Thời sự y học số 460 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHÀN RỔI KHÔNG HOẠT ĐỘNG (SÉDENTARITÉ) : MỘT “SERIAL KILLER”
Ngồi nhiều giờ mỗi ngày sẽ giết chết con người ! Phải làm gì để tránh điều đó ..

3,8 % những tử vong chỉ là do sự kiện ngồi hơn 3 giờ mỗi ngày

HOẠT ĐỘNG. Theo Observatoire national de l’activité physique et de la sédentarité (Onaps), sự việc ngồi hơn 3 giờ mỗi ngày đã chịu trách nhiệm 3,8 % trường hợp tử vong, dầu cho mức độ hoạt động vật lý như thế nào ! Vấn đề là ngưỡng ba giờ ngồi này bị vượt quá nhiều và không ngừng gia tăng : ở những người 40 tuổi, thời gian không cử động (trong vận chuyển, ở văn phòng, ngồi trước TV…) được đánh giá 12 giờ trong một ngày làm việc và 9 giờ vào một ngày nghỉ !
GS François Carré, thầy thuốc chuyên về tim và thầy thuốc chuyên về thể thao ở bệnh viện Pontchaillou de Rennes, tác giả của Danger sédentarité, vivre plus en bougeant plus, xác nhận tính chất nguy hiểm của tình huống này :

“Sédentaire (nhàn rỗi không hoạt động), đó là ngồi ít nhất trung bình 7 giờ mỗi ngày. Thế mà để bù những tác dụng có hại của tình trạng nhàn rỗi không hoạt động (sédentarité) không thôi, phải có ít nhất 1 giờ 30 đến 2 giờ hoạt động vật lý mỗi ngày.”
François Carré
Cardiologue et Médecin du Sport
A l’ Hôpital Pontchaillou de Rennes

Và thêm vào tình trạng nhàn rỗi không hoạt động (sédentarité) này có thể là vấn đề bất hoạt (inactivité) : theo OMS, được xem là bất hoạt (inactif), dưới 150 phút hoạt động vật lý cường độ trung bình mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần) hay 75 phút hoạt động vật lý cường độ mạnh (25 phút 3 ngày mỗi tuần).Những nguy cơ không hẳn là không đáng kể. ” Ngồi trên 4 giờ mỗi ngày, mỗi giờ mới gia tăng tỷ lệ tử vong 2% ; và trên 8 giờ ở tư thế ngồi mỗi ngày, tỷ lệ tử vong gia tăng 8%. Trên 10 giờ mỗi ngày, tỷ lệ tử vong ngay cả gia tăng 34%, GS Michel Galinier, trưởng khoa tim của CHU de Toulouse đã định rõ như vậy. Vậy ngồi có thể được xem như có tiềm năng gây tử vong ! Đứng suốt ngày thì khác bởi vì điều đó bắt các cơ của các cẳng chân phải làm việc một cách tối thiểu và như thế góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong tim mạch (nhưng gia tăng vấn đề tuần hoàn tĩnh mạch). Như thế sự việc chuyển từ tư thế ngồi sang tư thế đứng, 1/4 thời gian của ngày, làm giảm khoảng 21% tỷ lệ tử vong tim mạch.”
” Tình trạng nhàn rỗi không hoạt động (sédentarité), như là yếu tố nguy cơ tập thể (facteur de risque collectif), đi trước chứng nghiện thuốc lá bởi vì nó liên quan đến nhiều người hơn. Sự việc là nhàn rỗi không hoạt động (sédentaire) gia tăng những yếu tố nguy cơ tim mạch cổ điển, như tăng thể trọng, bệnh đái đường, cao huyết áp, dyslipidémies “, GS Galinier nói tiếp. Sự kiện đáng quan ngại, ” thế hệ trẻ có nguy cơ cao bởi vì thời gian hoạt động vật lý đã thụt lùi trong những năm qua. Có nhiều trẻ em hơn không làm gì hết, sự dễ dàng mở TV, một écran d’ordinateur và tệ hại hơn, cùng lúc nhấm nháp cái gì đó “. Hậu quả : chỉ 1/3 những thiếu niên từ 11 đến 17 tuổi thực hành ít nhất 60 phút mỗi ngày hoạt động vật lý được khuyến nghị bởi OMS cho lứa tuổi này. Đối với GS Carré, ” điều này được xác nhận bởi sự hạ của năng lực vật lý, chỉ dấu tốt nhất của hy vọng sống khỏe của các thiếu niên. Điều này càng đáng tiếc khi hoạt động vật lý không phải là một sự mất thời gian : tất cả những công trình nghiên cứu tìm thấy một mối liên hệ giữa mức độ hoạt động vật lý và chất lượng của những kết quả học đường “.
Những giải pháp ? ” Thúc trẻ em đi bộ đến trường, dùng trottinette hay patin để đi mua bánh mì. Phỏng theo các nước Bắc Âu, ở đây trong lớp tiểu học, những thời gian nghỉ để “nhấm nháp” được chính thức dự kiến với những từng lúc đều đặn : trong vài phút, trẻ em được yêu cầu đứng dậy và chạy, nhảy…Sau cùng cần ngừng ca ngợi thân hình của mannequin nhịn ăn mà ca ngợi thân hình của các vận động viên để tạo động cơ cho các em trẻ “, GS Carré đã đề nghị như thế. ” Vấn đề khác : vấn đề học tập rất lôi cuốn (như y khoa) làm cho lúc vào đại học, 90% sinh viên từng chơi thể thao trước đây không còn thực hành chút nào cho đến cuối thời gian học tập. Điều đó không thể chấp nhận được. ” Tuy vậy việc đưa thể thao vào học tập là điều có thể, như điều đó được thực hiện, thí dụ trong vài trường kỹ sư (nhất là ở Viện thể thao ứng dụng quốc gia hay Insa) : ở đó thể thao được làm tăng giá trị và, bằng cớ, những vận động viên trình độ cao như François Gabart hay Armel Le Cleac’h, hai thủy thủ ngoại hạng, đã có thể tiến hành đồng thời thi đua và học hành.
” Mỗi chúng ta có tương lai của mình trong bàn tay (đối với thuốc lá, thức ăn) và trong bàn chân (đối với hoạt động vật lý). Đạt những mức hoạt động vật lý được khuyến nghị là dễ dàng hơn ta tưởng bởi vì hoạt động này bao gồm tất cả những cử động của cuộc sống hàng ngày, kể cả những cử động được thực hiện trong những hoạt động tại nhà, lúc giải trí, khi làm việc lặt vặt trong nhà, lúc làm vườn, làm việc… Thời gian đi làm việc phải được sử dụng để bù thời gian ngồi sau écran. Cũng vậy, đứng dậy khỏi ghế ngồi 5 phút mỗi 30 phút để đứng hay bước là hữu ích. Sau cùng có thể trộn những hoạt động khác nhau để đạt mức độ được khuyến nghị “, GS Galinier đã nhắc lại như vậy.
(LE FIGARO 15/1/2018)

2/ HAI HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NHỮNG NHỮNG LÃO NIÊN NHÀN RỖI KHÔNG HOẠT ĐỘNG.
Ở những người trưởng thành trên 65 tuổi, những khuyến nghị chuyển qua 1 giờ mỗi ngày hoạt động vật lý (chứ không còn 30 phút nữa), trong đó những bài tập về sự tăng cường cơ, sự cần bằng và mềm dẻo.” Tình trạng nhàn rỗi không hoạt động (sédentarité) tạo điều kiện cho sự tan cơ, chứng loãng xương và do đó, đối với những lão niên, một nguy cơ không phải là không đáng kể perte d’autonomie “, GS Galinier, trưởng khoa tim thuộc CHU de Toulouse, đã nhấn mạnh như vậy. ” Ngoài ra, một công trình nghiên cứu mới đây, được thực hiện bởi service de gériatrie của CHU de Toulouse, đã cho thấy rằng ở những người trên 70 tuổi, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động tạo điều kiện cho những vấn đề này và rằng ngược lại, một réadaptation nhỏ (hai lần 15 phút mỗi tuần) làm chậm lại sự đi vào tình trạng phụ thuộc (dépendance). Ngoài ra, các lão niên với triệu chứng suy tim, thường rất không thích ứng với sự gắng sức, điều này chỉ làm gia trọng bệnh lý của họ và biến đổi chất lượng sống của họ. Nhưng không phải là không thể tránh được. Sarcopénie (sự giảm năng lực cơ) có thể đảo ngược với hoạt động vật lý. Như thế ta có thể cải thiện năng suất của mình lúc gắng sức và tìm lại autonomie với hoạt động vật lý ở bất cứ lứa tuổi nào. Điều đó có thể đủ để thay đổi cuộc sống, thí dụ, bằng cách cho phép lần nữa leo lên tầng nhà, trong khi điều đó vốn không còn có thế nữa.
SE LEVER PENDANT LE PUB
Tất cả những hoạt động vật lý đều tốt để thực hiện : ” Bước, đạp xe đạp, boi lội, dĩ nhiên, nhưng cũng làm nội trợ, cuốc đất trong vườn…Mánh khóe là lợi dụng tất cả thời gian quảng cáo để đứng dậy và bước, đồng thời đi vòng bàn hay gian phòng.”, GS Carré, thầy thuốc chuyên khoa tim và thể thao ở bệnh viện Pontchaillou de Rennes đã nói như vậy. ” Tôi cũng khuyến nghị các lão niên thực hiện những bài tập tăng sức cơ (thí dụ, lúc lên hay xuống cầu thang thay vì dùng thang máy) và những bài tập cân bằng : bước theo trục của một đường thẳng, đứng trên một cẳng chân 15 giây, bắt đầu lại 10 lần, rồi đứng trên bàn chân kia, đồng thời đứng gần bàn để có thể bíu lấy nếu cần.” Đối với những người yêu thích động vật, GS Galinier đề nghị nuôi một con chó nhỏ ” bởi vì đó là một phương tiện tốt để buộc mình bước và giữ vững tinh thần.”
Theo Agence nationale de sécurité sanitaire (Anses), một hoạt động vật lý đều đặn có lợi trên tất cả bình diện : hoạt động vật lý được liên kết với một sự giảm 20 đến 50% nguy cơ bệnh lý động mạch vành và gần 60% nguy cơ xuất hiện tai biến mạch máu, cũng như một sự giảm tỷ lệ xuất hiện của bệnh đái đường loại 2 (giảm 12% đối với một sự giảm hai giờ mỗi tuần). Hoạt động vật lý còn được liên kết với một sự giảm nguy cơ ung thư đại tràng (khoảng 25%), của ung thư vú (giảm 10 đến 27%), của ung thư nội mạc tử cung và của phổi, một sự giảm tỷ lệ xuất hiện của bệnh Alzheimer (đến 45%) và của bệnh Parkinson.
(LE FIGARO 15/1/2018)

3/ EM BÉ NHẬN BIẾT CÁC GƯƠNG MẶT VỀ PHÍA TRÁI CỦA NÓ
Để được bébé nhận biết ngay cái nhìn đầu tiên, bạn hãy ở về phía trái của nó ! Chính kết luận của một công trình nghiên cứu, căn cứ trên sự ghi hoạt động não của 40 em bé từ 1 đến 6 tháng, chứng minh rằng chỉ bán cầu não phải cho phép phân biệt những gương mặt trong những tháng đầu của cuộc đời.
(SCIENCE ET VIE 2/2018)

4/ LDL-CHOLESTÉROL CHỊU TRÁCH NHIỆM XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH
GS John Chapman, professeur émérite của Hiệp hội tim học châu Âu và cựu chủ tịch của Société d’athérosclérose européenne, giải thích làm ngừng tiến triển của LDL ở những người có nguy cơ như thế nào.Hỏi : Cholestérol, được sản xuất bởi cơ thể của chúng ta, được dùng để làm gì ?
GS John Chapman : Đó là một thành phần chủ yếu của màng tế bào, cần thiết cho sự tổng hợp của các hormone stéroidienne (thí dụ những kích thích tố sinh dục), tiền chất của vitamine D và, dưới một dạng được biến đổi, một chất điều biến (modulateur) của chuyển hóa trong gan. Vậy nó có tính chất sinh tử.
Hỏi : Cholestérol của xơ vữa động mạch (ATS : cholestérol de l’athérosclérose) đến từ đâu ?
GS John Chapman : Triglycéride là dạng lipide chính được rút ra từ thức ăn. Để phân bố chúng trong toàn cơ thể, con người đã phát triển một hệ thống vận chuyển chúng trong máu : lipoprotéine. Những véhicule sanguin này là những fournisseur năng lượng lớn nhất đến các mô và các cơ quan. Một khi các triglycéride được phóng thích, một dẫn xuất được tạo thành : LDL. Những phần tử LDL là những transporteur chính của cholestérol, lúc thặng dư, trở nên có hại.
Hỏi : Cholestérol của xơ vữa động mạch phát triển trong các động mạch như thế nào ?
GS John Chapman : Lối sống của chúng ta (chế độ ăn uống hypercalorique, sédentarité), ngoài một thể địa di truyền, tạo thuận tạo điều kiện cho một sự tăng gánh LDL, đồng nghĩa của hypercholestérolémie. Những yếu tố nguy cơ tim mạch (thặng dư cholestérol, cao huyết áp, chứng nghiện thuốc lá, bệnh đái đường…) tấn công các động mạch và làm hỏng thành của chúng, thường ở nơi mà luồng máu chảy rối nhất (những chỗ rẽ đôi, những khúc quanh của các động mạch vành, động mạch cảnh…). Trong những vùng này, khi đó tính thẩm thấu gia tăng và cho phép các particule de LDL đi vào thành động mạch và lắng đọng dưới lớp trong của nó, endothélium. Do đó, một chuỗi các biến cố dẫn đến sự tạo thành, chung quanh chỗ lắng đọng của LDL-cholestérol, một mảng xơ vữa (plaque d’athérome) chứa nhiều lipide, những tế bào miễn dịch-viêm, những mảnh vỡ tế bào, những chất sợi, những tinh thể cholestérol và calcium. Sự viêm của mảng làm dễ sự tiến triển của nó, làm nó mỏng manh, thậm chí dẫn đến sự vỡ, mà sự cứng của những tinh thể cholestérol làm dễ.
Hỏi : Khi đó những nguy hiểm là gì ?
GS John Chapman : Vài mảng, được gọi là dễ bị thương tổn (vulnérable), vỡ một cách dễ dàng hơn những mảng khác. Chúng phát khởi một phản ứng sửa chữa bao gồm một sự đổ tới ào ạt của những tiểu cầu máu mà vai trò đầu tiên là bít những lỗ hổng huyết quản. Kết quả là sự tạo thành đột ngột của một cục máu đông, có thể làm tắc động mạch liên hệ, với những hậu quả nghiêm trọng (nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não…)
Hỏi : Ông chỉ định LDL-cholestérol như là nguyên nhân chính của xơ vữa động mạch (ATS) chứ không còn như là một yếu tố nguy cơ. Trên cơ sở nào ?
GS John Chapman : một tổng hợp những dữ kiện dịch tễ học, di truyền (hypercholestérolémie familiale, những gène liên kết với một LDL tăng cao), những công trình nghiên cứu lâm sàng người (hơn 200, ở ít nhất 2 triệu bệnh nhân) đã cho thấy những tác dụng có lợi của một sự giảm nồng độ LDL, tất cả quy tụ để chỉ một cách không thể chối cãi LDL-cholestérol như là nguyên nhân chính của bệnh.
Hỏi : Những khuyến nghị dự phòng từ sự xác nhận này ?
GS John Chapman : Société européenne de cardiologie et d’athérosclérose khuyến nghị, ở những bệnh nhân đã là nạn nhân của một bếin cố tim mạch hay có nguy cơ rất cao, một nồng độ LDL tối đa là 0,7 g/l. Một công trình nghiên cứu chụp hình ảnh động mạch vành đã cho thấy rằng ở nồng độ này ta có thể làm ngừng sự tiến triển của xơ vữa động mạch ở phần lớn các bệnh nhân. Có nhiều loại thuốc : résine, các chất ức chế sự hấp thụ ruột của cholestérol, statine. Statine có thể làm giảm một nửa nồng độ của LDL (trong 10% những trường hợp với cái giá của crampe musculaire). Một lớp thuốc mới, những anti-PCSK9 (những kháng thể đơn dòng), rất hiệu quả và được dung nạp tốt, dường như có thể, liên kết với statine, với chế độ ăn uống Địa Trung Hải (tốt đối với tim) và với một cuộc sống hoạt động, làm ngừng tiến triển của bệnh ở tất cả các bệnh nhân…và ngày mai, có lẽ, ở hầu hết tất cả các cá nhân trước khi xơ vữa động mạch có thể được biểu hiện.
(PARIS MATCH 18/1-24/1/2018)

5/ CHORÉE SAU CÙNG BỊ ĐÁNH BẠI
Hôm nay được gọi là bệnh Huntington (tên của thầy thuốc đã mô tả nó vào thế kỷ XIX), đó là một sự thoái hóa thần kinh di truyền nổi tiếng không thể chữa lành. Bệnh này là do sự biến dị của một gène mã hóa sự chế tạo của một protéine độc có tác dụng phá hủy dần dần những neurone của một vùng trung tâm của não (striatum). Căn bệnh xảy ra ở một người trên 15.000 ở châu Âu. Bệnh được biểu hiện ở lứa tuổi từ 35 đến 50, đôi khi sớm hơn, bởi những cử động ngẫu nhiên đột ngột, không cưỡng được, không tiên đoán được, rối loạn có thể xảy ra ở tất các các cơ cửa cơ thể. Những rối loạn nhận thức và khí chất thường liên kết. Một kíp Luân Đôn (GS Sarah Tabrizi, University College) đã trắc nghiệm ở 46 bệnh nhân một liệu pháp gène (Inonis-HTTRx) được dung nạp tốt, khi được cho ở một giai đoạn sớm, phong bế sự sản xuất của protéine toxique và dường như dập tắc căn bệnh.
(PARIS MATCH 18/1-24/1/2018)

6/ HỘI CHỨNG RUỘT DỄ BỊ KÍCH THÍCH (SYNDROME DE L’INTESTIN IRRITABLE) : HƯỚNG VỀ NHỮNG ĐIỀU TRỊ MỚI
BS Philippe Godeberge, Gastro-entérologue, proctologue, Paris, giải thích những phương pháp điều trị mới của hội chứng này, một căn bệnh thường gặp và gây trở ngại
Hỏi : Hội chứng ruột dễ bị kích thích (syndrome de l’intestin irritable) là gì ?
BS Philippe Godeberge. Nó cũng được gọi là “colopathie fonctionnelle” và liên kết chướng bụng (ballonnements), đau tiêu hóa (douleurs digestives) và những rối loạn transit (bón trong hai phần ba các trường hợp, ỉa chảy trong 1/3). Những rối loạn này đôi khi có thể biến đổi sâu đậm chất lượng sống nhưng không bao giờ thay đổi thời gian sống. Những thời kỳ cấp tính luân phiên với những giai đoạn nghỉ kéo dài lâu hay mau. Hội chứng của ruột dễ bị kích thích xảy ra ở 10 đến 15% dân chúng, thường ở đàn bà hai lần nhiều hơn ở đàn ông, và thường bắt đầu trước tuổi 30.
Hỏi : Soi đại tràng tiêu hóa có được biện minh không ?
BS Philippe Godeberge. Ta không soi đại tràng một cách hệ thống. Ta thực hiện nó để loại bỏ điều không phải là hội chứng của ruột dễ bị kích thích, nghĩa là một bệnh viêm (bệnh Crohn, viêm đại trực tràng xuất huyết) ở một người trẻ hay sau 50 tuổi, một ung thư đại trực tràng. Soi đại tràng của một hội chứng của ruột dễ bị kích thích là bình thường và không có nguyên nhân rõ ràng.
Hỏi : Khi không có nguyên nhân, những điều trị thông thường là gì ?
BS Philippe Godeberge. Những điều trị chỉ hướng chống các triệu chứng và được thích ứng với mỗi bệnh nhân. Chúng chống lại, theo yêu cầu, bón hay ỉa chảy, đau (thuốc giảm đau, thuốc chống co thắt), chướng bụng (régime, pansement), những yếu tố làm dễ (thí dụ stress). Chúng có thể được liên kết với những médecine complémentaire (hypnose). Mục tiêu là cải thiện chất lượng sống của các bệnh nhân. Những biện pháp này cho phép làm giảm tần số và cường độ của các cơn, nhưng không có tác dụng chữa lành.
Hỏi : Ông hãy giải thích vắn tắt cho chúng tôi microbiote intestinal là gì và ảnh hưởng của nó lên sức khỏe.
BS Philippe Godeberge. Ngày xưa được gọi là “flore intestinale” (khuẩn chí ruột), microbiote là toàn thể những vi sinh vật (vi khuẩn, levure…) sống tự nhiên trong ruột. Đó là một quần thể khoảng 40.000 đến 60.000 tỷ vi sinh vật tương tác với ký chủ của chúng một cách thường trực, liên lạc với hệ miễn dịch của ký chủ và một cách gián tiếp với não bộ của ký chủ. Một microbiote cân bằng giúp chúng ta chống lại nhiều bệnh. Nhưng nó fragile. Thí dụ sự lạm dụng các kháng sinh đủ để làm mất cân bằng nó.
Hỏi : Có một mối liên hệ giữa vài rối loạn của microbiote và hội chứng của ruột dễ bị kích thích (Syndrome de l’intestin irritable) ?
BS Philippe Godeberge. Nhờ những công cụ di truyền mà chúng ta có hôm nay, chúng ta có thể cartographier những vi sinh vật tạo thành microbiote và hiểu tốt hơn sự vận hành chức năng của nó. Vai trò của nó trong hội chứng của ruột dễ bị kích thích dường như quan trọng. Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng microbiote của những người với hội chứng của ruột dễ bị kích thích là khác nhau về lượng và tính đa dạng với microbiote của những người lành mạnh. Điều này được kèm theo bởi một sự tăng nhạy cảm của ruột làm rối loạn transit, những biến đổi của tính thẩm thấu tiêu hóa, tạo điều kiện cho sự hấp thụ của các độc tố, và một sự lên men gia tăng bởi các vi khuẩn của vài glucide, như những đường hấp thụ nhanh và những polyol (sucres hydrogénés trong nấm, carotte, artichaut, lentille, hành, tỏi, céleri, poires, pommes…), trong môi trường ruột, dẫn đến sự sản xuất khí quá mức.
Hỏi : Có những bằng cớ cho thấy rằng một sự biến đổi của microbiote và ít sự lên men hơn cải thiện hội chứng của ruột dễ bị kích thích ?
BS Philippe Godeberge. Vâng, một công trình nghiên cứu mới đây của Anh, không thể chối cãi trên bình diện phương pháp học, sau cũng đã chứng minh điều đó một cách rõ ràng. Một chế độ ăn uống nghèo đường có thể lên men (so với chế độ bình thường và placebo) có thể trong 4 tuần làm thuyên giảm những triệu chứng của 60% những bệnh nhân với hội chứng của ruột dễ bị kích thích, không tác dụng có hại lên thành phần của microbiote nếu nó được liên kết với những probiotiques (chứa bifidobacterium spp.) có tác dụng ổn định microbiote. Một chế độ không probiotique ít hiệu quả hơn.
Hỏi : Những khuyến nghị sau cùng của ông ?
BS Philippe Godeberge. Hội chứng của ruột dễ bị kích thích có lẽ là do một sự bất quân bình của microbiote. Liên kết một sự hạn chế của vài glucide và những probiotique là một kết hợp có lợi để bình thường hóa nó. Những điều trị triệu chứng vẫn có tính thời sự. Nên thay đổi cách ăn uống bởi vì điều đó đảm bảo sự phong phú của microbiote.
(PARIS MATCH 4/1-10/1/2018)

7/ NHỮNG NHIỆT ĐỘ THÁI QUÁ VÀ TỶ LỆ TỬ VONG
Một công trình nghiên cứu được công bố bởi Santé publique France đã phân tích ảnh hưởng của những nhiệt độ lên tỷ lệ tử vọng từ 2000-2010 trong 18 vùng của nước Pháp. Không ngạc nhiên, chính những nhiệt độ thái quá đóng một vai trò. Lạnh đã chịu trách nhiệm 3% tỷ lệ tử vong toàn bộ ở métropole và những forte chaleur 1,2%. Một thời kỳ rất lạnh gia tăng tỷ lệ tử vong tổng quát 38% trong 3 tuần với một cao điểm vào ngày thứ hai. Từ ngày thứ ba, chauffage và quần áo hiệu quả làm giảm đường cong của những trường hợp tử vong. Một canicule gia tăng tỷ lệ tử vọng của thời kỳ mà nó xuất hiện 95% trong 3 tuần, nhất là trong 3 ngày đầu (effet “moisson ou grande faucheuse”). Kết luận : dự kiến sớm những thay đổi nhiệt độ này là thiết yếu để những người dễ bị thương tổn nhất được bảo vệ ngay những ngày đầu.
(PARIS MATCH 4/1-10/1/2018)

8/ ĂN QUÁ MẶN ẢNH HƯỞNG KHUẨN CHÍ RUỘT
Các nhà nghiên cứu Đức đã cho thấy rằng ở người và chuột, một chế độ ăn uống giàu muối gây nên sự biến mất của vài vi khuẩn của ruột. Thế mà, ở động vật gặm nhấm, có một mối liên hệ giữa những vi khuẩn này với cao huyết áp. Một quan sát tăng cường ý tưởng cho rằng phải tiết độ muối để chống lại căn bệnh này.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2018)

9/ GHÉP NHỮNG TẾ BÀO MÁU : NHỮNG PHUƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ
GS Ibrahim Yakoub-Agha, trưởng unité de greffe de moelle osseuse, CHRU de Lille, giải thích những lý do biện minh ghép những tế bào máu, những cách thức khả dĩ và những tiến bộ sau cùng trong lãnh vực này.
Hỏi : Những tế bào máu phát xuất từ đâu ?
GS Ibrahim Yakoub-Agha. Những tế bào máu tất cả đều sinh ra từ tủy xương. Hàng tỷ những tế bào mẹ được gọi là những tế bào gốc sinh huyết (cellules souches hématopoiétique) (CSH), suốt đời, tăng sinh và biến hóa mỗi ngày thành những bạch cầu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể (hệ miễn dịch), những tế bào hồng cầu để vận chuyển oxygène và những tiểu cầu, những mảnh tế bào ngăn cản những xuất huyết.
Hỏi : Những bệnh nào biện minh ghép những tế bào gốc sinh huyết và vì những lý do nào ?
GS Ibrahim Yakoub-Agha. Những bệnh có liên quan chủ yếu là những ung thư của máu (leucémie, lymphome, myélome multiple) và myélodysplasie (loạn năng của tủy mở đường cho một leucémie). Những bệnh lý khác đôi khi biện minh ghép tủy, nhưng hiếm hơn. Ghép được chỉ định khi căn bệnh của bệnh nhân không còn kiểm soát được bởi điều trị chuẩn và khi ta có thể hy vọng từ nó một tác dụng miễn dịch có lợi. Bệnh nhân cũng phải chịu được ghép. Với lý lẽ ấy, tuổi không còn là một chướng ngại nữa, nhưng những bệnh lý liên kết (tim, thận) hay một dạng xấu của bệnh căn nguyên là những chướng ngại.
Hỏi : Có hai loại ghép lớn. Đó là gì ?
GS Ibrahim Yakoub-Agha. Một greffe là một bộ ba với một người nhận (receveur), một người hiến (donneur) và một mẫu ghép (greffon) (những CSH : những tế bào gốc sinh huyết). Khi người hiến cũng là người nhận, ta nói autogreffe. Khi người hiến là một người khác, ta nói allogreffe. Chính allogreffe đặt nhiều vấn đề nhất.
Hỏi : Khi một allogreffe được quyết định, ta phải làm gì ?
GS Ibrahim Yakoub-Agha. Trước hết phải tìm thấy một người hiến có sức khoẻ tốt và tương hợp, nghĩa là những tế bào của người hiến có một carte d’identité gần giong nhất với carte d’identité của người nhận (như những nhóm máu). Identité này được xác nhận bởi những gène được gọi là “HLA”. Lý tưởng là một typage hoàn toàn tương hợp HLA với người nhận, điều này đảm bảo cho sự lấy ghép (prise de greffe). Trong 30% những trường hợp, ta tìm thấy một người hiến như vậy trong gia tộc của những bệnh nhân. Trong 40% những trường hợp, trong những registre international, trong đó profil HLA của 30 triệu người hiến tự nguyện được đăng ký. Nếu không có, ta nhờ đến, từ vài năm nay, một kỹ thuật đặc biệt trong đó chỉ một nửa gène HLA tương hợp giữa người nhận và người hiến (gia đình), nhưng, lúc liên kết với một điều trị bổ trợ, đảm bảo một prise de greffe trong 85% những trường hợp.
Hỏi : Những giai đoạn chính tiếp theo là gì ?
GS Ibrahim Yakoub-Agha. Đó là : 1. Ta nhập viện người nhận 7 đến 10 ngày trước trong phòng vô trùng để tiêu diệt bằng hóa trị toàn bộ tủy xương của bệnh nhân (hệ miễn dịch) để bệnh nhân không thải bỏ ghép. 2. Lấy CSH ở người hiến : điều này được thực hiện một cách trực tiếp bằng chọc tủy trong các xương của khung chậu, dưới gây mê tổng quát hay bằng một kỹ thuật được gọi là cytaphérèse, cho phép, không cần gây mê và sau khi cho một yếu tố tăng trưởng tế bào (G-CSF) thu được 10 lần nhiều hơn những tế bào gốc trong máu lưu thông, mà chúng có thể được trích bằng centrifugation. Sự lựa chọn giữa hai phương pháp tùy thuộc những tiêu chuẩn chính xác. Những CSH lấy được được chích lại cùng ngày cho người nhận qua đường tĩnh mạch. Được hướng dẫn bởi một thụ thể thích hợp với loại tế bào này, chúng tìm một cách tự nhiên con đường tiến về tủy xương của ký chủ mà chúng xâm thực trong 24 giờ. Một điều trị suy giảm miễn dịch được thực hiện để tránh những CSH được ghép thải bỏ chỗ ở mới của chúng (maladie du greffon). Sau 6 đến 12 tháng, chúng thường thích nghi chủ mới : ta ngừng khi đó những thuốc làm suy giảm miễn dịch. Một đời mới bắt đầu
Hỏi : Những kết quả đối với leucémie là gì ?
GS Ibrahim Yakoub-Agha. Nếu tính tương hợp là tốt, 60 đến 70% những bệnh nhân bị leucémie aigue thuyên giảm trước ghép được chữa lành bệnh.Trong trường hợp leucémie réfractaire, tỷ lệ chữa lành chỉ 30%. Một kỹ thuật mới, chẳng bao lâu sẵn sàng, được gọi là CAR T-cells, trong phòng thí nghiệm, biến đổi vài tế bào lympho của bệnh nhân thành những “tueurs d’élite” của những tế bào leucémie, có thể đảm bảo những kết quả hai đến ba lần tốt hơn.
(PARIS MATCH 8/12-15/12/2017)

10/ ĐỂ CÓ MỘT GIẤC NGỦ TỐT HƠN, PHẢI MỞ CỬA SỔ
Ngủ mở cửa sổ cho phép một giấc ngủ nhanh hơn, dài hơn, và ít thức giấc hơn, theo một công trình nghiên cứu Hòa Lan. Các nhà nghiên cứu đã phân tích giấc ngủ của 17 người tình nguyện và nồng độ CO2 trong phòng ngủ của họ, tùy theo cửa sổ được mở hay đóng. Nồng độ CO2 thấp hơn khi cửa sổ mở. Nồng độ dưới 1000 ppm (partie par million), trong khi nó có thể đạt 3000 ppm khi không khí không được đổi mới. Thế mà nồng độ thấp hơn này liên kết “một cách đáng kể” với những tham số tốt hơn của giấc ngủ. Họ cũng ghi nhận rằng nồng độ ẩm thay đổi ít và rằng nhiệt độ hơi thấp hơn khi cửa sổ mở có thể đóng một vai trò lên chất lượng của giấc ngủ.
(SCIENCE ET VIE 2/2018)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/1/2018)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s