Thời sự y học số 458 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG (ENDOMÉTRIOSE) : NHỮNG CƠN ĐAU BẤT TRỊ LIÊN KẾT VỚI CHU KỲ KINH NGUYỆT.
Sự thành lập những trung tâm chuyên môn (centre expert) hẳn cho phép một điều trị tốt hơn.GYNECOLOGIE. ” Những cơn đau liên kết với kinh nguyệt phải được điều trị nhưng chúng không nhất thiết liên kết với một lạc nội mạc tử cung (endométriose) “, GS Raffaèle Fauvet, trưởng khoa ngoại phụ khoa và ung thư (chirurgie gynécologique và cancérolique) ở CHU de Caen đã ghi nhận như vậy. Nếu các chuyên gia ước tính rằng một phụ nữ trên mười có thể bị lạc nội mạc tử cung, điều đó có nghĩa rằng 90% trong số họ không bị bệnh lý này ! Thật vậy, phần lớn các phụ nữ cảm thấy loại đau này, mạnh ít hay nhiều và xuất hiện một cách hệ thống ít hay nhiều vào lúc kinh nguyệt, biến mất với một điều trị giảm đau. Triệu chứng quan trọng khác của lạc nội mạc tử cung là vô sinh (inferilité) nhưng cũng không xảy ra một cách hệ thống : nhiều lạc nội mạc tử cung được khám phá một cách tình cờ vào lúc césarienne…Kết luận : nếu lạc nội mạc tử cung không gây một triệu chứng nào, điều trị nó là không cần thiết.
Tuy vậy, đối với phần lớn các phụ nữ bị lạc nội mạc tử cung triệu chứng (endométriose symptomtique), chẩn đoán muộn, với đau đôi khi vẫn không đáp ứng với điều trị trong nhiều năm. ” Chẩn đoán đầu tiên thường được thực hiện khi một phụ nữ trẻ khó có con, khi cô ta đã từng bị đau vùng chậu từ lúc dậy thì “, GS Fauvet đã nhấn mạnh như vậy.Thật vậy, trong một xã hội vẫn còn cho rằng đau trong thời kỳ có kinh hay trong khi giao hợp đó là chuyện bình thường đối với một người đàn bà, đôi khi khó nghĩ đến endométriose khi sau cùng cô ta dám than vãn điều đó. ” Cũng phải có thời gian để làm cho bệnh nhân tin tưởng để bệnh nhân gợi ra, thí dụ, những cơn đau hệ thống khi cô ta đi cầu trong thời kỳ kinh nguyệt “, GS Charles Chapron, trưởng khoa phụ sản của bệnh viện Cochin (Paris) đã chỉ như vậy.
Tính chất chu kỳ của các cơn đau, nặng thêm trong thời kỳ kinh nguyệt, là dấu hiệu chỉ báo đầu tiên của bệnh lý này. Bệnh lý này là do sự hiện diện của những tế bào nội mạc tử cung (cellules endométriales) nằm ở ngoài tử cung. Trong kinh nguyệt, nội mạc tử cung (endométrium) (lớp tế bào lót bên trong tử cung) tan rã để đổi mới. Sự co của tử cung đẩy máu về phía âm đạo nhưng một lượng nhỏ cũng được bài xuất qua các vòi trứng vào xoang bụng. Ở vài phụ nữ, các tế bào nội mạc tử cung mà máu này chứa khi đó có thể ở hẳn và tăng sinh ngoài tử cung đồng thời vẫn chịu ảnh hưởng kích thích ố của chu kỳ kinh nguyệt.” Do tác dụng của trọng lực, những thương tổn lạc nội mạc tử cung (lésions endométriosiques) này chủ yếu nằm trong vùng chậu, giữa âm đạo và trực tràng và hiếm hơn về phía bàng quang, về phía trước hơn trong xoang bụng “, GS Chapron đã nhắc lại như vậy. Trong những trường hợp hiếm hơn, những tế bào có thể di tản xa hơn, đôi khi ngay cả ngoài bụng. Cũng như tử cung, chúng gây nên những đau viêm (douleurs inflammtoires) đặc biệt vào lúc kinh kỳ nhưng có thể, tùy theo sự định vị và lan rộng của chúng, gây nên những đau mãn tính.
Ngoài ra, mặc dầu những yếu tố nhạy cảm di truyền và môi trường (facteurs de susceptibilité génétique et environnementale) là khó xác định một cách chính xác, nhưng những dữ kiện dường như chỉ một liên hệ với những rối loạn của hệ miễn dịch : những tế bào được xem là “lạ” ngoài tử cung không được loại trừ tốt. Vậy lạc nội mạc tử cung được gợi lên một cách dễ dàng hơn ở một bệnh nhân bị suyển hay nếu vài thành viên của gia đình bị những bệnh tự miễn dịch.
Khi vấn chẩn cho phép gợi chẩn đoán này, thầy thuốc sẽ thực hiện một thăm khám âm đạo, đôi khi liên kết với một khám trực tràng, để xác định sự hiện diện của những thương tổn ở nơi mà đau biểu hiện, đặc biệt ở sau cổ tử cung ở âm đạo. Thăm khám này cũng phát hiện những kyste ovarien, nhưng, khi khám lâm sàng không đủ, một siêu âm chậu sẽ cần thiết, và nhất là đối với những thương tổn lan tỏa hơn, một IRM. Trong tất cả các trường hợp, sự đào tạo và thói quen của thầy thuốc thực hành là thiết yếu để xác lập chẩn đoán : sự thành lập những centre expert có thể cho phép tránh mọi coelioscopie với mục đích chẩn đoán, từ nay vô ích nhờ chụp hình ảnh y khoa.
” Do đó kế hoạch điều trị phải được xác lập tùy theo profil của đau, tùy theo dự định có thai và tùy theo cartographie của các thương tổn”, GS Jean-Luc Brun, thầy thuốc ngoại khoa trong khoa phụ sản của CHU de Bordeaux đã chỉ như vậy. Trong đại đa số các trường hợp, một điều trị nội khoa được sử dụng trước tiên và, đối với nhiều bệnh nhân , điều trị những cơn đau cũng đủ. Những chiến lược khác có thể được xét đến khi lạc nội mạc tử cung ngăn cản kế hoạch có thai hay khi điều trị nội khoa không đủ. Trong tất cả các trường hợp, điều trị phải được xác lập với bệnh nhân để bệnh nhân tuân theo nó về lâu về dài, cho đến thời kỳ mãn kinh.
(LE FIGARO 18/12/2017)

2/ LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG (ENDOMÉTRIOSE) : NHỮNG ĐIỀU TRỊ TRƯỚC HẾT LÀ NGOẠI KHOA” Trước hết phải điều trị đau kinh (règles douloureuses), đôi khi ngay cả trước khi gợi chẩn đoán lạc nội mạc tử cung, GS Raffaèle Fauvet (CHU de Caen) đã nhắc lại như vậy. Khi đó dẫu sao ta cũng kê đơn một thuốc giảm đau và, nếu điều đó không đủ, một thuốc ngừa thai tác động lên một lạc nội mạc tử cung. ” Được sử dụng liên tục, thuốc ngừa thai (contraceptif) này sẽ tác động lên những triệu chứng đau của lạc nội mạc tử cung bằng cách làm ổn định chu kỳ hormone để ngăn cản sự xuất hiện của kinh kỳ. Cũng như nội mạc tử cung (endomètre utérin), những thương tổn lạc nội mạc tử cung (lésions endométriosiques) nằm ở xa tử cung khi đó không còn chịu ảnh hưởng của chu kỳ kích thích tố và thoái biến với những triệu chứng của chúng.
Do đó, thường nhất, thầy thuốc kê đơn một điều trị kích thích tố. Điều trị này sẽ được điều chỉnh tùy theo bệnh nhân, lối sống và những triệu chứng đau của bệnh nhân. Thật vậy, điều trị này phải được sử dụng trong thời gian dài : những thương tổn tái tục sự tiến triển của chúng nếu điều trị bị ngừng lại. ” Đó là một tiến triển chậm, tuy nhiên GS Canis (CHU de Clermont-Ferrand) đã nhắc lại như vậy. Ít những dữ kiện gợi ý rằng bệnh nặng thêm thường trực, mặc dầu trái lại nhiều dữ kiện nói rằng nó ổn định sau chẩn đoán.”
Một điều trị hormone cũng có thể được áp dụng trước một giải pháp ngoại khoa, để “calmer” những thương tổn và làm dễ sự can thiệp. Thật vậy, hiện nay, ngoại khoa rất hiếm khi được xét đến như là ưu tiên một và hầu như luôn luôn đối với những thương tổn sâu. ” Nếu ta phát hiện một kyste ovarien ở một bệnh nhân 23 tuổi, ta sẽ thiết đặt một điều trị chống lại đau và một theo dõi để không mổ tức thời, GS Charles Chapron (bệnh viện Cochin, Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Như thế ta có thể hoạch định một can thiệp, đồng thời tránh căn bệnh tái xuất hiện, vì lẽ nó xảy ra với kinh nguyệt và rằng ta buộc phải can thiệp lần nữa”
KHẢ NĂNG CỦA MỘT FIV
Nếu bệnh nhân khám phá mình bị endométriose vào lúc muốn có thai, định vị của các thương tổn cho phép hướng định những lựa chọn điều trị để tái lập khả năng sinh sản (fertilité) : ngoại khoa hay fécondation in vitro. Thật vậy, nếu ngoại khoa cho những kết quả ngoạn mục (hơn 60% thai nghén ngẫu nhiên trong năm sau phẫu thuật), điều này đôi khi nặng nề để có thể chịu được. Nếu một phần ruột phải được lấy đi, đôi khi cần ngay cả colostomie, bệnh nhân phải có thể lựa chọn ưa thích hơn những hậu quả của can thiệp này (mặc dầu tạm thời) hay là theo trước hết một chặng đường fécondation in vitro. Trong trường hợp này, những équipe pluridisciplinaire hội hộp trong những centre expert có thể mang lại một môi trường thuận lợi cho một sự xử trí toàn bộ, hiệu quả cho các bệnh nhân. Một công trình nghiên cứu được thực hiện năm 2016 đã cho phép xác lập rằng phần lớn các bệnh nhân đã chịu một phẫu thuật nặng nề liên quan đến lạc nội mạc tử cung đã được chuyển về những khoa có kinh nghiệm trong lãnh vực này.
(LE FIGARO 18/12/2017)

3/ LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG (ENDOMÉTRIOSE) : NHỮNG TRUNG TÂM CHUYÊN MÔN VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ MỚI.
Collège national des gynécologues et obstétriciens français (CNGOF) vừa trình bày những khuyến nghị mới cho thực hành lâm sàng (RCP : recommandations pour la pratique clinique) trong điều trị lạc nội mạc tử cung (endométriose), đồng thời những khuyến nghị về những tiêu chuẩn cho những trung tâm chuyện về lạc nội mặc tử cung (centre expert en endométriose). Chúng sẽ hữu ích đối với bệnh lý này, nạn nhân đồng thời của chậm chẩn đoán, nhất là bởi vì những triệu chứng đau là thông thường, và của một xử trí thay đổi còn nhiều tùy theo thầy thuốc và cơ sở điều trị. Trong hai trường hợp, biện pháp nhằm điều chỉnh sự không hiểu biết hiện nay về bệnh lý và những biểu hiện của nó để cải thiện chẩn đoán và điều trị.
” Chúng tôi đã xác định những sứ mạng khác nhau mà chúng tôi thấy dường như thiết yếu đối với những centre expert en endométriose, GS François Golfier, trưởng khoa phụ sản của Hospices civils de Lyon, đã nhấn mạnh như vậy. Trước hết, đó là tổ chức, trên quy mô lãnh thổ, tất cả các chuyên gia liên hệ chứ không chỉ các thầy thuốc ngoại khoa.” Thầy thuốc X quang, thầy thuốc phụ khoa nội (gynécologue médical), thầy thuốc phụ khoa ngoại (chirurgien gynécologue), ngoại tạng (chirurgien viscéral) và ngoại tiết niệu (chirurgien urologue) phải được bao gồm vào. Ngoài ra, những centre expert phải là những nơi điều trị, nơi phải nhờ đến đối với những thể phức tạp nhất để xác định đúng những chỉ định. Chúng cũng thực hiện những công trình nghiên cứu và đánh giá.
Sinh bệnh lý của căn bệnh và lịch sử tự nhiên của nó là những điểm mà CNGOF đã chú ý đến để xác lập những khuyến nghị cho thực hành lâm sàng (RCP). ” Những dữ kiện chỉ một căn bệnh ổn định, nặng thêm ít hay không sau chẩn đoán, đúng hơn là bệnh lý tiến triển không ngừng và đáng lo ngại đôi khi được gợi lên, GS Michel Canis, trưởng khoa phụ sản của CHU de Clermont-Ferrand đã chỉ như vậy. Vậy không khẩn cấp điều trị ngoại khoa, ngay cả đối với một bệnh nhân rất đau đớn.” Về chẩn đoán, một vấn chẩn chính xác được đề nghị để nhận diện những cơn đau mà tính chất chu khy cho phép gợi lạc nội mạc tử cung và một sách chỉ dẫn đơn giản hóa sẽ được đề nghị cho các thầy thuốc đa khoa để cải thiện tính thích đáng của khám lâm sàng.
(LE FIGARO 18/12/2017)

4/ LẠC NỘI MẠC TỬ CUNG (ENDOMÉTRIOSE) VÀ VÔ SINH (INFERTILITÉ) : MỘT MỐI LIÊN HỆ ĐƯỢC XÁC LẬP
Lạc nội mạc tử cung (endométriose) không luôn luôn gây vô sinh (infertilité) nhưng nó được tìm thấy hầu như trong một trường hợp trên hai vô sinh. Những thương tổn đôi khi trực tiếp chịu trách nhiệm tình trạng vô sinh : chúng có thể tạo thành những kyste có khá năng làm tắc các vòi trứng hay ngăn cản hoạt động bình thường của các buồng trứng. Điều khó giải thích hơn là làm sao một thương tổn lac noi mac tu cung (lésion endométriosique) nằm ở trực tràng lại có thể có một ảnh hưởng lên những cơ quan sinh dục.” Sự hiện diện của những tế bào lạc nội mặc tử cung (cellules endométriosiques) gây một phản ứng viêm trong tất cả xoang bụng, GS Charles Chapron, trưởng khoa ngoại sản của bệnh viện Cochin, Paris đã giải thích như vậy. Phản ứng viêm này làm xáo trộn thành phần của dịch phúc mạc (liquide péritonéal) trong đó xảy ra sự rụng trứng và thụ tỉnh.” Trong trường hợp này lạc nội mạc tử cung gián tiếp chịu trách nhiệm tình trạng vô sinh, có thể được phục hồi bằng cách hủy bỏ nguồn gốc của tình trạng viêm, điều này giải thích sự thành công của những can thiệp ngoại khoa đối với bệnh lý này.
(LE FIGARO 18/12/2017)

5/ PILULE NUMÉRIQUE
Giới hữu trách Hoa Kỳ vừa chấp thuận sự thương mãi hóa viên thuốc numérique (pilule connectée) đầu tiên của lịch sử y khoa. Đó là một loại thuốc được kê đơn từ 15 năm nay để điều trị bệnh tâm thần phân liệt và những rối loạn lưỡng cực. Version numérique của nó liên kết thuốc (aripiprazol) với một capteur, khi được nuốt vào, gởi một tín hiệu đến một patch được dán trên da. Tín hiệu này có thể truyền cho 4 người, trong đó những người điều trị, qua Bluetooth trên Smartphone. Capteur được cấu thành bởi silicone, đồng và magnésium, những oligoélément ăn được, được hòa tan khi viên thuốc đến trong dạ dày. Lợi ích của kỹ thuật này là đảm bảo rằng điều trị được theo tốt bởi bệnh nhân. Đối với vài thầy thuốc, viên thuốc này có tính chất xâm nhập (intrusive). Một tiền lệ nguy hiểm
(PARIS MATCH 7/12-13/12/2017)

6/ THUỐC NGỪA THAI CÓ NGUY HIỂM KHÔNG ?

Professeur Israel Nisand
CHU de Strasbourg
Service de gynécologie-obstétrique
Docteur Brigitte Letombe
CHU de Lille
Centre de médecine du couple

Vài phụ nữ hôm nay không được hiểu rõ về ngừa thai. Bởi vì ta nghe tất cả và điều trái lại của nó từ những chuyên gia về bóp méo thông tin. Tuy vậy, về mặt khoa học và y khoa, tình hình thật rõ ràng.Cuộc tranh luận giả hiệu (pseudo-débat) này được tiếp sức bởi những chuyên gia giả hiệu. Một trong những chuyên gia này, dưới mặt nạ compétence médicale, phô trương tước hiệu giáo sư ngoại tổng quát, BS Joyeux (đối tượng của một plainte disciplinaire của Y sĩ đoàn), tự cho phép viết trong một cuốn sách xuất bản năm 2013 những điều trái sự thật (contrevérités) trong lãnh vực ngừa thai. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ đọc những điều quyết đoán ngông cuồng trên các mạng xã hội và hỏi chúng tôi. Thuốc ngừa thai có sẽ là ” la plus grande déroute médicale của thế kỷ XXI ? ” Có lẽ ông ta quên, lẫn lộn giữa ý thức hệ và y học, nhiều phụ nữ chết trước khi dùng biện pháp ngừa thai hay giữ suốt đời những di chứng do một có thai ngoài ý muốn. Nhưng đối với ông ta, có lẽ điều đó không hiện hữu, một thai nghén ngoài ý muốn.
Các viên thuốc ngừa thai là nguồn gốc của những ung thư ? Những tư liệu y học quốc tế nói đúng điều trái lại với nhiều bằng cớ. Nó không nói rằng không bao giờ có những tác dụng phụ nghiêm trọng, nhưng từ năm 2008, nó nói rằng thuốc ngừa thai tránh 30.000 trường hợp ung thư buồng trứng mỗi năm. Và dữ kiện này đã được xác nhận năm 2013. Tần số xuất hiện của ung thư này, khó điều trị, được giảm 27% và sự giảm này càng quan trọng khi sự dùng thuốc ngừa thai càng lâu. Sự khác nhau vẫn tồn tại sau khi ngừng thuốc.
Cũng vậy đối với ung thư cổ tử cung và ung thư đại tràng. Ở quy mô quốc tế, những viên thuốc ngừa thai đã cho phép tránh trong 50 năm 400.000 trường hợp ung thư nội mạc tử cung, trong đó 200.000 trong 10 năm qua và ở đây sự giảm cũng tương quan với thời gian dùng thuốc (nguy cơ giảm 24% đối với mỗi năm năm sử dụng thuốc).
Tiếc thay ông ta không hay biết những dữ kiện của Royal College Anh, được công bố năm 2010, cho thấy, trên một nhóm 46.112 phụ nữ được theo dõi trong 39 năm, một sự giảm 29% của những ung thư phụ khoa và một hy vọng sống tốt hơn ở những phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai. Sự giảm tỷ lệ tử vong toàn bộ, được quan sát ở những phụ nữ đã luôn luôn sử dụng một ngừa thai, là 55 đối với 100.000 phụ nữ. Cơ chế tác dụng của những tác dụng có lợi này không được biết rõ, nhưng ta có thể nói rằng thuốc ngừa thai, từ 50 năm qua đã cứu hàng triệu mạng sống của các phụ nữ Ta có thể không đồng ý với những kết luận này, nhưng thế thì, bổn phận tối thiểu nhất, đó là chống lại điều đó bằng những luận cứ khoa học khác.
SỰ THIẾU KHẢ NĂNG
Dĩ nhiên tất cả điều đó không làm cho các viên thuốc ngừa thai trở thành những thuốc phải được sử dụng vì những tác dụng phòng ngừa ung thư của chúng, nhưng nói rằng chúng tạo nên một “déroute médicale” dĩ nhiên xuất phát tu những suy nghi khác với những suy nghi phải hướng dẫn một cứu giáo sư y khoa : hãy nói những điều thật và được xác lập về mặt khoa học với những tham chieu của chúng, chứ không chỉ giơ cao ngón tay thấm ướt trong gió.
Và, để thay thế viên thuốc ngừa thai, trong tình thần quảng đại cái tiến của vị giáo sư, ông ta đề nghị một phương pháp được biết rõ bởi tất cả mọi người, phương pháp Ogino của sự kiêng định kỳ (abstinence périodique), mặc dầu từ nầy được quản lý bởi một ordinateur, nhưng điều này chỉ mang lại cho tính không hiệu quả của nó một tính hiện đại bề ngoài (modernité de façade). Được phát minh bởi hai thầy thuốc (Ogino và Knaus) vào đầu thế kỷ XX, phương pháp này được dùng để tổ chức những buổi nghỉ phép cho binh lính chỉ độc nhất vào những thời kỳ sinh sản của các người vợ của họ để tăng dân số đất nước một cách hiệu quả hơn. Để gia tăng những thai nghén, phương pháp này đã chứng minh tính hiệu quả cua no. Trái lại, với tính cách là phương pháp ngừa thai, mặc dầu được cho phep bởi giáo hoàng Pie XII năm 1951, không có một chuyên gia nào hôm nay dám đề nghị nó, vì phương pháp có nhiều sai sót.
Những người không có năng lực bao giờ cũng tự cho phép mình cho những ý kiến y khoa nhưng không chịu đảm nhận những hậu quả của nó. Những người tin vào điều đó chỉ tốn của mất công vô ích. Nhưng điều từ nay làm trầm trong sự lẫn lộn tập thể, đó là sự bất tài này được trang điểm bởi những tước hiệu y khoa không còn tương ứng nữa với thực tế. Khi ý thức hệ và y khoa lẫn lộn nhau, chính các bệnh nhân phải trả giá. Bổn phận và trách nhiệm của những người hành nghề phụ khoa viết những dòng chữ này là cảnh giác các phụ nữ chống lại những nhà tiên tri giả hiệu của thời đại chúng ta.
(LE FIGARO 14/3/2016)

7/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG TIẾN BỘ KHÔNG NGỪNG CỦA XẠ TRỊ
Các thầy thuốc ung thư càng ngày càng tìm cách thích ứng những điều trị theo profil của các bệnh nhân đồng thời giữ ý tưởng rằng phải làm tất cả để tránh sự tái phát.ONCOLOGIE. Khi họ biến đổi những chiến lược điều trị, mục tiêu, để không nói là nỗi ám ảnh, của các thầy thuốc ung thư là duy trì cùng tính hiệu quả của những điều trị được sử dụng cho đến khi đó, đồng thời làm giảm những di chứng khả dĩ. Như thế hôm nay, 3/4 những ung thư vú có thể hưởng một chirurgie conservatrice (chỉ một phần của vú được lấy đi) nhưng ta thưởng quên vai trò của xạ trị. ” Xạ trị hậu phẫu (radiothérapie postopératoire) giữ một vai trò chủ yếu trong ung thư vú “, BS Bruno Cutuli, oncologue radiothérapeute (Institut du cancer Courlancy, Reims) và chủ tịch của Société française de sénologie et pathologie mammaire (SFSPM), vào năm 2012 đã viết như vậy trong tạp chí khoa học Cancer/Radiothérapie. ” Sự giảm toàn bộ số những tái phát locorégionale là 60 đến 70%, đối với những cancer in situ còn khu trú ở các canaux cũng như đối với những ung thư được gọi là thâm nhiễm (cancer infiltrant), thể phổ biến nhất của ung thư vú “, BS Cutuli đã nói như vậy. Điều này cho thấy rõ tầm quan trọng của xạ trị.
Xạ trị nhằm chiếu tia X lên những tế bào ung thư bằng ” những chùm cac phần tử (faiseaux de particules) mang một năng lượng khiến tia X có thể đi xuyên qua vật chất và biến đổi nó ” Sau một ngoại khoa bảo tồn (chirurgie conservatrice), một xạ trị ngoài (radiothérapie externe) của tuyến vú hầu như được thực hiện “, điều đó là hiển nhiên, ” đồng thời gìn giữ chừng nào có thể được những mô lành mạnh và các cơ quan lân cận “.
” Mục đích là giữ tính hiệu quả đồng thời làm giảm nguy cơ các biến chứng, đặc biệt trên phổi và tim, BS Cutuli đã giải thích như vậy. Từ những năm 1990, đã có những tiến bộ kỹ thuật : phát triển những accélérateur linéaire và cải thiện
sự xác định vị trí bằng cách sử dụng một scannner với sự tối ưu hóa những dosimétrie.”Đối với những ung thư vú tại chỗ (cancer in situ) và thâm nhiễm (cancer infiltrant), xạ trị được sử dụng bổ sung (adjuvant) phẫu thuật nhằm tiêu hủy những tế bào ung thư có thể tồn tại sau mổ. Khi tất cả vú đã được lấy đi (mastectomie), xạ trị của thành ngực thường được chỉ định, để làm giảm nguy cơ tái phát. Nhưng đó không phải là mục đích duy nhất của điều trị này. ” Ta cũng chiếu tia X những vùng hạch khu vực, khi những tệ bào ung thư có thể lan đến đó, đặc biệt nếu có những hạch nách bị xâm lẩn”, BS Cutuli đã nhấn mạnh như vậy.
Đối với mỗi bệnh nhân, một kế hoạch điều trị sẽ được xác lập ” sur mesure ” (tùy theo từng cá thể) nhờ một công tác équipe giữa manipulateur, physicien và/hoặc dosimétriste, dưới sự điều hợp của oncologue radiothérapeute.” Kế hoạch tính đến những đặc điểm của khối u, của hình thái học của bệnh nhân và những vấn đề y khao mà bệnh nhân có “, BS Cutuli đã nhấn mạnh như vậy.
Một “travail d’orfèvre” (công việc của thợ kim hoàn) thật sự bởi vì những nhà điều trị có những đơn vị đo lường (HDV : histogrammes dose-volume) chỉ cho họ những trị số ngưỡng phóng xạ (valeurs-seuils d’irradiation) không được vượt qua.” Ta nhìn xem thể tịch cần điều trị có được cho một cách đúng đắn không và xem những HDV đối với những cơ quan lành mạnh kế cận có được tôn trọng không, BS Cutuli đã giải thích như vậy. Nếu quá cao, ta tính lại bằng cách biến đổi trường, góc, để giảm thể tích và không làm nguy cơ bệnh nhân.”
Sự thoải mái của bệnh nhân, mà không mất cơ may về mặt hiệu quả, cũng đã được cải thiện, đặc biệt đối với những phụ nữ già, với những liều hơi cao hơn được phát ra trong ít buổi xạ trị hơn (radiothérapie hypofractionnée).” Ta cũng chuyển từ 5 đến 6 tuần điều trị thành khoảng 3 tuần “, BS Cutuli đã thêm vào như vậy.
Những protocole khác như irradiation partielle (chỉ trên lit tumoral đối với những thể nguy cơ tái phát thấp) còn đang được nghiên cứu trong những trung tâm chuyên môn. Những tiến bộ kỹ thuật khác, cũng đã cho phép phát triển radiothérapie stéréotaxique với độ chính xác rất cao, nhằm cho những liều mạnh trên một thể tích rất thu nhỏ, và điều đó chủ yếu để điều trị nhưng di căn xương và não.
Tuy nhiên cần phải thận trọng : ” Điều rất quan trọng là suy nghĩ kỹ trước khi làm nhẹ bớt điều trị ban đầu bởi vì không nên gia tăng nguy cơ tái phát trong thời gian dài hạn, BS Cutuli đã nhấn mạnh như vậy. Chúng ta đừng quên rằng hôm nay tiên lượng trong trường hợp tái phát không được tốt lắm.” Chủ tịch của SFSPM nhấn mạnh vào thời gian nhìn lại (recul) cần thiết : Phải đánh giá những kết quả của điều trị các ung thư vú trong thời gian dài hạn (10 đến 15 năm) và nhớ rằng chất lượng của điều trị ban đầu là một đảm bảo an toàn cho tương lai của bệnh nhân.
(LE FIGARO 27/11/2017)

8/ CAFÉ CÓ LỢI CHO SỨC KHOẺ
Các nhà dịch tễ học Anh (đại học Southampton và Edimbourg) đã tập hợp những kết quả của 218 méta-analyse (chính chúng lại gồm nhiều công trình nghiên cứu), được thực hiện khắp nơi trên thế giới về sự tiêu thụ cà phê. Tổng cộng dân được phân tích như thế vượt trên 2 triệu. Kết quả : bắt đầu từ 3 hay 4 tach cà phê một ngày làm giảm, so với những người không tiêu thụ cà phê, tỷ lệ tử vong toàn bộ 17%, tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não 30% và tỷ lệ tử vong do bệnh động mạch vành 16%. Nó cũng làm giảm nguy cơ bị những ung thư khác nhau (tiền liệt tuyến, nội mạc tử cung, gan, máu) 18%, xơ gan 39%, đái đường loại 2 (thường gặp nhất) 30%…Tuy nhiên, với liều mạnh, nó có hại trong thời kỳ thai nghén (nguy cơ trẻ sơ sinh trọng lượng thấp hay sinh non) và làm dễ những gãy xương ở phụ nữ, nhưng không ở đàn ông.
(PARIS MATCH 21-27/12/2017)

9/ MỘT CHI MA (MEMBRE FANTÔME) CÓ THỂ HỮU ÍCH CHO NGƯỜI BỊ CỤT CHI ?

Professeur Jean Paysant
Institut de réadaptation de Nancy
Université de Lorraine
Président de l’Association française pour l’appareillage

Một sự cắt cụt (amputation), một tai biến mạch máu não, một nhồi máu cơ tim là những chấn thương quan trọng, mặc dầu những tiến bộ của những điều trị thuốc, của chụp hình ảnh can thiệp và phẫu thuật sửa chữa những thương tổn, để lại những di chứng, nguồn của những mất năng lực chức năng (incapacités fonctionnelles) và của những xáo trộn của cuộc sống gia đình, xã hội và nghề nghiệp. Những technique de rééducation et de réadaptation tác động như những hướng dẫn (guide) và những tăng tiềm lực (potentialisateur) của tính dẻo (plasticité) theo nghĩa rộng : tính dẻo thần kinh trung ương và ngoại biên (neuroplasticité centrale et périphérique), tính dẻo của những cơ quan thực hành cơ-xương (effecteur musculo-squelettique), nhưng cũng tính linh hoạt thích ứng (flexibilité adaptive) của cá thể trong những động tác, những hoạt động, những tham gia, trong những hành vi của mình.
Chi ma được biết rõ bởi những người bị cắt cụt, bởi những thầy thuốc và bởi những thérapeute, chủ yếu trong cường độ đau đớn. Đôi khi nó cũng được cảm nhận như khó chịu, làm xáo trộn và vô ích. Và tuy vậy, chi ma này cũng là một tiềm năng!
Cuộc họp mặt của các nhà lâm sàng kinh nghiệm về médecine physique et de réadaptation et en appareillage, của các nhà nghiên cứu về khoa học chuyển động, về robotique và xã hội học, nhưng cũng sự hỗ trợ của các cơ sở y tế, của các đơn vị nghiên cứu và của Cơ quan nghiên cứu quốc gia đã cho phép biến đổi ý tưởng ” sự điều khiển prothèse chi trên bằng chi ma ” thành bằng cớ khoa học, rồi thành một prototype hiệu quả đối với người bị cắt cụt chi.
Kỹ thuật hiện nay của các bàn tay cơ-điện (mains myélectrique) (ngay cả nhiều ngón tay loại bionique) cần apprentissage (rồi automatisation) của sự co tự ý của vài cơ của mõm cụt bởi chính bệnh nhân ; chức năng của của những cơ này được chuyển hướng khỏi sự sử dụng ban đầu, để được sử dụng theo một sơ đồ được xác lập trước để điều khiển prothèse. Thí dụ, ở người bị cắt cụt cánh tay, cơ hai đầu không điều khiển nữa chức năng gấp khuỷu bình thường nhưng để mở bàn tay giả (main prothétique). Mặc dầu sự tự động hóa, nhưng charge cognitive để điều khiển loại prothèse này vẫn quan trọng.Hôm nay, những kết quả tạm thời của dự án “PhantoMovControl”, được trình bày nhân hội nghị thứ 32 của Sofmer ở Nancy từ 5 đến 7 tháng 10 năm 2017, cho thấy rằng bệnh nhân có thể điều khiển một cách tự nhiên những chức năng của chi ma của mình, chức năng mà trong phần lớn các trường hợp bệnh nhân đã bảo tồn sơ đồ vận động, ngay cả những năm sau chấn thương. Khi sự chỉ huy tự nhiên chị mà, những hoạt động cơ của mõm cụt được phát sinh lại, đối với một người nhất định và đối với một cử động nhất định. Được bắt bởi một nappe nhiều điện cực, những hoạt động cơ này của mõm cụt phát xuất từ điều khiển tự nhiên của người bị cụt chi được sử dụng một cách trực tiếp để kích hoạt những cử động của prothèse.Những kiểu đặc hiệu kích hoạt các cơ của mõm cụt, rất khác với những kích hoạt trong các cơ của chi trước khi cắt cụt và sự tái tổ chức, là đặc trưng cho tính vận động của chi, hôm nay trở thành chi ma.
Tỷ lệ lưu hành cao của chi ma, ngay cả một thời gian dài sau cắt cụt, và những kết quả chức năng có được ở các bệnh nhân mở đường cho commande et controle intuititifs, khai thác tính dẻo thần kinh (neuroplasticité) tự nhiên này.
Vả lại, những cử động của chi ma có một tác dụng lên những đau mãn tính của chi ma. Ortiz Catalan, thuộc đại học Goteborg ở Thụy Điển, diễn giả trong bài nói chuyện khai mạc của hội nghị, mô tả những hiệu quả của một réentrainement của chi ma trong thực tế ảo lên các triệu chứng đau. Sự sử dụng hoạt động điện cơ (activité électromyographique), liên kết với những cử động này để dẫn một chi trong thực tế ảo, cho phép tái lập một feedback visuel có khuynh hướng làm giảm cường độ và tần số của đau. Những nghiên cứu bổ sung về tính dẻo thần kinh của vỏ não cảm giác (neuroplasticité du cortex cérébral sensitif) khiến tưởng tượng những thay thế giác quan (substitution sensorielle) hướng những cảm giác được bắt bởi prothèse trở lại “lên” chi ma.
Với những kết quả của những công trình nghiên cứu này, giữa các kíp phát xuất từ những khung trời khoa học khác nhau, có thể rằng, trong vài năm nữa, quan niệm về chi ma của chúng ta sẽ thay đổi.
Và cái nhìn dương tính về những tiềm năng của mọi người phế tật khi đó sẽ được tăng cường !
(LE FIGARO 2/10/2017)

10/ CHẲNG BAO LÂU ROBOT-MÉDECIN !
Một công ty nghiên cứu Trung Hoa (iFlytek), chuyên môn về trí thông minh nhân tạo (intelligence artificielle), đã phát triển một robot đã đậu, và với một số điểm hạng ưu (456 điểm trên một tối thiểu được đòi hỏi 360), kỳ thi viết cho phép thực hành y khoa ở Trung Quốc. Đó là robot đầu tiên trên thế giới đă thành công loại examen này. Cơ sở của những dữ kiện của nó bảo gồm hàng ngàn trường hợp y khoa, chẩn đoán được xác lập bởi những thầy thuốc của các bệnh viện lớn nhất của đất nước, những nội đúng của những sách tham khảo (livre-référence), những khuyến nghị của giới hữu trách quốc tế…Những algorithme khác nhau cho phép nó sử dụng tất cả kiến thức được tích giữ để trả lời bất cứ câu hỏi nào. Những concepteur dự định cho robot trở thành một phụ tá của các thầy thuốc (“smart doctor assistant”) trong những vùng xa xôi hẻo lánh nhất của Trung Quốc…và những nơi khác.
(PARIS MATCH 8-15/12/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(5/1/2018)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s