Thời sự y học số 462 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ CÓ THAI TUỔI THIẾU NIÊN : DỰ KIẾN NHỮNG KHÓ KHĂN
Những bà mẹ rất trẻ trước hết cần sự ủng hộ và lòng khoan dung.ACCOUCHEMENTS. Ở Pháp, 7400 phụ nữ trẻ dưới 19 tuổi đã sinh trong năm 2015, trong số họ 476 dưới 16 tuổi, những con số mới nhất của viện nghiên cứu dân số học quốc gia (Ined) đã chỉ như vậy. Vào năm 1980, 25.600 lần sinh ở những bà mẹ dưới 19 tuổi đã được thống kê, trong đó 911 ở những thiếu nữ dưới 16 tuổi.2/3 những thai nghén không được mong muốn trước 19 tuổi đã bị gián đoạn. Số những maternité adolescente không ngừng giảm.
Những thai nghén ở tuổi thiếu niên này, được xem là có nguy cơ, được kèm theo một surrisque tối thiểu sinh non và trọng lượng thấp lúc sinh. ” Surrisque này không phải là do tuổi trẻ của những người mẹ, những chỉ là do những điều kiện xã hội-kinh tế xấu trong đó sống vài trong số những bà mẹ này, và có cùng tác động ở những người mẹ lớn tuổi hơn “, GS Israel Nisand, thầy thuốc phụ sản (CHU de Strasbourg) đã giải thích như vậy. ” Trên bình diện sinh lý, một thiếu nữ 15 tuổi có thể chịu và tiến hành tốt một thai nghén không khó hơn một phụ nữ khác “.
Nguy cơ chủ yếu là tâm lý. ” Không có profil hay chỉ dấu tâm lý chung cho những thai nghén sớm (grossesses précoces). Chúng tôi tìm kiếm một trầm cảm ẩn dấu, hơi thường gặp hơn trong quần thể này “, BS Pierre Désaunay, pédopsychiatre (CHU Rouen) đã nhấn mạnh như vậy. Những bà mẹ trẻ này tất cả đều gặp pédopsychiatre hay một psychologue.” Chúng tôi tìm cách hiểu trong bối cảnh gia đình nào một phụ nữ rất trẻ muốn trở thành mẹ, để phát hiện những tình huống dễ bị thương tổn (situation de vulnérabilité), trong đó thai nghén liên hệ với một sự đau khổ của người thiếu nữ trong gia đình. Chúng tôi đề nghị một theo dơi cho những người mà tình huống làm chúng tôi lo ngại : những bà mẹ rất trẻ, những bà mẹ thiếu tình cảm hay sống trong những bầu không khí bạo lực vợ chồng hãy gia đình, những bà mẹ có một parcours personnel khó khăn hay bị tách rời về mặt xã hội.
Tất cả những thai nghén thiếu niên này đều đặc biệt. Đối với nhà tâm lý học Jacqueline Wendland (đại học Paris-Descartes và bệnh viện Pitié-Salpetrière) Phải phân biệt ước muốn có thai và có con ” Trong mong muốn có thai, chính
sự thèm muốn trắc nghiệm cơ thể của mình, khả năng sinh sản được tỏ bày ” và thường sẽ dẫn đến một IVG. Những việc khác cũng góp phần trong sự thèm muốn làm mẹ. ” Làm mẹ có thể được sống như một cách tiếp cận autonomie. Trong vài tình huống fragile, ta có thể xét nó như một dạng sửa chữa những carence affective hay để cho một ý nghĩa cho sự hiện hữu của họ. Vài người trở thành những bà mẹ trẻ bởi vì họ sinh ra từ những cha mẹ trẻ. Những thai nghén sớm này cũng có thể liên kết với valorisation của tư cách làm mẹ trong vài văn hóa “, BS Désaunay đã giải thích như vậy.Rộng hơn, chúng cũng liên hệ với tình huống học đường, vật chất, quan hệ, trong đó những thiếu nữ này hiện diện. ” Đối với một thiếu nữ rất trẻ gián đoạn học đường, hay không tìm được địa vị của mình trong xã hội, việcđ ạt được tư cách làm cha mẹ có thể là một cách đi vào trong xã hội này, vì lẽ đó là một cách để trở nên trưởng thành về mặt xã hội”, Yaelle Amsellem-Mainguy, sociologue ở Injep, chỉ rõ như vậy. Ông nhắc lại rằng nếu, ở Pháp, tuổi thành niên dân sự và hình sự được ấn định lúc 18 tuổi, sự công nhân xã hội bởi sự mở của những quyền được vài trợ giúp chỉ xảy ra ở tuổi 25, ngoại trừ đã trở thành cha mẹ.
Đối với GS Nisand, tầm quan trọng xã hội-kinh tế nằm ở bình diện đầu của những thai nghén thiếu niên (grossesses adolescentes). ” Những thiếu nữ hội nhập tốt về mặt xã hội nhờ đến ngừa thai. Những thiếu nữ hội nhập hơi ít hơn nhờ đến IVG và những phụ nữ hội nhập còn ít hơn ngay cả không nhờ đến. ” Những thai nghén rất sớm này không luôn luôn không được mong muốn. ” Vì tương lai của đứa bé tùy thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn của người mẹ, nên sự trở lại trường của những thiếu nữ này là một loại cấp cứu đối với những người hành nghề y tế bao quanh chúng.”
Thế mà sự tái tục đi học vẫn phức tạp. Dung hòa đời sống học đường với chức năng làm mẹ tỏ ra kỳ tài. ” Với sự ra đời của em bé, người thiếu nữ sẽ có ít thời gian rảnh hơn, sẽ từ chối nhiều việc…Vậy phải ân cần với nó, giúp đỡ nó trong việc tiếp tục học hành nhưng cũng có thể giữ những quan hệ với những người bạn cùng lứa tuổi của nó…”, Jacqueline Wendland đã nhấn mạnh như vậy. Một nỗi ưu tư mà BS Désaunay cũng bày tỏ : ” Chúng ta chú ý để cho những bà mẹ trẻ này, vì bận rộn với con mình, không khép lại mối liên hệ bằng hữu, những dự định cá nhân. ” Những bà mẹ trẻ muốn tìm lại công việc đương đầu với tất cả những chướng ngại mà những người trẻ gặp, gia tăng bởi những bó buộc của bổn phận làm mẹ. Nhưng cũng có những người trẻ đối với họ thai nghén là một lựa chọn cố ý, một projet assumé. Vài trong số những grossesse adolescente này có thể hoàn toàn hạnh phúc nếu chúng được hoàn thành tốt và được chấp nhận.
(LE FIGARO 13/3/2018)

2/ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CHA PHẢI ĐƯỢC PHÁT HUY
Làm sao giúp đỡ tốt hơn những bà mẹ thiếu niên (mères adolescentes) đảm nhận vai trò của họ ? Đối với GS Désaunay, ” phải có thể chăm chú hơn đến những thiếu nữ đang đau khổ. Vài thiếu nữ thiếu tình cảm, chờ đợi từ vai trò làm mẹ một loại sức bền va (résilience), trong khi, trái lại vài trò này có thể làm gia tăng nỗi cô đơn của họ. Sự phòng ngừa những khó khăn chủ yếu tùy thuộc sự hỗ trợ mà ta chờ thể mang lại cho họ, về sự đa dạng và chất lượng của những mối liên hệ trong couple, với gia đình, với sage-femme, puéricultrice, những services sociaux, trường học, bạn bè….”
Vai trò của người cha cũng đang được phát huy. ” Những père adolescent rất thường vắng bóng. Nhưng khi người cha hiện diện hay muốn dấn thân, khi những quan hệ với người mẹ là tốt, điều đó có lợi cho tất cả, Jacqueline Wendland đã nhấn mạnh như vậy. Những người cha trẻ này khó tìm vị trí của mình. Xã hội cũng phải có một thái độ niềm nở hơn đối với họ. Vài foyer d’hébergement “mère-enfant” bắt đầu tiếp đón những couple de jeunes parents, nhưng điều đó vẫn còn quá hiếm.”
Đối với Yaelle Amsellem-Mainguy, nhiều điều phụ thuộc vào những người thân cận. ” Gia đình, hiện diện để giúp đỡ người mẹ, đảm bảo một phần sự trông coi để cho phép trở lại trường học hay tiếp tục một công việc, sự hỗ trợ của những service d’Etat và của những tập thể có thể là một hỗ trợ quí giá. ” Cho tiến triển nào trong thời gian dài hạn ? ” Có rất ít dữ kiện lượng về parcours về sau của những phụ nữ này, và không một điều tra theo dõi. Vậy, trong tình trạng hiện nay, đó là một câu hỏi không có câu trả lời.”
NGUY CƠ CONFUSION DES IDENTITES
Nhưng có nhiều cas de figure. Khi người mẹ trẻ sống chung với cha mẹ mình, không có người cha, em bé đôi khi cũng được nuôi nấng dạy dỗ bởi mẹ và bà ngoại mình. Đôi khi bà ngoại quá đảm đang, khiến người mẹ trẻ bị quy về vai trò con gái. Đến độ một loại lẫn lộn của identités có thể được xác lập. Cũng không phải là hiếm người mẹ của người phụ nữ trẻ, nếu vẫn còn trẻ, đến lượt có em bé của mình, như thế người thiếu nữ, lúc trở thành mẹ, chuyển vai trò làm mẹ của mình cho vai trò “vieille”.
Tương lai của những bà mẹ thiếu niên vậy tùy thuộc vào sự ủng hộ của compagnon, khi hiện diện, và tùy thuộc vào cha mẹ giúp đỡ, tùy thuộc vào tình hình xã hội kinh tế của họ thoải mái hay khó khăn, tùy thuộc vào bối cảnh xung đột ít hay nhiều, tùy thuộc vào sự hỗ trợ của các service social…để giúp họ đối đầu
(LE FIGARO 13/3/2018)

3/ NHỮNG TRƯỜNG HỢP SINH VÔ DANH.
Mỗi năm, các nhà hộ sinh Pháp đăng ký vài trăm trường hợp sinh sous X (625 năm 2014). Vậy đó là một hiện tượng rất ngoài lề. Vậy những thiếu nữ và những phụ nữ trẻ dưới 20 tuổi, còn lệ thuộc cha mẹ, trong khi họ chỉ chiếm 3,5% những trường hợp sinh trong toàn bộ dân chúng, năm 2009 chiếm hơn 1/4 những trường hợp sinh sous X.
Cùng với Luxembourg, Pháp là nước duy nhất cho phép một phụ nữ không tiết lộ căn cước của mình khi cô ta sinh một em bé ra đời. Số những trường hợp sinh vô danh (naissances anonymes) đã giảm đáng kể nhờ tính hiệu quả của những phương tiện ngừa thai và nhờ luật về IVG
DENI DE GROSSESSE
Những trường hợp sinh vô danh (accouchements sous X) thường là do sự khám phá muộn một thai nghén không được mong muốn, trong hầu như toàn bộ các trường hợp, khi đó ở ngoài thời hạn để ta có thể thực hiện một IVG, hoặc trên 12 tuần thai nghén. Trong vài tình huống, thai nghén chỉ được khám phá vào tháng thứ năm hay thứ sáu.
Những accouchement sous X cũng thường được liên kết hơn với một déni de grossesse ở những thiếu nữ này, nghĩa là sự không công nhận một cách vô thức, bởi phụ nữ có thai, về tình trạng thai nghén, bắt đầu từ tam cá nguyệt thứ hai của thai nghén này. ” Déni này không liên quan gì với một sự dấu giếm. Đôi khi, người phụ nữ có thai không có một nhận thức nào về trạng thái của mình, mà cơ thể che dấu, thí dụ có thể đi đến chỗ bắt chước sự tồn tại của kinh nguyệt, đôi khi sự cảm nhận thai nghén phù du, không hoàn toàn…”, BS Pierre Désaumay đã giải thích như vậy.
Sự lựa chọn sinh dưới X chủ yếu phát xuất từ tuổi rất trẻ của người mẹ, thường còn đi học, sự séparation hay những quan hệ khó khăn với người cha của đứa bé, sự e sợ những phản ứng của gia đình và những khó khăn xã hội-kinh tế. ” Vài tình huống thuộc loại này mà tôi đã gặp nằm trong một không khí quan hệ gia đình bị rối loạn, người thầy thuốc đã định rõ như vậy. Nhưng có phải luôn luôn như vậy ? ”
(LE FIGARO 13/3/2018)

4/ RÒ TIỂU PHỤ NỮ (FUITES URINAIRES) : NHỮNG GIẢI PHÁP HIỆN HỮU
GS François Haab, chirurgien urologue, groupe hospitalier Diaconesses-Croix Saint-Simon, Paris, et centre Urologie Paris-Opéra. Són tiểu thường gặp ở phụ nữ. Khó chịu và ít được điều trị, tuy vậy incontinence urinaire có thể chữa lành.
Hỏi : Ta phải phân biệt rò (fuite) và són (incontinence) tiểu ?
GS François Haab : Sự rò tiểu (fuite urinaire) thể hiện một sự mất bất ngờ nước tiểu nhưng không nhất thiết gây khó chịu. Són tiểu (incontinence urinaire) chỉ một sự khó chịu thật sự nhưng không nhiều hơn. Những phụ nữ bị liên hệ nhất bởi rối loạn này vì những lý do cơ thể học : ống thoát tiểu (urèthre), dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài, ngắn ở phụ nữ (5-6 cm) và thẳng, trong khi dài hơn ở đàn ông (20 cm), gập khúc lại và có nhiều cơ vòng mạnh hơn.
Hỏi : Bao nhiêu phụ nữ ở Pháp bị rò tiểu (fuite urinaire) ?
GS François Haab : Khoảng 2,5 triệu phụ nữ bị ít nhất một rò tiểu mỗi tháng, mà 25% bày tỏ một sự khó chịu…bất hạnh thay chỉ khiến 1/3 trong số họ đi khám bệnh. Những điều tra được tiến hành ở những người từ 18 tuổi đến 80 tuổi cho thấy rằng són tiểu (incontinence urinaire) gia tăng tần số với tuổi tác, với hai cao điểm, hlúc sinh đẻ và mãn kinh. Sự yếu của vùng đáy chậu (périnée) (sàn hồi âm (plancher pelvien) liên kết với tiền sử sản khoa (forceps, con lớn, sinh đẻ nhiều lần) hay với một sức ép mạnh lên đáy chậu (excès để musculature abdominale, bón mãn tính, chứng nghiện thuốc lá với ho đi kèm viêm phế quản mãn tính) là yếu tố tạo thuận đầu tiên. Một yếu tố khác thường ít gặp hơn (5% các trường hợp) là tình trạng bàng quang chưa thành thục (immaturité vésicale), chịu trách nhiệm những buồn tiểu thôi thúc không cưỡng được. Đó là một bệnh di truyền thường ảnh hưởng những thành viên khác của gia đình và có thể được biểu hiện ngay tuổi ấu thơ (pipi trên giường).
Hỏi : Những cơ chế khác nhau là gì ?
GS François Haab : Sự mất nước tiểu có thể chỉ xảy ra khi gắng sức do sự gia tăng của áp lực bụng, dầu nguyên nhân là gì. Đó là trường hợp thường gặp nhất (2/3), thường có thể làm chủ được bởi vì người phụ nữ không bị bất ngờ. Dạng khác, được gọi là “tăng hoạt tính bàng quang” (hyperactivité vésicale), là một sự muốn tiểu đột ngột, khẩn trương, không k ể im soát được, bất ngờ, đôi khi được gia tăng bởi một thời tiết lạnh và ẩm và “sự trở về nhà” (“rentrer chez soi”), lấy đi phản xạ ức chế của não. Vài bệnh nhân có hai cơ chế liên kết.
Hỏi : Mức độ nghiêm trọng của sự khó chịu được đánh giá như thế nào ?
GS François Haab : Điểm chủ yếu của chẩn đoán được thực hiện bằng vấn chẩn. Có thể được bổ sung : 1.Sự giữ một calendrier mictionnel bởi bệnh nhân. 2. Xét nghiệm tế bào vi khuẩn của nước tiểu để loại bỏ một nhiễm trùng hay sự hiện diện của máu. 3. Đối với những trường hợp phức tạp hay khi một cuộc mổ được dự kiến, một bilan urodynamique được thực hiện (không đau). Nó lập lại remplissage và évacuation của bàng quàng qua sự hấp thụ dịch, và đo bằng một sonde nhỏ những áp lực bàng quang.
Hỏi : Ta có những điều trị không xâm nhập nào và cho những trường hợp nào ?
GS François Haab : Rééducation périnéale (các cơ của âm đạo) có thể áp dụng cho tất cả những dạng của incontinene urinaire. Nó cho phép, bằng tay hay qua những sonde de stimulation électrique, học trong vài buổi co sàn hội âm lại. Một điều trị kích thích tố tại chỗ với oestrogène, bằng crème hay ovule, có thể hữu ích. Trong trường hợp tăng hoạt tính bàng quang, ta thêm vào sự phục hồi chức năng này, trong 3 tháng, sự sử dụng thuốc bằng đường miệng (anticholinergiques), hiệu quả chống lại những co thắt của bàng quang.
Hỏi : Khi nào ngoại khoa được chỉ định ? Và theo kỹ thuật nào và protocole nào ?
GS François Haab : Đối với són tiểu lúc gắng sức (incontinence d’effort) nếu sự khó chịu tồn tại mặc dầu phục hồi chức năng. Technique de référence sử dụng một bandelette mô tổng hợp trơ, rộng 1cm và dài 7 đến 15 cm, được đặt dưới niệu đạo để thay thế sàn hội âm. Các đầu được gắn vào các cơ của khung chậu nhỏ. Sức căng của bandelette tùy thuộc vào những dữ kiện của examen urodynamique. Đó là một phẫu thuật nhanh (20 phút), ngoại trú, với an thần nhẹ, được thực hiện bằng đường âm đạo (đường xẻ nhỏ) và không để lại dấu vết nào. Hậu phẫu thường đơn giản. Người ta yêu cầu người được mổ tránh những gắng sức quan trọng trong 3 tuần sau mổ. Kết quả : 90% thành công tức thời, 80% phụ nữ thỏa mãn 15 năm sau mổ (dưới 10% có một suy thoái với thời gian).
(PARIS MATCH 25/1-31/1/2018)

5/ THEO DÕI TÌNH TRẠNG GAN ĐỂ PHÒNG NGỪA TỐT HƠN CÁC CĂN BỆNH
Lúc theo dõi tình trạng của gan một cách đều đặn, ta có thể phát hiện những bệnh mãn tính của gan xảy ra ở một người trên 10 ở Pháp.HEPATOLOGIE. Những bệnh của gan thường tiến triển âm thầm và tuy vậy có một phương tiện đơn giản và hiệu quả mà các thầy thuốc đánh giá là cần phổ biến khẩn cấp. ” Định lượng transaminase phải được thực hiện một cách hệ thống lúc thực hiện mọi xét nghiệm máu thường quy “, giáo sư Patrick Marcellin, hépatologue thuộc bệnh viện Beaujon đã nhấn mạnh như vậy, nhân Paris Hepatology Conference diễn ra vào đầu tháng giêng. ” Thật vậy xét nghiệm đơn giản, đáng tin cậy, nhanh chóng và ít tốn kém này cho phép phát hiện sớm những bệnh của gan “, người chuyên gia đã nhấn mạnh như vậy.
Mặc dầu nói chung được liên kết với sự tiêu thụ rượu quá mức, sự gia tăng của transaminase thật ra hiện hiện trong nhiều bệnh của gan. Thật vậy, sự gia tăng của những enzyme này trong máu chứng tỏ sự hiện diện của một thương tổn gan liên kết với một quá trình viêm phá hủy những tế bào gan. Khi viêm trở nên mãn tính, nó sẽ thoái hóa thành fibrose (không tái sinh các mô của gan), rồi, ở giai đoạn tối hậu, thành xơ gan thậm chí ung thư gan.
Ở Pháp, hơn 700.000 người bị xơ gan, trong đó 30% ở một giai đoạn nghiêm trọng. Trong hơn 1/3 các trường hợp, tiến triển về xơ gan diễn ra thầm lặng. ” Bệnh tiến triển trong nhiều năm, trong đó có ít triệu chứng cho đến khi xuất hiện những biến chứng nghiêm trọng của xơ gan. Thế mà, nếu ta điều trị nguyên nhân một cách hiệu quả càng sớm càng tốt, điều này có thể làm được, ta có thể tránh sự tiến triển thành suy tế bào gan (insuffisance hépatocellulaire) và làm giảm nguy cơ ung thư gan “, giáo sư Didier Samuel, hépatologue của bệnh viện Paul Brousse ở Villejuif đã giải thích như vậy.
Chính vì vậy, một sự gia tăng ngay cả tối thiểu của transaminase phải luôn luôn chất vấn.” Sự tương quan giữa nồng độ transaminase và mức độ nghiêm trọng của bệnh gan không hoàn hảo. Thí dụ, ở giai đoạn xơ gan, những tế bào gan mặc dầu bị phá hủy nhưng nồng độ transaminase không nhất thiết rất cao “, giáo sư Patrick Marcellin đã giải thích như vậy.
Nhưng đừng hoảng sợ ! Mọi sự thay đổi của các men gan không đồng nghĩa gan bị phá hủy. Nếu một người trên năm bị bệnh gan, thì “một nửa trong số họ có một vấn đề hiền tính “, giáo sư Marcellin đã xác nhận như vậy. Vậy một người trên mười có liên hệ với một bệnh gan mãn tính có khả năng đưa đến xơ gan. Chính những bệnh nhân này mà ta phải phát hiện, bởi vì xơ gan và ung thư gan giết 10 đến 15.000 người mỗi năm. Thế mà không bao giờ quá muộn đối với sự phát hiện này. ” Ngay cả ở giai đoạn xơ gan, vẫn có thể cải thiện chức năng của gan và tránh sự xuất hiện của những biến chứng “, giáo sư Didier Samuel đã xác nhận như vậy.
Trong số những kẻ thù đáng sợ nhất của gan nổi lên một hội chứng ít biết hơn những viêm gan B và C nhưng cũng độc bằng : NASH. Sau acronyme barbare này, có nghĩa nonalcoholic steatohepatitis, ẩn dấu một căn bệnh của thời hiện đại, được biết hơn dưới tên bệnh của gan mỡ (maladie du foie gras). Căn bệnh này là kết quả của một chế độ ăn uống không cân bằng, quá calorique, quá nhiều mỡ, của tình trạng nhàn rỗi không hoạt động, tạo điều kiện cho sự tích tụ của mỡ trong gan. ” 10 triệu người Pháp có một stéatose hay foie gras. Không nghiêm trọng lắm. Ngoại trừ đối với 1-2 triệu người có một stéatose liên kết với viêm. Bởi vì một trên 10 sẽ trở thành xơ gan “, giáo sư Lawrence Serfaty, hépatologue thuộc bệnh viện Saint-Antoine, Paris, đã nhấn mạnh như vậy.
Hiện nay, một sự gia tăng của transaminase không thể được giải thích bởi sự hiện diện của virus d’hépatite cũng như bởi một sự tiêu thụ rượu quá mức, mà phải nghi ngờ một stéatose. Stéatose có thể được xác nhận bằng siêu âm. Vấn đề, đó là hôm nay không thể xác định, trong số những người bị stéatose, ai sẽ phát triển một stéato-hépatite thậm chí một xơ gan. Ngược lại, một sự biến đổi của lối sống và một sự mất trọng lượng 5 đến 10% cũng đủ để cải thiện stéatose và cũng có thể, khi nó hiện diện, làm thoái triển fibrose.
Nhưng chúng ta đừng lầm, sự tiêu thụ rượu quá mức vẫn là nguyên nhân đầu tiên của xơ gan ở Pháp. Trong trường hợp này, hơn là một lượng lớn được nuốt vào trong một buổi dạ hội, chính tác dụng đều đặn và cumulé thành lượng nguy hiểm.” Uống một ly rượu vang mỗi ngày không gây xơ gan. Nhưng uống 2 ly rượu vang mỗi bữa ăn mỗi ngày, hoặc 4 ly mỗi ngày, như vậy 28 ly mỗi tuần. Như vậy là quá nhiều. Giáo sư David Samuel đã giải thích như vậy. Từ tháng năm vừa qua, các chuyên gia của Santé publique France và của Viện ung thư quốc gia khuyến nghị không tiêu thụ hơn 10 ly rượu vang mỗi tuần và khuyên kiêng khem 2 ngày mỗi tuần.
(LE FIGARO 29/1/2018)

6/ NASH : TAI ƯƠNG MỚI CỦA GAN
GS Didier Samuel, trưởng khoa ở Centre hépato-biliaire, bệnh viện Paul-Brousse, Villejuif (Val-de-Marne). NASH là một maladie émergente, đôi khi nghiêm trọng, ảnh hưởng gan. GS Didier Samuel mô tả cho chúng ta căn bệnh này cũng như sự điều trị nó.
Hỏi : NASH nghĩa là gì ?
GS Didier Samuel : Thuật ngữ của chuyên môn này là chữ viết tắt tiếng Anh của Non Alcoholic Steatohepatitis : stéatose hépatique non alcoolique. Stéatose có nghĩa là tăng gánh mỡ (surcharge en graisse) của những tế bào gan. Gan mỡ (foie gras) ở đàn ông được biết từ lâu, nhưng hai sự kiện mới đây (15 năm) đã cho nó một vẻ nổi bật mới. 1. Tần số của nó tăng gấp đôi khắp nơi trên thế giới, song song với sự phổ biến của chế độ ăn uống tồi (malbouffe), tình trạng nhàn rồi không hoạt động (sédentarité), những dịch béo phì và đái đường. 2. Và một dạng ác tính của stéatose du foie đã xuất hiện, NASH, mà ta không từng biết trước đây, có thể tiến triển thành xơ gan và ung thư.
Hỏi : Bao nhiêu người bị bệnh này ở Pháp ?
GS Didier Samuel : Người ta ước tính rằng 20% những người Pháp có một stéatose du foie ở những mức độ khác nhau, rằng 15% trong số họ (2 triệu) có một NASH và rằng 20% những bệnh nhân này sẽ tiến triển thành những dạng nặng. Tất cả bắt đầu với những giọt mỡ trong những tế bào gan. Sự tăng gánh này dẫn đến một phản ứng viêm, gây nên sự tạo thành một mô sẹo (fibrose) thay thế cho những tế bào bị tổn hại. Gan cứng lại, cấu trúc của nó bị biến đổi, đôi khi đến độ làm xáo trộn kiến trúc của nó : đó là xơ gan. Xơ gan này mở đường cho những biến chứng : suy gan, ung thư. Khác với gan rượu (foie alcoolique), không bao giờ hóa thành ung thư trước giai đoạn xơ gan, gan của NASH có thể nhảy giai đoạn này và tiến triển nhanh hơn thành ác tính.
Hỏi : Những yếu tố nguyên nhân là gì ?
GS Didier Samuel : Chế độ ăn uống tăng calorique và tình trạng nhàn rỗi không hoạt động. Một ” hội chứng chuyển hóa”, hay ít nhất một trong những rối loạn xác định nó (tăng thể trọng, béo phì, đái đường loại 2, thặng dư lipide máu, cao huyết áp), hiện diện ở 8 bệnh nhân NASH trên 10. Chúng ta đứng trước một căn bệnh của văn minh phát sinh ở Hoa Kỳ 10 năm trước khi nó đến chúng ta. Và, dĩ nhiên, tất cả những bệnh tấn công gan (rượu, virus của viêm gan, tăng gánh sắt) tác động như những cofacteur tiến triển của bệnh !
Hỏi : Những dấu hiệu lâm sàng hay sinh học ?
GS Didier Samuel : Ngoài cảm giác nặng ở hông phải, đôi khi được đề cập, những triệu chứng thường thiếu. Không có đau bụng. Vài enzyme của gan bị biến đổi : sự tăng cao của gamma GT biểu hiện một thương tổn, sự tăng cao của transaminase, khá hằng định, biểu hiện một viêm. Tất cả điều đó không đặc hiệu nhưng đáng được báo động và biện minh những thăm dò.
Hỏi : Những thăm dò nào được thực hiện ?
GS Didier Samuel : Trước hết những thăm dò không xâm nhập. Một siêu âm sẽ cho thấy một gan lớn rất bóng (dấu hiệu stéatose). Một IRM sẽ xác nhận điều đó nếu cần. Một fibroscan, thăm dò siêu âm khác, sẽ có thể, nhờ đo tính đàn hồi của gan, đánh giá tầm quan trọng của fibrose và, nhờ đo atténuation của các sóng siêu âm, định lượng stéatose. Fibrotest sẽ phát hiện chỉ bằng lấy máu những chất lưu thông phản ánh một fibrose đang tiến triển. Một sinh thiết, động tác xâm nhập hơn, sẽ được thực hiện trước khi tiến hành một điều trị. Phân tích một mẫu nghiệm gan sẽ cho phép một chẩn đoán chắc chắn tuyệt đối.
Hỏi : Điều trị là gì và những kết quả của nó ?
GS Didier Samuel : Điều trị dựa trên chế độ ăn uống, một hoạt động vật lý đều đặn và điều trị những cofacteur de progression (cân bằng một bệnh đái đường, một bệnh tim mạch, điều chỉnh một tăng cholestérol huyết, ngừng rượu). Những thuốc rất hứa hẹn chống viêm và/hoặc fibrose du foie đang ở một giai đoạn phát triển (acide obéticholique, Elafibranor…) nhưng chưa được thương mãi hóa. Chúng ta đang chờ đợi chúng. Ở 1/3 những bệnh nhân, chế độ ăn uống và hoạt động vật lý đều đặn đủ để ổn định, thậm chí làm thoái triển căn bệnh. Ở giai đoạn xơ gan, không một cải thiện nào có thể, do đó tầm quan trọng can thiệp trước. Trong những thể nặng (xơ gan mất bù, ung thư gan), giải pháp duy nhất là ghép gan, có thể cho đến năm 70 tuổi : nó đảm bảo 80% sống sót lúc 5 năm.
Hỏi : Khuyến nghị cuối cùng của ông ?
GS Didier Samuel : Đừng quên khi kiểm tra sức khỏe (check up de santé) một bilan hépatique de controle. Người ta thường không chú ý gan !
(PARIS MATCH 1/2-7/2/2018)

7/ UNG THƯ : BILAN 2017
Cơ quan Y tế công cộng Pháp đã công bố bilan về tình hình ung thư đối với năm qua : 400.000 trường hợp mới đã được ghi vào danh mục và 150.000 trường hợp tử vong đã đếm được. Ở đàn ông (54% toàn bộ), ung thư tiền liệt tuyến là thường gặp nhất (48.500 trường hợp mới), trước ung thư phổi (32.300) và ung thư đại trực tràng (24.000). Những ung thư giết người nhất là những ung thư phổi (21.000 tử vong) và đại trực tràng (9300). Ở phụ nữ, ung thư vú (59.000 trường hợp mới) vẫn nổi bật trước những ung thư đại trực tràng (21.000) và phổi (16.800). Những ung thư giết người nhất là những ung thư vú (12.000 tử vong), phổi (10.500) và đại trực tràng (8500). Một sự giảm tỷ lệ tử vong ở hai giới tính được dự kiến đối với những năm đến.
(PARIS MATCH 1/2-7/2/2018)

8/ NHỮNG TÍNH NĂNG LẠ THƯỜNG CỦA ĐÊM TRẮNG CHỐNG BỆNH TRẦM CẢM
Tính hiệu quả của sự tước mất giấc ngủ được chứng minh trong trường hợp trầm cảm nặng, và sự thông hiểu hiện tượng này có thể mở đường cho những điều trị mới.NEUROLOGIE. Tước mất một người giấc ngủ là tàn nhẫn, khó chịu và nhanh chóng có hại cho cơ thể của người đó. Một cách nghịch lý, ở những người bị trầm cảm, trái lại đó là một điều trị được công nhận và rất hiệu quả, đối tượng của những nghiên cứu y khoa từ những năm 1960.
Vài người đã trải nghiệm điều đó mà họ không biết. Phải dùng một máy bay vào lúc bình minh hay một buổi dạ hội kéo dài, một đêm rất ngắn, và thế là họ phải đương đầu một ngày với 4 giờ ngủ, kiệt sức nhưng tuy vậy có một năng lượng lạ kỳ, hơi gây khoái trá. Chính tính chất của đêm trắng này được sử dụng để điều trị những bệnh nhân trầm cảm. Tính hiệu quả là ngoạn mục đối với một căn bệnh mà chống lại nó thiếu những option thérapeutique không phải là hiếm. Những điều trị tự nhiên này chống lại sự thông hiểu của thế giới y khoa, tìm cách tối ưu nó.
Để điểm lại tình hình về những khám phá của những năm qua, équipe của GS Philip Gehrman (đại học Pennsylvanie) đã sàng lọc 66 công trình nghiên cứu về sự mất ngủ trong điều trị bệnh trầm cảm, kể cả ở những người lưỡng cực.
Phân tích méta được công bố trong Journal of Clinical Psychiatry xác nhận tính hiệu quả quan trọng của sự mất ngủ để làm giảm những triệu chứng của trầm cảm, ở khoảng một bệnh nhân trên hai (44 đến 50%). Ưu điểm khác của phương pháp : tác dụng xảy ra tức thời. ” Đôi khi chúng tôi nhờ đến nó đối với những bệnh nhân rất muốn tự tử, mà ta sợ chúng chuyển qua hành động trong những giờ đến và đối với chúng ta cần một hành động rất nhanh “, GS Emmannuelle Corrube, trưởng khoa tâm thần thuộc bệnh viện Bicetre đã nói như vậy.
” Kết quả là ngoạn mục, BS Pierre Geoffroy, thầy thuốc tâm thần và thầy thuốc của giấc ngủ (Bệnh viện Fernand Widal, Paris), chuyên gia cho fondation FondaMental, đã xác nhận như vậy. Sau một đêm mất ngủ, ta có thể cải thiện một trầm cảm nặng ở một bệnh nhân câm lặng (mutique), không còn đứng dậy nữa, so với 4-6 tuần với một điều trị chống trầm cảm cổ điển.”
Sự tước đi giấc ngủ có thể hoàn toàn (bệnh nhân không ngủ chút nào) hay một phần (bệnh nhân bị đánh thức dậy sau vài giờ để tránh đi vào giấc ngủ nghịch lý) với một tính hiệu quả tương đương, theo phân tích méta của GS Gehrman. Nhìn bề ngoài thì đơn giản, nhưng trên thực hành đó là khó thiết đặt. ” Phải nhập viên bệnh nhân 36 giờ, theo dõi bệnh nhân sát và có những y tá được đào tạo bởi vì vai trò của họ có tính chất quyết định để duy trì bệnh nhân thức tỉnh”, BS Rémi Bation, thầy thuốc tâm thần thuộc bệnh viện Lyon Sud đã giải thích như vậy.
Vậy sự tước iđ giấc ngủ được dành cho những trường hợp rất đặc thù. Ở bệnh viện tâm thần của Vinatier ở Lyon, nơi đây BS Bation đã hành nghề, điều trị này được đề nghị cho bệnh nhân bị thất bại điều trị. ” Đối với họ, giai đoạn tiếp theo là électroconvulsivothérapie, ngày xưa được gọi là électrochocs. Nhưng sự chờ đợi để được điều trị vì hơi dài, nên ta sử dụng sự tước mất của giấc ngủ để làm thuyên giảm họ một cách tạm thời, bằng cách luân phiên những đêm ngủ và nhung đêm rút ngắn trong hai tuần “, ông đã giải thích như vậy.
Mặt trái của tính hiệu quả ngoạn mục của sự tước mất giấc ngủ là tính chất tạm thời của nó, bởi vì những lợi ích mờ nhạt đi ngay khi bệnh nhân bắt đầu ngủ lại. ” Vấn đề, đó là người ta không biết một cách chính xác điều đó tác động như thế nào, BS Geoffroy đã nhấn mạnh như vậy. Một trong những giả thuyết là đêm trắng khởi đầu trở lại đồng hồ sinh học nội tại của bệnh nhân, bị rối loạn ở những bệnh nhân trầm cảm.”
” Ở những người trầm cảm, vài hiện tượng sinh học được biểu hiện sớm, như cao điểm cortisol kích thích cơ thể buổi sáng và sự tăng cao buổi sáng của nhiệt độ, GS Corruble đã nói như vậy. Ngoài ra những bệnh nhân này thức dậy rất sớm với những triệu chứng trầm cảm cực đại, như một sự lo âu dữ dội.”
Những hướng nghiên cứu này khiến ta cố kéo dài những lợi ích của sự tước mất giấc ngủ với luminothérapie (bệnh nhân được tiếp xúc với một ánh sáng mạnh buổi sáng). Vài équipe cũng nhờ đến kích thích não bằng từ trường hay électroconvulsivothérapie và, dĩ nhiên, những thuốc chống trầm cảm.Nhưng những kết quả vẫn còn chưa thỏa mãn. ” Sự hiện hữu của một điều trị chống trầm cảm hiệu quả một cách nhanh chóng ở 50% những bệnh nhân sẽ là một tiến bộ quan trọng trong thực hành lâm sàng, nếu chúng ta tìm thấy những phương tiện làm kéo dài những hiệu quả trong thời gian “GS Philippe Gehrman
đã tóm tắt như vậy.
(LE FIGARO 9/10/2017)

9/ LIỆU PHÁP GEN : TUYỆT VỜI, NHƯNG QUÁ ĐẮC !
Liệu pháp gène (thérapie génique) nhằm đưa một hay nhiều gène vào trong các tế bào của một cá thể để điều trị một căn bệnh. Một kỹ thuật hiệu quả để chữa lành những bệnh di truyền hiếm. Chúng cũng hiệu năng hơn họa trị để điều trị vài ung thư. Nhưng phí tổn của chúng là thái quá ! Một triệu dollar đối với Clybera, liệu pháp gène đầu tiên được chấp thuận ở châu Âu (2012) và là thuốc đắc nhất thế giới ; 375.000 dollars đối với Yescarta và 475.000 dollars đối với Kymriah, nhưng liệu pháp gène đầu tiên được chấp thuận ở Hoa Kỳ (2017), một chống lại lymphome, một chống lại một thể ác tính của bệnh bạch cầu của trẻ em. Đây là Luxturna, 850.000 dollars, vừa được cho phép ở Hoa Kỳ chống lại sự thoái hóa di truyền của võng mạc. Nhưng ai sẽ thanh toán những liệu pháp gène mang nhiều hy vọng như thế.
(PARIS MATCH 8/2-14/2/2018)

10/ LÀM VIỆC BAN ĐÊM VÀ UNG THƯ
Một phân tích được thực hiện trên 3,9 triệu phụ nữ ở Hoa Kỳ, ở châu Âu, châu Á và châu Úc đã hạch toán sự xuất hiện của 114.628 trường hợp ung thư và đã kết luận rằng sự làm việc đều đặn ban đêm gia tăng nguy cơ toàn bộ của bệnh này 19% (ung thư da + 41%, ung thư vú + 32% ; ung thư đại-trực tràng + 18%)
(PARIS MATCH 8/2-14/2/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(23/2/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 462 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 497 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 530 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s