Thời sự y học số 464 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ HÃY ĂN NHIỀU SỢI ! VÂNG, NHƯNG NHƯ THẾ NÀO ?
Một chế độ ăn uống đa dạng tạo điều kiện cho một khuẩn chí ruột đa dạng và do đó cân bằng.GASTRO-ENTEROLOGIE. ” Phải ăn nhiều sợi, một cách tuyệt đối, bởi vì chúng thiết yếu cho hoạt động tốt của ruột. Nhưng tất cả chúng không có cùng tính năng cũng như cùng hiệu quả từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác, GS Philippe Ducrotté, gastro-entérologue ở CHU de Rouen, đã chỉ rõ như vậy. Nhiều điều đã thay đổi về các sợi trong 5 năm qua.” Ta phải tránh những lời khuyên dành cho tất cả mọi người, vậy các sợi phải được hội nhập trong một chế độ ăn uống cân bằng đồng thời xét đến những đặc điểm và những nhu cầu của mỗi người. Vài bệnh nhân phải giảm cung cấp sợi trong thức ăn, những bệnh nhân khác phải dùng những complément en fibres, vài bệnh nhân sẽ ưu tiên những sợi hòa tan (fibres solubres) và những bệnh nhân khác những sợi không hòa tan (fibres insolubres). Trong phần lớn các trường hợp, cung cấp sợi càng thay đổi ; những tác dụng càng có lợi. Mục tiêu : làm dễ tính đa dạng của khuẩn chí ruột, động lực cần thiết của sự tiêu hóa.
Những người Pháp tiêu thụ, vào đầu thế kỷ XX, từ 600 đến 800 g pain noir và sản xuất 600 đến 800 g phân mỗi ngày. Hôm nay, họ ăn 100 g pain blanc và phân của họ chỉ còn đạt 150 g mỗi ngày. Những công trình nghiên cứu đã cố gắng xác lập một mối liên hệ giữa sự giảm này của kích thước của phân /lượng sợi được ăn vào với sự gia tăng của những bệnh như ung thư đại tràng, bệnh đái đường hay tăng cholestérol huyết.
” Thật vậy không thể tách riêng những tác dụng của sợi đơn độc lên những bệnh này : chúng phát xuất từ những thức ăn chứa nhiều yếu tố khác “, GS Marc-André Bigard, gastro-entérologue của CHU de Nancy đã nhắc lại như vậy.
Mặc dầu khó biết những hậu quả nào của sự biến đổi của những thói quen ăn uống này lên sức khỏe của những người Pháp, thời gian và lối sống đã quá tiến triển để có thể làm những so sánh trực tiếp, nhưng các thầy thuốc đã biết từ lâu rằng những sợi phát xuất từ ngũ cốc hoàn toàn (céréales complètes) có một tác dụng điều hoà lên nhu động ruột bởi một effet de lest làm gia tăng tốc độ nhu động.” Trong 90% các trường hợp, bệnh nhân không cần một loại thuốc nào để giải quyết vấn đề bón, GS Bigard đã nhắc lại như vậy. Ông khuyên các bệnh nhân gia tăng lượng sợi không hòa tan (fibres insolubles) trong chế độ ăn uống. Trong tất cả các trường hợp, chìa khóa là thực hiện điều đó một cách dần dần, trong nhiều tuần.”
Thật vậy, sự biến đổi đột ngột của chế độ ăn uống là một trong những yếu tố gây xáo trộn nhất đối với sự hoạt động của ruột, nơi hàng ngàn mầm bệnh khác nhau cùng hoạt động để đảm bảo sự tiêu hóa của các thức ăn. Sự cân bằng hoàn hảo được xác lập giữa những chức năng của ruột và những chức năng của khuẩn chí ruột cho phép tiêu hóa tốt nhất những thức ăn đến ruột. Nếu các thức ăn bị thay đổi đột ngột, khuẩn chí ruột không có thời gian thích ứng và hoạt động kém. Nếu một loại thức ăn nổi trội, khuẩn chí ruột sẽ trở nên vô cùng chuyên môn hóa. Vì vậy, vài thức ăn tạo điều kiện cho sự tăng sinh của các mầm mà những quá trình lên men sản xuất nhiều khí, điều này làm căng trướng ruột và gây một sự khó chịu đôi khi rất đau đớn. ” Chúng tôi quan sát rằng những bệnh nhân bị những rối loạn này nói chung biết những loại thức ăn nào gây nên chúng. Các bệnh nhân có khuynh hướng loại bỏ chúng hoàn toàn, điều này mang lại cho họ một sự thoải mái tức thời nhưng những hạn chế như thế đôi khi có những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe của họ “, GS Ducrotté đã nhắc lại như vậy.
Những thức ăn chứa những sợi không hòa tan thường bị cáo buộc, nhưng để không loại bỏ mọi nguồn sợi và những chất dinh dưỡng khác đi kèm chúng, có thể dùng những thực vật chứa những sợi hòa tan, ít lên men hơn. Người ta đã chứng minh rằng, khi không bị bệnh tim, sự vắng mặt của gluten trong chế độ ăn uống làm biến mất những enzyme, được sản xuất bởi khuẩn chí ruột, có khả năng làm thoái biến nó. Một intolérance au lactose cũng có thể phát triển khi sữa biến mất khỏi chế độ ăn uống. Một sự bất quân bình của khuẩn chí ruột rất thường hiện diện ở những bệnh nhân bị những rối loạn ruột, và các sợi, tiếp nhận nhiều mầm, là thiết yếu cho sự cân bằng này.
Fodmaps (xem dưới đây), thường hiện diện trong các thức ăn chứa các sợi, cũng bị cáo buộc những điều xấu, nhưng vài Fodmaps trái lại tạo điều kiện cho sự tăng trưởng của những souche vi khuẩn thiết yếu cho sức khỏe của ruột. Loại bỏ một họ những thức ăn cũng loại bỏ một họ những mầm ruột.
Như thường xảy ra, giải pháp dựa trên sự đa dạng : một cách ăn uống thay đổi tạo điều kiện cho một khuẩn chí ruột đa dạng hóa đồng thời tránh một nhóm thống trị và gây những rối loạn quá thường gặp.Với một cách ăn uống đa dạng hóa một cách thường trực, ruột có khả năng đảm trách một cách hiệu quả tất cả những thức ăn đi vào. Kể cả những thức ăn gây những triệu chứng đau, với điều kiện chúng được ăn vào một cách đều đặn nhưng với những lượng nhỏ để làm giảm sự khó chịu.
(LE FIGARO 30/5/2016)

2/ SỢI : NHỮNG TÁC DỤNG ĐƯỢC BIẾT VÀ NHỮNG TÁC DỤNG ĐƯỢC GIẢ ĐỊNH
” Các sợi bảo vệ các bệnh tim.” Lý thuyết này, ra đời trong những năm 1970, nhất là sau những công trình của Denis Burkitt, được phát sinh từ quan sát rằng một population của Ouganda tiêu thụ nhiều sợi phát xuất sắn, không biết đến những bệnh tim này cho đến khi chế độ ăn uống bị biến đổi và giống với chế độ ăn uống của chúng ta. Quan sát cũng đã thấy rằng những population này ít bị những ung thư đại tràng hơn.
Cũng như đối với nhiều công trình nghiên cứu về chế độ ăn uống, những công trình này đã bị xét lại bởi vì không thể tách riêng những tác dụng của một yếu tố nhất định của một thức ăn, các sợi, với những tác dụng của chính thức ăn, sắn, cũng như với những tác dụng của những thức ăn khác, nguồn gốc châu Phi, lên sức khỏe của một population bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố môi trường khác.
Vài sợi hòa tan dường như có khả năng bắt cholestérol : các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng sự tiêu thụ các sợi cho phép làm giảm cholestérol huyết. Những sợi khác dường như làm chậm lại sự hấp thụ của các glucide : những công trình nghiên cứu nhằm chứng minh rằng các sợi phòng ngừa những pic de glycémie và sự phát triển của bệnh đái đường.Cũng như những công trình của Burkitt, những công trình nghiên cứu này không thể xét đến tất cả những yếu tố góp phần khi ta yêu cầu những người tham gia biến đổi một yếu tố duy nhất của cách ăn uống của họ. Loại công trình nghiên cứu này chỉ có thể có giá trị khi khảo sát một population đồng nhất, cách ăn uống tương tự, những lối sống tương tự, môi trường tương tự, quá khó để tìm thấy tầm cỡ đủ cho những kết quả đáng tin cậy về những bệnh mãn tính hay lâu dài.
THỂ DỤC
Cùng tableau đối với những chế độ “sợi” làm gầy (régime “fibres” amaigrissant).Nếu một sự mất cân được ghi nhận nhanh chóng, đôi khi gây những tác dụng âm tính lên sự tiêu hóa, sự lên cân trở lại gần như không thể tránh được.
Tuy nhiên công trình về sợi đã cho những kết quả đo được trong trường hợp của vài bệnh lý cấp tính : chúng cần thiết cho một như động ruột đều đặn, cần thiết để tránh bón, trĩ, và để giảm nguy cơ diverticulose. Nó cho phép phòng ngừa sự tái phát của sỏi mật ở vài bệnh nhân. Tuy nhiên chúng phải được tránh trong trường hợp bộc phát viêm ở những bệnh nhân bị những bệnh lý của ruột.
Điều mà những công trình nghiên cứu cũng chứng minh, năm này qua năm khác, đó là một cách ăn uống đa dạng hóa với lượng hợp lý, liên kết với một thể dục đều đặn, làm giảm nguy cơ của đa số những bệnh mãn tính.
(LE FIGARO 30/5/2016)

3/ FODMAPS : NHỮNG KẺ THÙ MỚI CỦA RUỘT CỦA CHÚNG TA ?
” FERMENTABLE OLIGO-, Di-, Monosaccharides And Polyols ” : acronyme anglais không thể dịch được này chỉ một tổng thể những phân tử, chủ yếu những đường và những dẫn xuất của chúng, hiện diện trong chế độ ăn uống của chúng ta và đôi khi chịu trách nhiệm những lên men quá mức và không thoải mái trong ruột. Fructanes, levanes, galactanes và inulines là những thí dụ về oligosaccharides fermentescibles. Trong số những chuỗi đường ngắn hơn : lactose và fructose và sau cùng nhiều polyols như mannitol, sorbitol và xylitol. Chế độ nghèo Fodmaps đầu tiên ban đầu được phát triển ở đại học Monash de Melbourne bởi một chuyên gia dinh dưỡng Úc, Susan Shepherd.
Chúng hiện diện trong nhiều thức ăn chứa những sợi như vài ngũ cốc như lúa mì (blé), đại mạch (orge), lúa mạch đen (seigle), trái cây, vài loại rau (artichaut, chicorée), rau khô, hành, tỏi, vài sản phẩm sữa. Các polyols, ít hiện diện trong những thực vật tự nhiên, hiện diện với số lượng lớn trong chế độ ăn uống của chúng ta qua trung gian của vài édulcorant tổng hợp được sử dụng trong thức ăn, đồ uống và mứt kẹo công nghiệp. Vậy chúng có thể được loại bỏ dễ dàng hơn bởi vì chúng hiếm khi hiện diện trong những sản phẩm mang lại những yếu tố dinh dưỡng cần thiết.
Vai trò của chúng đã được nhận diện ở những người, ngày càng nhiều, bị một intestin irritable hay sensible, mà những triệu chứng đôi khi không thể chịu được. Những bệnh nhân này có thể giảm sự tiêu thụ những thức ăn giàu Fodmaps mà không cần loại bỏ hoàn toàn. Thật vậy, những thức ăn này thường chứa những yếu tố cần thiết cho một sự dinh dưỡng không nguy cơ đối với sức khỏe.
Người ta cũng đã chứng mình rằng vài Fodmaps là những probiotiques cần thiết cho một khuẩn chí ruột hiệu quả. Loại bỏ chúng hoàn toàn khỏi chế độ ăn uống có thể, một cách nghịch lý, dẫn đến sự trầm trọng hóa của những rối loạn mà chúng dường như gây ra.
(LE FIGARO 30/5/2016)

4/ NHỮNG SỢI HÒA TAN HAY KHÔNG HÒA TAN ?
Các sợi là những yếu tố nguồn gốc thực vật mà cơ thể của chúng ta không có khả năng đồng hóa. Chúng đi xuyên qua hệ tiêu hóa của chúng ta mà không bị thoái biến nhưng có khả năng giữ nước được chứa trong những thức ăn : phân khi đó được tạo thành chứa khá nhiều nước và tạo thành một thể tich đủ để được
lôi đi một cách đều đặn dọc theo ruột. Các sợi được tạo thành bởi hai họ lớn tùy theo chúng hòa tan trong nước hay không. Những sợi không hòa tan như cellulose hay lignine chủ yếu có trong vỏ của các trái cây, rau và các hạt. Cám lúa mì (sơn để blé) mà các thầy thuốc khuyến nghị trong trường hợp bón chưa nhiều những sợi không hòa tan cũng như những ngũ cốc hoàn toàn (céréales complètes). Bánh mì và bột nhão (pates) cho phép một cung cấp đều đặn.Các rau khô chứa nhiều sợi không hòa tan.
Các sợi hòa tan như pectine, gomme, mucilage có trong nhiều trái cây và rau cũng như trong avoine, orge. Các rau khô cũng giàu các sợi hòa tan.Mặc dầu ít hiệu quả hơn cám chống bón, nhưng chúng được dung nạp tốt hơn.
(LE FIGARO 30/5/2016)

5/ DỊ ỨNG THỨC ĂN. ĐIỀU TRỊ NÀO ?
GS Jocelyne Just, service d’allergologie et asthme, bệnh viện Armand-Trousseau, Paris XIIè, và chủ tịch của Société française d’allergologie, giải thích những nguy cơ và những điều trị của các dị ứng thức ăn đang gia tăng tần số.
Hỏi : Dị ứng thức ăn là gì ?
GS Jocelyne Just : Đó là một sự tăng nhạy cảm tức thời (HI : hypersensibilité immédiate) chống lại một protéine (dị ứng nguyên) của một thức ăn nào đó. Sự tiếp xúc với dị ứng nguyên phát khởi một phản ứng bất thường của hệ miễn dịch của người bệnh, qua những kháng thể được gọi là IgE (immunoglobulines E) và vài tế bào (basophiles, éosinophiles, mastocytes), phóng thích những chất viêm. Những triệu chứng xuất hiện một cách nhanh chóng sau khi hấp thụ (vài phút đến 10 phút)
Hỏi : Những người nào bị liên hệ ?
GS Jocelyne Just : Tăng nhạy cảm tức thời thức ăn (HIA : hypersensibilité immédiate alimentaire) ảnh hưởng 3 đến 4% những trẻ em, nhất là những nhũ nhi, và 1 đến 2% những người lớn. Tỷ lệ toàn bộ của HIA đã tăng gấp đôi trong 20 năm. Ở nhũ nhi, một tố bẩm di truyền thường hiện hữu (nhưng tiền sử tương tự ở cha mẹ hay trong gia tộc). Ngoài ra, nếu đứa trẻ đã bị một eczéma xảy ra sớm và nặng trong cuộc sống của nó, xác suất xuất hiện một HIA tăng cao.
Hỏi : Những dị ứng nguyên gây dị ứng thức ăn là gì ?
GS Jocelyne Just : Những protéine của sữa, trứng hay lạc (arachide) chiếm 90% những trường hợp ở trẻ nhỏ. Đối với thiếu niên và người lớn, những dị ứng nguyên thường khác nhau và là nguồn của những dị ứng được gọi là “chéo”, do sự tương tự phân tử giữa các protéine, thí dụ sự tương tự giữa phấn (pollen) (bouleau…) và vài trái cây (bom…), gây nên cũng phản ứng dị ứng tức thời. Với sự tiến triển của những chế độ ăn uống, những dị ứng nguyên mới xuất hiện một cách đều đặn ; cách nay 30 năm, dị ứng với lạc là hiếm.
Hỏi : Dị ứng được biểu hiện như thế nào ?
GS Jocelyne Just : Hội chứng miệng (syndrome oral) với sự xuất hiện đột ngột một sự sung phù ở miệng, môi, hay một plaque urticaire là thường gặp nhất. Một thương tổn tiêu hóa (mửa, đau bụng), hô hấp (viêm mũi, ho, cơn hen phế quản, phù thanh quản), mắt (viêm kết mạc) hay da (urticaire géante) cũng có thể xảy ra. Thương tổn ở hai vị trí xác định phản vệ (anaphylaxie), hôm nay 4 đến 7 lần thường gặp hơn cách nay 20 năm ; đôi khi nó là dấu hiệu khởi đầu, tiến triển trong vài phút thành choáng phản vệ với sụt giảm quan trọng huyết áp và nguy cơ tử vong.
Hỏi : Thủ thuật chẩn đoán là gì ?
GS Jocelyne Just : Thủ thuật chẩn đoán là đơn giản ở một nhũ nhi bị một đợt tăng nhạy cảm tức thời (HI) ngay sau khi uống sữa và không gì khác, phức tạp hơn ở trẻ em và người lớn khi nhiều thức ăn bị nghi ngờ. Ta thực hiện những trắc nghiệm da, tốt nhất với những thức ăn được sử dụng tại nhà, định lượng IgE trong máu chống lại dị ứng nguyên hay một mảnh của nó. Sau cùng nếu tất cả những kiểm tra này âm tính, một test de provocation alimentaire trong môi trường bệnh viện cho phép xác nhận hay phủ nhận chẩn đoán.
Hỏi : Làm sao điều trị một tăng nhạy cảm tức thời thức ăn (HIA : hypersensibilité immédiate alimentaire) ?
GS Jocelyne Just : Điều trị là loại bỏ dị ứng nguyên gây bệnh, không phải luôn luôn đơn giản bởi vì những sản phẩm như sữa hay trứng hiện diện khắp nơi dưới dạng ẩn (formes cachées). Do đó tầm quan trọng cần giáo dục các gia đình liên hệ khi đọc những nhãn hiệu. Trong pháp luật châu Âu, 14 loại thức ăn gây dị ứng thường gặp nhất bắt buộc được nêu lên. Những dị ứng nguyên mới (sữa cừu hay dê) chưa có mặt trong danh sách này. Khi còn nghi ngờ (sản phẩm thủ công không dán nhãn), phải tránh dùng. Điều trị các cơn nhẹ nhờ đến những antihistaminiques và corticoides bằng đường miệng. Những thể nặng (phản vệ và choáng phản vệ) được điều trị bằng adrénaline tự tiêm cấp cứu, phải luôn luôn có sẵn trong tầm tay. Từ nay có thể désensibilisation : bệnh nhân nhận mỗi ngày, trong nhiều tháng hoặc hơn, những liều tăng dần dị ứng nguyên gây bệnh, cho đến khi có được một ngưỡng tolérance immunitaire không còn gây phản vệ nữa, vậy không còn những cơn nặng, thậm chí chữa lành. Sự cho bằng đường miệng dị ứng nguyên là hiệu quả nhất (tỷ lệ chữa lành 50%, tolérance không phản vệ 25%) nhưng nguy cơ hơn những đường khác (dưới lưỡi, da) và, vì lý do này, được dẫn đến bệnh viện.
(PARIS MATCH 22/2-28/2/2018)

6/ PHÁT HIỆN UNG THƯ BẰNG XÉT NGHIỆM MÁU TRỞ THÀNH CỤ THỂ
Một trắc nghiệm được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã cho phép phát hiện dấu vết của 8 loại ung thư. Định vị của chúng đã có thể được đoán trước nhờ một algorithme d’intelligence artificielle.Chính một mục tiêu quan trọng của recherche biomédicale dường như đến gần : phát hiện ung thư bằng một xét nghiệm máu đơn thuần. Được mệnh danh CancerSEEK, một trắc nghiệm, được phát triển bởi các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ của đại học Johns Hopkins de Baltimore (Hoa Kỳ), đã cho phép phát hiện dấu vết của 8 loại ung thư (buồng trứng, gan, tụy tạng, dạ dày, thực quản, đại tràng, vú và phổi. Định vị của ung thư đã có thể nói trước trong hơn 60% các trường hợp nhờ một algorithme d’intelligence artificielle. Nguyên tắc là định lượng các protéine và những mảnh ADN liên kết với những u ung thư. Thật vậy, ADN tumoral được phóng thích khi các tế bào ung thư chết trong các khối u. Bởi vì nó chỉ đại diện một phần cực nhỏ của ADN tế bào được tìm thấy trong máu, nên những kỹ thuật phát hiện cực kỳ nhạy cảm là cần thiết để có thể đọc được những séquences này. Cho đến nay, sự phát hiện này chỉ có thể ở những bệnh nhân ở một giai đoạn tiến triển hơn của bệnh, khi khối u đã lớn và khi những di căn đã khuếch tán trong cơ thể.
Để phát hiện bệnh ở một giai đoạn sớm hơn, các nhà nghiên cứu đã gia tăng tính nhạy cảm của trắc nghiệm : Họ đã phối hợp 8 protéine trong máu liên kết với ung thư với sự phát hiện của 13 biến dị điển hình của ADN tumoraux. Sau đó, sự phối hợp của các marqueurs di truyền và protéine này đã được đo trong máu của một ngàn bệnh nhân rồi được phân tích bằng vi tính. Điều đó đã cho phép phát hiện % ung thư vú, cho đến 98% những ung thư buồng trứng hay gằn. Ngoài ra, trắc nghiệm đã tỏ ra rất ít “dương tính giả” ở hơn 800 người lành mạnh được dùng làm chứng.
MỘT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN 50.000 PHỤ NỮ TRONG 5 NĂM
Khả năng phát hiện ung thư trước khi các di căn xuất hiện là một phương tiện để loại bỏ nó nhanh hơn bằng ngoại khoa hay bằng điều trị thuốc hay X quang. Các nhà nghiên cứu đã loan bảo rằng trắc nghiệm của họ sẽ có thể được tiếp cận rộng rãi bởi vì tổn phí dưới 500 dollars (khoảng 405 euros). Trước khi điều đó được phổ biến, khả năng thật sự phát hiện bệnh phải được đánh giá trong population générale. Phải kiểm tra rằng sự phát hiện đúng là cho phép giảm tỷ lệ tử vong. Do đó các tác giả đã phát động một chiến dịch phát hiện trong 5 năm 50.000 phụ nữ tuổi từ 65 đến 75 chưa bao giờ bị ung thư.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2018)

7/ NGÁY : NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÁC NHAU, NHIỀU GIẢI PHÁP
GS Frédéric Chabolle, trưởng khoa TMH, bệnh viện Foch ở Suresnes, điểm những phương pháp cho phép điều trị chứng ngáy.Hỏi : Ngáy của người trưởng thành là một bệnh hay là một yếu tố nguy hại ?
GS Frédéric Chabolle : Khi xảy ra riêng rẻ, không những triệu chứng liên kết như ngủ ngà ban ngày (somnolence diurne) hay ngừng thở ngắn (pauses respiratoires), đó là một yếu tố nguy hại (nuisance). Trong trường hợp trái lại, nó có thể liên kết với một bệnh, thường là một syndrome d’apnées obstructives du sommeil (SAOS). Ở những người trưởng thành, phần lớn xảy ra ở đàn ông, nhưng phụ nữ, sau mãn kinh, ngáy nhiều như đàn ông. Tổng cộng 40% dân số trưởng thành ngáy một cách thường trực hay đoạn hồi.
Hỏi : Cơ chế là gì ? Cần thực hiện bilan nào ?
GS Frédéric Chabolle : Ngáy có một nguồn gốc cơ học. Nó cần một moteur và một vibrateur. Họng bị hẹp tạo nên sự chảy rối của khí. Lưỡi gà (luette) và màng hầu (voile du palais), được kích hoạt bởi sự chảy rối này, đến đập vào những thành của họng, càng dễ dàng khi bệnh nhân ngủ nằm ngửa : đó là những vibrateur. Bilan, bằng một vấn chẩn nhắm đích, trước hết phải loại bỏ SAOs mà enjeu trên bình diện y tế và điều trị khác với ngáy đơn giản. Một examen du sommeil cho phép đảm bảo sự vắng mắt của SAO : nó được thực hiện ngoại trừ tại nhà của bệnh nhân. Những capteur portable nhỏ ghi và đo những lưu lượng khí mũi và miệng, cũng như độ bảo hòa oxy trong khi bệnh nhân ngủ. Đứng trước một ngáy đơn thuần, ta sẽ tìm kiếm những yếu tố làm dễ : tăng thể trọng, xương hàm dưới bị lùi ra sau, những amygdale lớn, phì đại của màng hầu, lưỡi gà quá dài, lưỡi lớn.
Hỏi : Ta hiện có những điều trị nào ?
GS Frédéric Chabolle : Trong trường hợp khí đi qua bị trở ngại, ta mở rộng đường khí ra : ta lấy đi những amygdale phì đại hay ta đưa ra trước một hàm dưới quá lùi ra sau nhờ mang, chỉ vào ban đêm, một prothèse dentaire nhỏ. Trong trường hợp vibrateur quá lớn hay mềm, ta có thể làm cứng, nhờ những onde de radiofréquence, một voile du palais phì đại, hay thu nhỏ bằng laser lưỡi gà quá dài : hai kỹ thuật được thực hiện với gây tê và ngoại trú. Nếu ngáy thuần do tư thế (ronflement positionnel), ta sử dụng một điều trị tư thế cơ học (traitement postural mécanique) : một thiết bị nhẹ được đặt trong lưng, buộc bệnh nhân ngủ nằm nghiêng bên vào ban đêm : cũng có thể sử dụng một vibreur d’alerte. Một phương pháp khác rất hiệu quả là làm giảm một tăng thể trọng bởi vì mô mỡ quá dư thừa bên trong chất đầy những thành của đường khí.
Hỏi : Kỹ thuật mới nhất, kỹ thuật của Nastent là gì ?
GS Frédéric Chabolle : Nastent là một tube siliconé cuc mềm, cải thiện sự đi qua của khí, xuyên qua mũi và sau voile du palais, mà nó cũng ngăn cản rung. Bệnh nhân tự đưa ống vào một trong những lỗ mũi trước khi ngủ. Sự mềm dẻo của silicone liên kết với một gel bôi trơn làm động tác này dễ thực hiện. Những công trình nghiên cứu, trong đó công trình nghiên cứu mà chúng tôi tiến hành, cho thấy rằng sau vài ngày thiết bị được chấp nhận bởi hầu hết bệnh nhân. Một clip nasal nhỏ giữ ống tại chỗ. Điểm chủ chốt là đánh giá tốt chiều dài hiệu quả của ống, riêng cho mỗi cá thể, để đầu mũi của nó hơi vượt quá voile du palais. Thầy thuốc ORL chịu trách nhiệm về sự điều chỉnh này.

Hỏi : Nhưng kết quả toàn bộ và đặc biệt của những phương pháp khác nhau này.
GS Frédéric Chabolle : Tính hiệu quả của nó luôn luôn chủ quan, liên kết với độ thoa mãn của chồng. Trung bình độ thỏa mãn có được trong 80% các trường hợp. Nếu ta áp đúng kỹ thuật tốt cho cơ chế gây bệnh, sự thành công sẽ đạt được. Do đó bilan ban đầu là thiết yếu. Những kết quả có thể xuống cấp với thời gian (giãn cơ, lên cân) và, nếu không đủ, biện minh sự phối hợp của nhiều kỹ thuật khác nhau.
Hỏi : Những biện pháp vệ sinh-dinh dưỡng có được khuyến nghị ?
GS Frédéric Chabolle : Phải tránh uống rượu quá mức và những bữa ăn qua dồi dào buổi chiều, giảm, khi điều đó có thể, sự sử dụng các thuốc ngủ, chống sự tăng thể trọng và nghiện thuốc lá làm viêm và dày các thành của họng. Người ngáy đơn thuần (không SAOS) và sống một mình không cần phải điều trị.
(PARIS MATCH 7/12-13/12/2017)

8/ BẢO VỆ MÀNG NÃO SAU MỘT ĐỘT QỤY.
Những biện pháp thận trọng có thể thực hiện để hạn chế những nguy cơ sau một tai biến mạch máu não.NEUROLOGIE. Mặc dầu ít thấy có thể thấy hơn những di chứng vật lý như bại liệt bán thân, sa sút trí tuệ (déclin cognitif) sau một tai biến mạch máu não đúng là có thực. ” Một nửa những người đã từng bị một tai biến mạch máu não sẽ giữ những rối loạn nhận thức (trouble cognitif) quan trọng ít hay nhiều “, giáo sư Olivier Godefroy, neurologue của CHU d’Amiens đã nhấn mạnh như vậy. ” Sau một tai biến mạch máu não đầu tiên, 10% bệnh nhân sẽ phát triển một démence và 30% sau một tai biến mạch máu não thứ hai “, giáo sư Charlotte Cordonnier, neurologue của CHU de Lille đã nói như vậy.
Trong phần lớn các trường hợp, démence sẽ không xuất hiện tức thời sau đột qụy. ” Vậy điều quan trọng là phải theo dõi những di chứng như những rối loạn của sự tập trung, sự xuất hiện của những rối loạn trí nhớ, những rối loạn khí chất “, giáo sư Charlotte Cordonnier đã nhấn mạnh như vậy.
Hai quá trình có liên quan. Trong trường hợp đầu, đột qụy sẽ gia tốc sự xuất hiện của những dấu hiệu lâm sàng của một bệnh Alzheimer, đã hiện diện im lặng cho đến lúc đó. Thật vậy, trong nhiều năm, tính dẻo (palsticité) của não bộ cho phép bù những tổn hại gây nên bởi căn bệnh. ” Nhưng nếu tai biến mạch máu não xuất hiện và phá hủy mô não trong những vùng chiến lược đối với năng lực nhận thức (cognition), nó sẽ làm mất bù một cách đột ngột một tình trạng vốn đã bấp bênh “, giáo sư Jacques Touchon, professeur émérite và phó khoa trưởng y khoa Montpellier đã giải thích như vậy. Không có tai biến mạch máu năo này, bệnh Alzheimer có lẽ sẽ không bao giờ phát ra hay trễ hơn nhiều. Trong trường hợp thứ hai : não không bị thương tổn bởi bệnh Alzheimer. Sự xuất hiện của chứng sa sút trí tuệ thuần huyết quản (démence vasculaire) khi đó sẽ tùy thuộc vào định vị của tai biến mạch máu não và tầm quan trọng của thể tích mô bị phá hủy.
Một khi chứng sa sút trí tuệ xuất hiện, bất hạnh thay chưa có điều trị. Ngược lại, càng ngày càng có những công trình nghiên cứu gợi ý rằng có thể phòng ngừa sự sa sút trí tuệ sau một tai biến mạch máu não. Vi vệ c làm có thể bảo vệ các màng não, nếu ta tin những kết quả sơ bộ của thử nghiệm Tobasco, được trình bày cuối tháng giêng trong hội nghị quốc tế về những tai biến mạch máu não ở Los Angeles (International Stroke Conference). Thật vậy, những người, không có việc làm trước khi bị tai biến mạch máu não, có 3 lần nguy cơ phát triển một sa sút trí tuệ trong hai năm, nhiều hơn những người có một việc làm. Ngoài ra, sự trở lại làm việc sau một tai biến mạch máu não được liên kết với một nguy cơ sa sút trí tuệ ít hơn.
” Những kết quả này, chưa được công bố, phải được xét một cách than trọng. Một mặt, các nhà nghiên cứu chỉ xét đến những tai biến mạch máu não nhẹ. Ngoài ra, đó là một công trình nghiên cứu liên kết (étude d’association) chứ không phải một công trình nghiên cứu nhân quả (étude de causalité). Điều này có nghĩa rằng việc làm tự nó có thế không phải là một yếu tố bảo vệ nhưng là một dấu hiệu chỉ hoạt động tốt của trí tuệ “, giáo sư Olivier Godefroy đã nhấn mạnh như vậy. Rõ ràng : chính chất lượng của các năng lực của não trước khi xảy ra tai biến mạch máu não sẽ cho phép làm giảm những rối loạn nhận thức. ” Chúng ta biết rằng một não bộ càng bị kích thích, nó càng phát triển một réserve cérébrale. Dự trữ não này sẽ cho phép nó chống lại tốt hơn những tấn công bởi vì khi đó nó sẽ tổ chức những circuit mới để bù những thiếu hụt “, giáo sư Jacques Touchon đã định rõ như vậy.
Đã được biết là làm chậm lại sự xuất hiện của những dấu hiệu lâm sàng của bệnh Alzheizmer, réserve cérébrale thiết yếu để chống lại tất cả chứng sa sút trí tuệ. Để kích thích những neurone, người ta khuyên thay đổi các thú vui. Đọc, khám phá informatique, học tiếng Anh, làm vườn nhưng cũng tham gia vào các câu lạc bộ, các hiệp hội…Như giáo sư Jacques Touchon nhắc lại, nếp cũ là một kẻ giết các neurone (la routine est une tueuse de neurones).
Nhưng “muscler” các màng não của mình không đủ. Bằng mọi giá phải tránh sự xuất hiện của một tai biến mạch máu mới làm tổn hại thêm một chút nữa não bộ. Thế mà, sau một tai biến mạch máu não thứ nhất, nguy cơ tái phát là 30 đến 50% trong 5 năm tiếp theo. Vậy đó là phải giữ cho não có sức khoẻ tốt. Như thế nào ? Bằng cách chăm lo những huyết quản của nó. Để được như vậy, như giáo sư Charlotte Cordonnier đã nhắc lại như vậy, phải có một hoạt động vật lý đều đặn, một sự kiểm tra nghiêm túc huyết áp hay cân bằng bệnh đái đường của mình. Chế độ ăn uống cũng đóng một vai trò bảo vệ, theo những kết quả của một thử nghiệm khác được trình bày trong hội nghị quốc tế ở Los Angeles. Một chế độ ăn uống loại MIND, hỗn hợp của chế độ Địa Trung Hải với chế độ DASH (chống cao áp), dường như hiệu quả chống sa sút trí tuệ sau một tai biến mạch máu não. Rau xanh, trái cây, cá mỡ (poisson gras) và dầu olive vẫn là những đồng minh tốt nhất của não bộ.
(LE FIGARO 5/2/2018)

9/ PHÒNG NGỪA TỰ TỬ
Tỷ lệ tự tử ở Pháp vẫn là một trong những tỷ lệ cao nhất châu Âu, hoặc 25 trường hợp tử vong mỗi ngày (8885 năm 2004), với đàn ông 3 lần nhiều hơn đàn bà, nhất là ở những người trên 45 tuổi. Đó cũng là nguyên nhân gây tử vong ở những người 15-24 tuổi. Treo cổ (57% trường hợp) được sử dụng nhiều nhất, trước hỏa khí (12%), thuốc (11%) và nhảy trong chân không (7%). Mỗi năm, gần 80.000 nhập viện liên quan một toan tính tự tử (TS : tentative de suicide). Tăng cường sự phòng ngừa bằng cách phát hiện những thiếu niên có nguy cơ trong môi trường học đường, phổ biến những hành động canh tuần và tiếp xúc sau một toan tính tự tử, trong ít nhất 6 tháng (dispositif VigilanS mà Bộ y tế muốn phổ biến), hỗ trợ hơn cho những nghề nghiệp nguy cơ (nông gia, cai tù…)
(PARIS MATCH 8/3-14/3/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(19/3/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 464 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 497 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s