hiệu détresse và thiết lập những biện pháp xử trí thích đáng. Những dấu hiệu lâm sàng gợi ý thương tổn do hít (lésion d’inhalation) là :
– bị hỏa hoạn và/hoặc tiếp xúc với khói trong một khoảng kín như một
building hay một xe hơi ;
– một trụy mạch, một tình trạng lú lẩn hay kích động vào bất cứ lúc nào ;
– một giọng nói khàn, ho hay bất cứ biến đổi giọng nói nào ;
– tiếng thở rít (stridor) ;
– bỏng mặt, bao gồm cháy lông mũi và lông mi ;
– bò hóng trong nước miếng hay đờm ;
– viêm họng
– một nồng độ HbCO tăng cao
– bị hơi nổ (blast)
– một sự suy thoái chức năng hô hấp.
Trong tất cả các trường hợp, oxygène được làm ẩm sẽ được cho với lượng lớn.
Trong tất cả các trường hợp tắc đường khí, một nội thông khí quản sẽ cần thiết. Trong vài trường hợp nghiêm trọng hơn, đôi khi một abord chirurgical sẽ cần thiết. Sự hiện diện của một tiếng rít (stridor) chỉ một mức độ tắc nào đó đã hiện diện và điều này là một chỉ định tức thời của nội thông khí quản. Nếu tắc chưa hiện diện nhưng các thương tổn do hít rõ rệt, một sự phù nề của đường hô hấp trên sẽ phát triển trong những giờ đầu và sẽ làm cho nội thông khí quản sau này khó khăn hơn. Bệnh nhân phải được nội thông nếu có chút ít nghi ngờ.
Việc bảo vệ cột sống cổ vẫn là thiết yếu ở các bệnh nhân bỏng, nhất là nếu cơ chế thương tổn gợi khả năng một thương tổn của cột sống, thí dụ đối với những bệnh nhân chạy trốn một hỏa hoạn bằng cách nhảy từ một cửa sổ.

Để không bỏ sót một thương tổn do hít khói, phải nghĩ đến điều đó một cách hệ thống. Trong trường hợp nghi ngờ, sự chuyển đến một môi trường chuyên khoa sẽ được chỉ định, nhưng một nội thông khí quản trước khi chuyển có lẽ sẽ cần thiết

C. THÔNG KHÍ : XỬ TRÍ THƯƠNG TỔN DO HÍT KHÓI
Bỏng với hít khói chủ yếu được điều trị bằng những biện pháp hỗ trợ Tất cả các bệnh nhân phải nhận oxy được làm ẩm với nồng độ cao. Vấn đề có thể tiên đoán nhất của một bỏng đường hô hấp trên là tắc, trong khi một thương tổn của đường hô hấp dưới sẽ gây nên những vấn đề liên quan nhiều hơn đến sự thông khí và trao đổi khí. Những quá trình này có thể cần vài giờ, nhưng chúng phải được dự kiến trước. Việc xử trí này rất là chuyên môn và cần được nhập viện vào một khoa chuyên về những bệnh nhân bỏng
Việc xử trí một ngộ độc toàn thân phải nhằm cung cấp tối đa oxy cho các mô. Ngộ độc quan trọng nhất là ngộ độc monoxyde de carbone. CO liên kết với Hb với ái tính hơn nhiều so với oxygène. Những triệu chứng của hít CO tùy thuộc thời gian và mức độ tiếp xúc và nồng độ trong huyết thanh của nó. Những triệu chứng đi từ đau đầu nhẹ đến hôn mê và tử vong. Theo truyền thống ta dạy rằng những bệnh nhân ngộ độc CO có màu da đỏ anh đào (rouge cerise) điển hình. Bất hạnh thấy dấu hiệu này chỉ xuất hiện muộn và không được nêu lên để xác lập chẩn đoán.Những oxymètre de pouls portables đo nồng độ CO trong máu một cách không xâm nhập hiện có để sử dụng trong khung cảnh tiền viện. Những máy này giống với nhung oxymètre de pouls và hoạt động cùng cách. Những bệnh nhân nói chung có những triệu chứng nhẹ với những mức từ 10 đến 20% carboxyhémoglobine. Với sự gia tăng của nồng độ CO trong máu, những triệu chứng nặng dần. Những nồng độ trên 50 đến 60% gây co giật, hôn mê hay chết.Oxymètre de pouls không thể được sử dụng để hướng dẫn sự nhận biết hay điều trị ngộ độc CO. Oxymètre de pouls sẽ cho một số đo bình thường hay tăng cao một cách sai lạc bởi vì sự phát hiện oxyhémoglobine tùy thuộc vào analyse calorimétrique được thực hiện bởi oxymère, và sự phân tích bị sai lệch bởi màu tương tự của carboxyhémoglobine.
Điều trị một ngộ độc CO nhằm đưa bệnh nhân ra xa nguồn và cho oxygène. Cần cho oxy ở nồng độ cao nhất và điều này có thể cần nội thông khí quản và thông khí nhân tạo. Việc cho oxy phải được tiếp tục trong nhiều giờ.
Lúc thở khí chung quanh (chứa 21% oxygène), cơ thể sẽ loại bỏ một nửa CO trong 250 phút. Khi ta cho bệnh nhân oxygène 100%, thời gian bán hủy của carboxyhémoglobine được giảm xuống một trị số giữa 40 và 60 phút.
Nếu có khả năng, nhưng đồng thời quản lý những khó khăn một cách thích đáng, có thể thực hiện liệu pháp oxy tăng áp (oxygénothérapie hyperbare). Trong nhiều năm oxygène hyperbare được xem là điều trị lựa chọn đối với những ngộ độc CO từ trung bình đến nặng. Sự sử dụng oxygène hyperbare làm giảm thời gian bán hủy của CO xuống một trị số giữa 20 và 30 phút và người ta đã từng cho rằng nó làm giảm tỷ lệ những di chứng lâu dài do tiếp xúc CO. Mới đây, lợi ích của điều trị bằng oxygène hyperbare so với điều trị với oxygène 100% đã được xét lại. Ngoài ra, nếu bệnh nhân bị bỏng quan trọng hay có những thương tổn chấn thương khác, vô cùng khó thực hiện những săn sóc cần thiết trong một caisson hyperbare. Do đó, trong đa số các trường hợp, việc hướng bệnh nhân đến một cơ sở có một caisson hyperbare hơn là mot centre de brulés hay một centre de traumatologie không được biện minh.

Khi hỏa hoạn trong một không gian kín, phải luôn luôn tìm kiếm một ngộ độc CO

D. TUẦN HOÀN
Sự đánh giá và xử trí chức năng tuần hoàn gồm có đo huyết áp, đánh giá brulures circulaires và sự đặt đường tĩnh mạch.
Sự đo chính xác của huyết áp có thể khó thậm chí không thể khi các vết bỏng xảy ra ở các chi. Nếu có thể đo một huyết áp, những trị số huyết áp có thể bị sai lầm trong trường hợp bỏng sâu và phù các chi. Ngay cả một bệnh nhân có một huyết áp thích đáng, sự tưới máu ở vùng xa của các chi có thể rất giảm do những thương tổn vòng tròn (lésions circulaires). Trong khi vận chuyển, các chi phải được đưa lên cao, để làm giảm bề rộng của phù trong chi thương tổn.

Một choáng giảm thể tích xảy ra sớm không bao giờ do bỏng gây nên !

Một choáng giảm thể tích gây nên bởi bỏng cần nhiều thời gian để phát triển. Nếu một bệnh nhân bỏng bị choáng xảy ra sớm, những nguyên nhân khác cần phải được loại trừ. Những thương tổn khác chịu trách nhiệm phải được gợi ra, nhất là nếu có một ý niệm về blast, tai nạn giao thông hay té khi chạy trốn. Nếu bệnh nhân trong tình trạng choáng giảm thể tích, bệnh nhân phải được xử trí như đã đề cập trước đây, dầu có sự hiện diện của bỏng.
1. Đường truyền tĩnh mạch.
Mọi bệnh nhân bị bỏng trên 15% diện tích cơ thể sẽ cần được bù thể tích. Sau khi đã kiểm tra đường khí và loại bỏ một thương tổn hô hấp sinh tử, một đường tĩnh mạch phải được thiết lập và lý tưởng điều này được thực hiện với hai đường tĩnh mạch ngoại biên cỡ lớn (tối thiểu 16G). Nếu sự lan rộng của bỏng ngăn cản không thể đặt một đường tĩnh mạch trong một vùng nguyên vẹn, thì đặt một đường trong vùng bỏng vẫn còn có thể chấp nhận được, nhưng điều này dĩ nhiên nên tránh chừng nào có thể được. Việc thiết đặt tốt hơn nên được thực hiện ở chi trên, vì tần số cao viêm tĩnh mạch, ngay cả nhiễm trùng, ở các tĩnh mạch hiển. Những bande adhésive và những pansement, được sử dụng để sécuriser những đường tĩnh mạch, sẽ không hiệu quả khi chúng được đặt trên mô bỏng hay ở gần.
Có thể có những giải pháp thay thế, ví dụ bộc lộ tĩnh mạch, đường trong xương (acces intraosseux) nơi một trẻ em, hay một đường trung ương, ví dụ đùi. Lấy máu để xét nghiệm, và cũng để xác định nồng độ carboxyhémoglobine.
2. Đánh giá nhu cầu dịch.
Nhiều công thức được đề nghị để tính lượng dịch phải bù. Loại dịch phải sử dụng vẫn còn gây tranh cãi, colloide hay cristalloide ? Những khuyến nghị hiện nay chủ yếu đề nghị sử dụng cristalloides, nhất là Hartmann, trong 24 giờ đầu, căn cứ trên những khuyến nghị của Parkland. Tất cả các công thức chỉ là những phỏng chừng và sự thành công tùy thuộc vào sự thích ứng của chúng với các tham số sinh lý phải được theo dõi. Mục đích chính của hồi sức là duy trì sự tưới máu mô của vùng ứ đọng (zone de stase) và như thế ngăn ngừa sự lan rộng theo chiều sâu của bỏng. Điều này không phải dễ dàng, bởi vì quá ít dịch sẽ gây nên giảm tưới máu trong khi bù dịch quá nhiều sẽ làm phù nặng thêm và như thế gây giảm oxy .
Lượng dịch quan trọng nhất phải được cấp trong 24 giờ đầu sau khi bị bỏng. Trong 8 đến 12 giờ đầu, có một sự di chuyển dịch từ khu vực trong mạch máu về phía khu vực kẽ. Điều này có nghĩa rằng mọi dịch được cho vào lúc này sẽ nhanh chóng rời khu vực trong huyết quản. Các colloides không có một ưu điểm nào đối với cristalloides để duy trì thể tích tuần hoàn. Những bolus liquidien cho nhanh ít lợi ích, bởi vì một sự gia tăng nhanh của áp lực thủy tĩnh trong huyết quản sẽ đẩy nhiều hơn dịch ra ngoài tuần hoàn. Tuy nhiên, nhiều protéine bị mất ở các bề mặt bỏng và cũng phải thay thế sự mất protéine này. Vài sơ đồ đưa vào colloides sau 6-8 giờ đầu, khi sự rỏ dịch trong huyết quản đã giảm
Thường nhất, nếu có những thương tổn khác hay nếu diện tích bỏng trên 15%, việc cho máu có lẽ sẽ cần thiết.
Những trường hợp bỏng hơn 15% nơi người lớn và hơn 10% nơi trẻ em cần những sơ đồ hồi sức nghiêm chỉnh. Công thức được biết nhất là Parkland sử dụng duy nhất cristalloides. Công thức này có ưu điểm dễ tính và sử dụng. Các trẻ em ngoài ra cần truyền duy trì. Điểm bắt đầu hồi sức là lúc thương tổn chứ không phải lúc xử trí. Lượng dịch bù đã được cho phải được trừ ra từ lượng dịch được tính toán theo công thức.
Cristalloide thường được sử dụng nhất là Hartmann
CÔNG THỨC PARKLAND
Tổng cộng lượng dịch phải được cho trong 24 giờ đầu =
4 ml x (tỷ lệ bách phân diện tích có thể bị bỏng) x (trọng lượng tính bằng kg)
50% trong 8 giờ đầu
50% trong 16 giờ tiếp theo (giữa 8 giờ và 24 giờ).
Các trẻ em còn cần thêm một truyền dịch duy trì, theo nhịp mỗi giờ
4ml/kg đối với 10 kg đầu tiên THÊM
2ml/kg đối với 10 kilo tiếp theo THÊM
1ml/kg đối với trọng lượng vượt quá 20
Mục tiêu cần đạt được :
lưu lượng nước tiểu từ 0,3 -1,0 ml/kg/giờ đối với người trưởng thành
lưu lượng nước tiểu từ 1-2ml/kg/giờ đối với trẻ em
Đó là một công thức tính phỏng chừng ban đầu. Những điều chỉnh và thích ứng được thực hiện trong trung tâm bỏng. Lưu lượng nước tiểu là phương tiện đơn giản nhất và đáng tin cậy nhất để xác định rằng tình trạng tuần hoàn ổn định và áp suất động mạch không xâm nhập là những chỉ dấu tồi để đánh giá sự thích đáng của hồi sức.

Trong cấp cứu tiền bệnh viện ta có thể sử dụng một công thức đơn giản hơn :
– Nếu TBSA < 40% : 10 ml/kg/ giờ hartmann được lập lại
– Nếu TBSA > 40% : 20 ml/kg/ giờ hartmann được lập lại
TÍNH HỒI SỨC DỊCH
Lấy thí dụ một người đàn ông 80 kg bị bỏng độ 3 trên 30% diện tích cơ thể và được xử trí tại hiện trường ít lâu sau bỏng. Thể tích dịch hồi sức sẽ được tính như sau :
Thể tích toàn thể trong 24 giờ = 4ml/kg x trọng lượng tính bằng kg x % toàn bộ diện tích cơ thể bị bỏng :
= 4ml x 80 kg x 30 % của toàn bộ diện tích cơ thể bỏng = 9600 ml
Cần ghi nhớ rằng, trong công thức này, những đơn vị kilogramme và bách phân bị hủy, như thế chỉ còn lại những millilitre, điều này tóm tắt calcul là 4 ml x 80 x 30 = 9600 ml
Một khi có được thể tích dịch trong 24 giờ, nên chia nó cho 2 :
Thể tích được cho trong 8 giờ đầu sau bỏng :
= 9600 ml/2 = 4800 ml
Để xác định lưu lượng mỗi giờ đối với 8 giờ đầu, phải chia con số này cho 8 :
Lưu lượng mỗi giờ đối với 8 giờ đầu = 4800 ml/8 giờ = 600 ml/giờ
Nhu cầu dịch đối với thời kỳ sau (từ giờ thứ 8 đến giờ thử 24) được tính theo cách sau :
Thể tích được cho giữa giờ thứ 8 và giờ thử 24 = 9600 ml/2 = 4800 ml
Để xác định lưu lượng mỗi giờ đối với 16 giờ cuối, phải chia con số này cho 16 :
Lưu lượng mỗi giờ đối với 16 giờ cuối = 4800 ml/16 giờ = 300 ml/giờ

Những bỏng quan trọng, nhất là do điện giật, có thể gây nên một sự sản xuất quan trọng các mảnh myoglobine và hémoglobine. Những mảnh này được bài tiết trong nước tiểu, mang lại cho được tiểu một màu đỏ đậm. Những chất này làm tắc các ống uốn thận, gây nên suy thận. Điều trị khởi đầu nhằm gia tăng sự làm đầy thể tích để có được một lưu lượng nước tiểu 2ml/kg/giờ. Sự kiềm hóa nước tiểu và sử dụng mannitol có thể hữu ích.

Thời gian T0 của bù dịch bắt đầu lúc bị bỏng. Phải cân bệnh nhân hay hỏi bệnh nhân cân nặng bao nhiêu, bởi vì các ước tình thường rất là không chính xác.

E. DISABILITY KHÁM THẦN KINH
Một thăm khám thần kinh phải được thực hiện đối với mỗi nạn nhân bị bỏng. Một sự giảm sút mức độ tri giác, một tình trạng lú lẫn hay kích động có thể chứng tỏ một ngộ độc hay một tình trạng giảm oxy gây nên bởi một thương tổn do hít khói. Khả năng ngộ độc rượu hay thuốc cũng như sự hiện diện của những thương tổn khác phải được nêu lên.
F. EXPOSURE
Bệnh nhân phải được khám toàn bộ (gồm cả lưng), để xác định một cách đúng đắn diện tích bỏng và để loại bỏ những thương tổn liên kết. Tất cả quần áo, gồm cả đồ lót, các nữ trang, đồng hồ và những vật khác phải được lấy đi. Nguy cơ hạ thân nhiệt thường bị đánh giá thấp. Sự cởi quần áo, việc sử dụng dồi dào nước lạnh ở nơi tai nạn, trong khi vận chuyển hay ở phòng cấp cứu có thể giải thích bệnh nhân trở nên bị hạ thân nhiệt. Vậy nên giới hạn sự làm lạnh (cooling) ở mức hợp lý, nên che phủ những vùng không bị bỏng và cũng nên duy trì nhiệt độ môi trường ở 30 độ C.

Sự xuất hiện một hạ thân nhiệt là một nguy cơ thường gặp đối với một bệnh nhân bỏng.

G. NHỮNG ĐIỀU TRỊ THIẾT YẾU KHÁC LÚC BẮT ĐẦU XỬ TRÍ.
Sự miễn dịch đối với bệnh uốn ván phải được xác nhận ; nếu không tieêm nhắc lại được chỉ định.
Nếu không có chỉ định chính xác, không cần cho một liệu pháp kháng sinh để phòng ngừa.
Cần thiết đặt một ống thông tiểu khi bị bỏng quan trọng
Một ống thông mũi dạ dày cũng được chỉ định.
Các vết bỏng rất đau và bệnh nhân rất hoảng sợ. Cần cho những thuốc giảm đau, loại opiacés, được chuẩn độ, cho sớm, đôi khi với một thuốc chống mửa. Tất cả những loại thuốc này phải được cho bằng đường tĩnh mạch, bởi vì sự hấp thụ bằng đường dưới da và trong cơ không chắc chắn, xét vì sự hấp thu kém do burn shock. Morphine hay kétamine có thể được sử dụng, cũng như những thuốc giải ưu.
Sau những sơ cứu đầu tiên này, một bilan ABCDE được lập lại một cách nhanh chóng, trước khi chuyển qua bilan thứ cấp và điều trị đặc hiệu bỏng

Cần giảm đau nhanh chóng bằng các opiacés cho bằng đường tĩnh mạch
Các kháng sinh không được chỉ định khi điều trị bỏng ban đầu

Référence :
– Prise en charge précoce du traumatisé grave. ARAMU
– European Trauma Course. EuSEM
– Trauma Care Manual
– PHTLS : Basic and Advanced Prehospital Trauma Life Support
– Cours de réanimation avancée néonatale & pédiatrique
– Médecine d’urgence préhospitalière
– Urgences médico-chirurgicales de l’adulte
– Urgence en neurologie. Journées scientifiques de la Société
Française de Médecine d’Urgence 2007
– Essentials of Immediate Medical Care. C. John Eaton

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/3/2018)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chấn thương, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s