Thời sự y học số 457 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ XỬ TRÍ TỐT HƠN TÌNH TRẠNG STRESS SAU CHẤN THƯƠNG
Nếu không được điều trị, tình trạng stress posttraumatique tạo nguy cơ nghiêm trọng cho trạng thái cân bằng của các nạn nhân.TRAUMATISME. Là những nạn nhân của những cuộc mưu sát như ở Paris hay ở Nice, của những tai nạn thiên nhiên như Irma ở Antilles, của những vụ cưỡng hiếp, của những bạo lực giữa người với người, của những tai nạn nghiêm trọng, những người cứu và những quân nhân trong vùng chiến tranh…tất cả đã chịu một chấn thương tinh thần, một stress càng hung bạo khi họ sợ cho cuộc sống của họ hay khi họ đã thấy những người thân chết. Trong những giờ sau biến cố chấn thương, stress cấp tính được biểu hiện bởi một tình trạng nguy khốn lớn, một sự lo âu quan trọng, sự kích động, hay ngược lại tình trạng lả (prostration), trạng thái ngây dại (hébétude). Ở nhiều người, những triệu chứng này sẽ dần dần giảm đi trong tháng tiếp theo. Đối với những người khác, cảnh chấn thương tinh thần sẽ không ngừng được sống trở lại trong một tình trạng hypervigilance hay những rối loạn tâm thần. Nếu chúng tồn tại sau một tháng, những dấu hiệu này có thể chứng tỏ một trạng thái stress sau chấn thương (état de stress posttraumatique), có nguy cơ trở nên mãn tính.
Chẩn đoán tình trạng stress sau chấn thương, hay ESPT (état de stress posttraumatique), dựa trên những tiêu chuẩn chính xác. DSM 5, “bible” (thánh kinh) của các thầy thuốc tâm thần, mô tả những triệu chứng được phân thành 4 nhóm : ” Những triệu chứng lập lại, sống lại (reviviscence), trong đó cảnh chấn thương (scène traumatique) trở lại thường xuyên một cách xâm nhập (intrusive), tự ý, những triệu chứng tránh những tình huống có thể nhắc lại chấn thương, những triệu chứng biến đổi âm tính của khí chất và tư duy, thiếu sự ham thích cuộc sống, vécu émoussé, phi hiện thực (déréalisation), xấu hổ, tính tội lỗi (culpabilité), tự khép mình lại (repli sur soi), và những triệu chứng tăng hoạt thần kinh thực vật chịu trách nhiệm tình trạng tăng cảnh giác (hypervigilance), những sự giật nẩy mình (sursauts), giận dữ, những rối loạn giấc ngủ..Sự tồn tại sau một tháng của ít nhất một triệu chứng của mỗi nhóm xác định tình trạng stress post-traumatique”, GS Wissam El-Hage, thầy thuốc tâm thần (CHRU Tours) đã giải thích như vậy.
Đối với GS Patrick Clervoy, psychiatre militaire, ” tình trạng stress sau chấn thương, đó là căn bệnh của sự sống lại chấn thương tâm thần (maladie de la reviviscence du traumatisme), ký ức về cảnh địa ngục và địa ngục của ký ức. Những ký ức trở lại dưới dạng những ác mộng chấn thương tâm thần, như bệnh nhân mỗi đêm đắm chìm trở lại trong cảnh hiếp dâm tập thể mà cô ta đã là nạn nhân, hay người cựu quân nhân Indochine sống lại trong từng chi tiết nhỏ nhất đêm chiến đấu cuối cùng ở Điện Biên Phủ…”. Ban ngày, ký ức chấn thương tâm thần trở lại dưới dạng flash ngẫu nhiên hay được kích động lại bởi những kích thích gợi ý, do đó những chiến lược để tránh (stratégies d’évitement). Hiếm hơn, nó tái xuất hiện nhiều năm sau, nhất là nếu chấn thương tâm thần đã xảy ra trong thời thơ ấu hay thiếu niên.
Trong tình huống đe dọa sinh tồn, amygdale, nằm trong não, quản lý sự thích ứng với những cảm xúc, bị tăng kích thích và phóng ra những chất dẫn truyền thần kinh khác nhau sẽ giúp cơ thể đáp ứng lại. Lúc thức tỉnh, khi đó nó ghi tất cả về biến cố để đương đầu tốt hơn nếu biến cố được lập lại. ” Ngay những chi tiết không đáng quan tâm, một màu sắc, một mùi…, được ghi như những thành phần của đe dọa này, và đủ để làm xuất hiện lại tất cả nơi xảy ra.” Như thế được giải thích tính tàn nhẫn, sự chính xác của những sự sống lại này và charge émotionnelle mạnh của chúng. Sự lặp lại của chúng cũng được liên kết với một tính hiệu quả ít hơn của những cơ chế não ức chế. ” Một phi công kể lại cho chúng tôi những flash-back của ông ta về một crash trong đó ông phải bật ra khỏi máy bay. Tất cả trở lại cùng lúc : tai nạn, bóng tối, cái lạnh lẽo, cảm giác ngột thở mà thân thể ông sống lại đúng như lúc ông bị phóng trong đại dương”, GS Clervoy đã kể lại như vậy. Ngoài ra chính các quân nhân trước hết đã mô tả hội chứng này, khi 1 triệu cựu chiến binh Việt Nam trở về Hoa Kỳ trong tình trạng stress sau chấn thương.
Chỉ 15% những người đối đầu với một stress cốt tử sẽ phát triển bệnh lý này, và hai người sẽ không phản kháng lại với cùng stress theo cùng cách. Mặc đầu chúng có thể mờ nhạt đi theo năm tháng, những triệu chứng ESPT khi chúng tồn tại thường làm cho một cuộc sống nghề nghiệp hay cá nhân thường khó khăn. Có 4 lần nhiều hơn những tự tử, tai nạn, nghiện ngập và những hành vi nguy cơ ở những người bị ESPT so với dân thường.Vào lúc xảy ra những attentats ở Paris tháng giêng năm 2015, 31% những người bị đe dọa trực tiếp đã phát triển một ESPT, nhưng chỉ 1% những người can thiệp, pompier, những lực lượng giữ gìn an ninh hay những người sơ cứu bị hội chứng này, công trình nghiên cứu Impacts đã chỉ như vậy. ” Một hành động hung bạo ít gây chấn thương tâm thần nếu ta chờ đợi nó hơn là nếu nó xảy đến đột ngột với chúng ta, nếu nó được trải nghiệm tập thể hơn là mỗi cá nhân, và nếu ta có thể đương đầu với một sự nắm vững kỹ thuật “, GS Clervoy đã nhấn mạnh như vậy. Ngược lại, sự thừa nhận chấn thương bởi những người thân, sự ủng hộ của họ, su kiện các nạn nhận được lắng nghe và tin tưởng,và sự xử trí sớm giúp họ trong sự điều hòa những cảm xúc của họ.
(LE FIGARO 4/12/2017)

2/ NHỮNG CƠ CHẾ NÃO ĐANG ĐƯỢC NGHIÊN CỨUMặc dầu vẫn còn chưa được hiểu rõ, những cơ chế, qua đó được thiết đặt sự sống lại (reviviscence) chấn thương ban đầu, liên quan đến nhiều vùng của não và tác động lên những đường điều biến thần kinh (voie de neuromodulation) chính (hệ sérotoninergique, adrénergique và dopaminergique).
” Những sự sống lại này không phải là những ký ức thật sự được xây dựng, mà đúng hơn là những mảnh ký ức rất sensorielle, rất affective, được sống lại như thể chúng từng hiện diện, vậy rất làm khiếp sợ, GS Francis Eustache (Unité Inserm-EPHE 1077, Caen) đã giải thích như vậy. Nhưng đối với tôi, ký ức chấn thương không dựa trên những cơ chế cổ điển của trí nhớ.
PROGRAMME 13 NOVEMBRE
Đối với nhà nghiên cứu chuyên về trí nhớ này, công trình nghiên cứu về tình trạng stress sau chấn thương cho phép hiểu những méo mó của trí nhớ mà ta không thấy trong những bệnh lý khác. Từ đó dự án nghiên cứu Remember mà ông ta đã đề nghị, cùng với nhà sử học Denis Peschnski trong chương trình 13 November nhằm ghi và giải mã ký ức về những attentats của năm 2015.
” Tất cả chúng ta đối đầu với những sự nhớ trở lại (réminiscences). Bình thường não của chúng ta có năng lực kiểm soát chúng. Chúng ta có trong những vùng giữa của não, phía trước thùy trán (lobe frontal), một module kiểm soát những mạng não khác, ở vùng chẩm hơn, của thị giác, của trí nhớ và của những xúc cảm..Trọng tâm của công trình nghiên cứu của chúng tôi, đó là hiểu tại sao hệ điều hòa này bị rối loạn ở những người bị ESPT “, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy.
Dự án được thực hiện ở 200 người được chia thành 3 nhóm : những người chứng không hiện diện tại hiện trường và hai nhóm hiện diện nơi xảy ra biến cố, bị cùng cách chấn thương tâm thần của attentat, một nhóm gồm những người bị ESPT và nhóm kia thì không. Protocole nghiên cứu dự kiến một đánh giá khả năng kìm hãm hay không sự xâm nhập này bằng IRM và IRM chức năng. ” Những kết quả đầu tiên đã cho thấy những khác nhau giữa những người bị ESPT và những người khác. Nhưng còn phải có thời gian để có một ý tưởng chính xác về những cơ chế nào được vận dụng.
(LE FIGARO 4/12/2017)

3/ ESPT : NHỮNG ĐIỀU TRỊ HIỆU QUẢ NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC BIẾT RÕ
” Những mạng điều trị ESPT hiện hữu, nhưng người ta không luôn luôn biết rằng điều họ có thuộc về những điều trị đặc thù và sợ không được tin tưởng. Phải cải thiện thông tin về tình trạng stress sau chấn thương thật sự là gì, và cho biết tốt hơn những điều trị, ví dụ sự hiện hữu trong mỗi département một cellule d’urgence médico-psychologique có thể tiếp bệnh nhân trong tuần “, GS Clervoy lấy làm tiếc như vậy.
Trong trường hợp stress rất dữ dội, lo âu quan trọng hay nguy cơ tự tử, vài loại thuốc có thể hữu ích. ” Những benzodiazépines có một tác dụng lên các triệu chứng cấp tính nhưng chỉ làm che khuất chúng.Trong quân đội, đôi khi chúng tôi sử dụng một neuroleptique sédatif, loxapine, với liều rất nhỏ, được lập lại mỗi 15 phút “, thầy thuốc tâm thần đã nói như vậy. Trong 40% những trường hợp, ESPT được liên kết với một trầm cảm cũng phải được điều trị. Và cũng giải thích một phần chứng nghiện rượu và nghiện những chất hoạt thần (substances psychoactives). ” Thuốc là cần thiết trong tình huống này, hay khi không thể nhờ đến tâm lý liệu pháp, thí dụ ở những người tị nạn vì hàng rào ngôn ngữ hay văn hóa. Nhưng điều trị hàng đầu của ESPT, đó luôn luôn là tâm lý liệu pháp “, GS El-Hage đã nhấn mạnh như vậy.
Những tâm lý liệu pháp được khuyến nghị nhất dựa trên sự tiếp xúc lại với chấn thương tâm thần, chứ không phải với sự nguy hiểm thật sự, nhưng với nỗi sợ hãi của riêng mình, bằng những kỹ thuật khác nhau. ” Khi anh sống lại một chấn thương tâm thần, như trong ESPT, vào mỗi lần như vậy, anh sẽ củng cố lại nhiều hơn ký ức về nó. Bằng cách làm rối loạn sự tái củng cố này, có thể đạt được rằng nạn nhân sẽ dẫn dần ghi lại những yếu tố làm an lòng vào lúc tái củng cố này “, GS El-Hage đã giải thích như vậy.
” LIVRER L’HORREUR VECUE”
Điều đó có thể được thực hiện bằng những buổi psychothérapie de réassurance, bằng những thérapie cognitivo-comportementale. EMDR (Eye Movement Desensitization and Reprocessing), liên kết những cử động của nhãn cầu và sự hồi tưởng chấn thương tâm thần, có vẻ rất có hiệu quả. ” Điều đó cũng đúng trong phòng ngừa, khi giai đoạn cấp tính được kèm theo bởi những dau hiệu péritraumatique của loạn năng não như một sự méo mó về nhận thức thời gian, làm sống chậm lại chấn thương tâm thần này, GS Clervoy đã giải thích như vậy. Vài chất cũng có thể tạo điều kiện cho découplement này, thí dụ propranolol tác động qua hạnh nhân (amygdale) lên sự nhớ lại (remémorisation) và sự dập tắt nỗi sợ hãi. ” Những công trình nghiên cứu khác sử dụng ecstasy hay ocytocine. Hay sự kích thích điện từ qua sọ (stimulation magnétique transcranienne) hay sự kích thích vỏ não trước trán bằng dòng điện liên tục. Thôi miên, những kỹ thuật ở những người hoàn toàn thức tỉnh, phát xuất từ yoga, équithérapie… cũng có thể có lợi ích của chúng. Đối với GS Clervoy, ” điều quan trọng là bệnh nhân có thể trao dần dần những mảnh đời rùng rợn đã được trải nghiệm “. Và tự giải thoát tốt nhất.
(LE FIGARO 4/12/2017)

4/ MẮT BIONIQUE : MỘT NIỀM HY VỌNG TO LỚN ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI THẤY KÉM
GS José-Alain Sahel, giám đốc của Viện thị giác, hôpital des Quinze-Vingts và trưởng khoa ở Fondation Rothschild, Paris ; BS Yannick Le Mer, chirurgien de l’oeil, ở Fondation Rothschild, Paris ; Khalid Ishaque, Giám đốc của Pixium Vision France ; bình luận những tiến bộ của một thiết bị có khả năng phục hồi thị lực ở những người thấy kém.
Hỏi : Võng mạc hoạt động như thế nào ?
GS José-Alain Sahel : Võng mạc là một membrane neurosensorielle nằm ở đáy mắt, có khả năng, qua những tế bào được gọi là tế bào cảm thụ ánh sáng (photorécepteur), phát hiện ánh sáng, biến đổi một tín hiệu ánh sáng thành tín hiệu điện, mã hóa nó rồi gởi nó đến vùng não có thể giải mã nó và biến thành thị giác.
Hỏi : Mục đích của những système de vision Pixium là gì và nguyên tắc kỹ thuật ?
GS José-Alain Sahel : Mục tiêu là khôi phục ở những người không mù khi sinh ra đời nhưng đã trở nên mù một thị giác nào đó mà họ có trí nhớ. Võng mạc của họ bị hỏng, nhưng dây thần kinh thị giác thì không, điều này cho phép truyền những thông tin thị giác đến não. Phương pháp kỹ thuật nhằm đánh thức võng mạc bằng những implant gởi đến võng mạc những kích thích qua một circuit được nối kết. Circuit này, trong version mới nhất, gồm những lunettes được trang bị bởi một minicaméra.Minicaméra chụp môi trường chung quanh có thể thấy được ; cũng có một ordinateur de poche nhận những tín hiệu vidéo của caméra ; một hệ laser infrarouge (IR) được mang bởi lunettes nhưng được hướng về võng mạc, nhận những message của ordinateur và diễn dịch chúng thành những tín hiệu IR ; sau cùng những implant võng mạc, bắt những tín hiệu này và sẽ kích thích võng mạc.Những implant có thể được đặt ở bề mặt của võng mạc (hệ Iris), để kích hoạt dây thần kinh thị giác, hay dưới võng mạc (implant sosu-rétinien), ở nơi những tế bào cảm thụ ánh sáng bị đánh mất, để kích thích những tế bào võng mạc (hệ Prima). Phương pháp sau này sẽ hiệu năng hơn về mặt chất lượng perception visuelle so với phương pháp Iris.
Hỏi : Kỹ thuật của ông dành cho những ai ?
GS José-Alain Sahel : Những implant ở bề mặt võng mạc (implant épirétinien) được chỉ định đối với những thể tiến triển (mù hoàn toàn) của viêm võng mạc sắc tố (rétinite pigmentaire) : một căn bệnh di truyền phá hủy những tế bào cảm thụ ánh sáng và trong đất nước chúng ta gây bệnh cho khoảng 40.000 người. Hệ thống Prima (implant sous-rétinien) dành cho những trường hợp tiến triển của bệnh DMLA (bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi già) được gọi là khô hay teo (forme sèche ou atrophique), đối với chứng bệnh này không có điều trị. Trong DMLA (1,5 triệu người ở Pháp trong đó 20% bị thể khô) thị giác ngoại biên được bảo tồn, nhưng thị giác trung tâm bị biến đổi, điều này gây trở ngại, thậm chí ngăn cản đọc và nhận biết những gương mặt.
Hỏi : Thiết bị Iris đầu tiên đã được ghép ở người. Với những kết quả nào ?
BS Yannick Le Mer : Hệ Iris (implant épirétinien) đã được trắc nghiệm ở 10 bệnh nhân bị viêm võng mạc sắc tố với mù lòa, với cái giá của một can thiệp kéo dài từ 2 giờ 30 đến 3 giờ ; 150 vi điện cực đã được cấy với gây mê tổng quát ở bề mặt của võng mạc của bệnh nhân.Thời gian hoạt động đã không luôn luôn dài như được dự kiến, nhưng sự dung nạp với những implant này đã tỏ ra rất tốt. Một thị giác hữu ích nào đó trong cuộc sống hàng ngày đã được phục hồi, với cái giá của một rééducation kéo dài từ 3 đến 6 tháng, cho phép những người nhận implant phân biệt những hình dáng. Như thế, họ sẽ thấy một tay nắm trên một chiếc cửa nếu contraste rõ rệt, hay những bậc trong một cầu thang.
Hỏi : Prima mới đây hơn, phải chăng hiệu năng hơn Iris ?
GS Yannick Le Mer : Ở người, lợi ích của nó vẫn không được biết. Nhưng những công trình nghiên cứu động vật đã cho phép đánh giá rằng nó phải đảm bảo một définition tốt hơn Iris, nhất là nó được đặt dưới võng mạc, vậy gần với circuit physiologique “résiduel” hơn.Système Prima không dùng dây (sans fil), dưới dạng một puce gồm 378 vi điện cực, có thể cấy trong một giờ với gây tê tại chỗ.
Hỏi : Một thử nghiệm lâm sàng ở người vừa được cho phép với système Prima. Anh chờ đợi gì về première mondiale này ?
Mr Khalid Ishaque : Première mondiale này xác nhận sự an toàn của kỹ thuật, tái lập một phần của thị giác trung tâm của các bệnh nhân và xúc tiến một công trình nghiên cứu châu Âu để chuẩn nhận nhằm chuẩn bị cho sự thương mãi hóa của système này.
(PARIS MATCH 14/12-20/12/2017)

5/ NOBEL DE MEDECINE 2017 : GIỜ CỦA ĐỒNG HỒ SINH HỌC ĐÃ ĐIỂM
3 người Mỹ được giải Nobel đã khám phá gène điều hòa rythme circadien.
Jeffrey Hall, 72 tuoi, Đại học Maine, Orono (Hoa Kỳ)
Michael Rosbach, 73 tuổi, Brandeis University, Waltham (Hoa Kỳ)
Michael Young, 68 tuổi, Rockfeller University, New York (Hoa Kỳ)
Những sinh vật có trong chúng một đồng hồ nội tại (horloge interne) thật sự, đã cho phép chúng sống theo nhip ngày và đêm trước khi khám phá những đồng hồ quả quýt và những đồng hồ báo thức. Vào thế kỷ XVIII, nhà thiên văn học người Pháp Jean-Jacques d’Ortous de Mairan đã nhận thấy rằng các lá mimosa nở vào ban ngày để khép lại ban đêm. Nhất là, ông chứng thực rằng cây thực vật này vẫn giữ hành vi này ngay cả khi ta giữ nó trong bóng tối hoàn toàn trong ngày. Như thế nảy sinh ý tưởng về một “rythme circadien”. Còn phải kham pha cơ chế. Và chính ở ruoi mà những người nhận giải Nobel đã thực hiện điều đó.
3 nhà di truyền học Hoa Kỳ đã khám phá một gène điều hòa nhịp ngày đêm này. Gène này điều khiển sự sản xuất một protéine tích tụ trong tề bào vào ban đêm, rồi bị thoái biến vào ban ngày. Nồng độ của protéine này, được gọi là “PER” thay đổi theo một chu kỳ 24 giờ, tương ứng với nhịp ngày đêm. Nhưng không phải chỉ có thế. Bằng cách liên kết với một protéine khác được gọi là TIM, chính nó ức chế sự sản xuất nó bằng cách phong bế gène. Sau cùng, các nhà khoa học đã khám phá những protéine khác cho phép điều chỉnh nhịp theo một chu kỳ gần 24 giờ. Họ cũng đã chứng minh rằng nguyên tắc đồng hồ sinh học này có ở nhiều sinh vật, trong đó có con người. Nhờ nó, những tham số sinh học như chuyển hóa, giấc ngủ, HA hay nhiệt độ của cơ thể được điều hòa một cách tự động trong ngày. Và lúc đi du hành, có người đã khám phá jet lag (chênh lệch múi giờ), một sự khó ở biểu hiện không gì khác hơn là désynchronisation de l’horloge biologique với sự luân phiên ngày/đêm
(SCIENCES ET AVENIR 11/2017)

6/ LẠNH, KẺ GIẾT NGƯỜI THẦM LẶNG
Ta thường quá quên điều đó, cái lạnh làm gia tăng nguy cơ tử vong. Tuy vậy, những lời khuyên đơn giản “de bon sens” cũng đủ bảo vệ những người yếu ớt nhất.HIVER. Mùa hè 2003. Canicule xảy ra bất ngờ ở Pháp trong mùa nghỉ hè. Vague de chaleur này gây tử vong 15.000 người. Một chấn thương thật sự đối với nước Pháp. Mọi người đều nhớ điều đó. Nhưng hôm nay ai có thể nói bao nhiêu người chết vì lạnh mỗi năm ? Không nhiều người.
Tuy vậy, surmortalité hivernale là một sự kiện dịch tễ học mà không ai tranh cãi. ” Mỗi năm, chúng tôi ghi nhận một sự tăng cao trung bình 9% những trường hợp tử vong trong những tháng 12, tháng giêng, tháng hai và tháng ba “, Daniel Rousseau, của Conseil supérieur de la météologie đã nói rõ như vậy. Theo một công trình nghiên cứu đánh giá mortalité saisonnière trong 30 năm, mà ông đã thực hiện năm 2006, ảnh hưởng của lạnh mùa đông là tám lần giết người hơn là những đợt nóng bức (épisodes caniculaire).
Tại sao có sự khác nhau này ? Trước hết bởi vì lạnh thường xảy ra hơn và sau đó không cần phải lạnh quá mức mới giết người. ” Nhiệt, để nguy hiểm, phải trở thành nóng bức (caniculaire), trong khi surmortalité hivernale xuất hiện ngay khi ta xuống dưới 15 độ. Ngoài ra, cũng như nóng, không có rupture de la courbe de mortalité “, GS Jean-Louis San Marco, giáo sư y tế công cộng ở Marseille đã giải thích như vậy. Ông là tác giả của Canicule et froid hivernal : làm sao tự bảo vệ ?
Và grippe, thường bị buộc tội, nhưng không phải luôn luôn chịu trách nhiệm cuộc tàn sát này. Rằng, vài pic de surmortalité là do những đợt nhiễm trùng, đó là điều chắc chắn, GS San Marco đã viết như vậy. Thí dụ, pic de surmortalité de 2015 có thể là do một dịch cúm vì lẽ một vaccin ít hiệu quả hơn và một sự che chở của tiêm chủng (couverture vaccinale) đặc biệt thấp. Nhưng theo ông, ngoài một cái lạnh cực kỳ, không gì đã giải thích surmortalité của những mùa đông 2009 và 2012. Cho đến nay, vẫn luôn luôn không thể biết những lý do chính xác của những pic de surmortalité được quan sát.” Chỉ đến nay, khi chúng ta phân tích surmortalité trong những đợt lạnh, chúng ta không phân biệt surmortalité do lạnh với surmortalité do những trận dịch mùa đông, nhất là do những trận dịch cúm “, Karine Laaidi (Santé publique France) đã giải thích như vậy. Tuy nhiên những nước ngoài, khi thực hiện phân tích này, đã có thể chứng minh tác động nổi bật của lạnh lên tỷ lệ tử vong.
Những hạ thân nhiệt (hypothermie), có thể quy trực tiếp cho những nhiệt độ thấp, phần lớn xảy ra ở những người có cuộc sống rất bấp bênh, vô gia cư. ” Vùng nguy hiểm xuất hiện khi nhiệt kế xuống gần zéro trong nhiều ngày hay nhiều tuần. Có thể khó đề kháng hơn. Nhất là đó là những người thường bị suy dinh dưỡng và ngộ độc rượu “, BS Pascal Cassan, conseiller national ở Croix Rouge đã nhấn mạnh như vậy. Những người chết này, bi thảm và được mọi người nhìn thấy, chỉ chiếm 1% những trường hợp tử vong do lạnh. Trên thực tế lạnh giết một cách gián tiếp nhiều hơn, bằng cách làm gia trọng những bệnh lý đã có, như những bệnh động mạch vành, nhưng tai biến mạch máu não và những bệnh hô hấp.
Theo một báo cáo của Santé publique Pháp, tỷ lệ tử vong liên kết với những bệnh này gia tăng một cách gần như theo đường thẳng khi nhiệt độ càng giảm.Thí dụ, vào tháng giêng năm 1985, nước Pháp đã kinh qua một đợt lạnh chưa từng có, đã gây nên một surmortalité quan trọng (+13%), chủ yếu do nhồi máu cơ tim (+17%), những tai biến mạch máu não (+54%) và viêm phổi (+208%). Cũng như khi xảy ra canicule, những người già, những người yếu ớt là bị nhiều nhất.
Giáo sư San Marco chống lại sự kiện này. ” Hôm nay chúng ta đối diện surmortalité hivernale, mặc dầu đó là vì những lý do khác, trong tình huống như năm 2003 đứng trước tỷ lệ tử vong gây nên bởi một đợt nóng bức. Điều này càng gây bực mình khi hai surmortalité này phần lớn có thể tránh được “, ông đã nói như vậy. Theo ông những conseils de bon sens cho phép tranh nhiều trường hợp chết sớm trong thời kỳ mùa đông.
Thí dụ, một người bệnh hay rất già phải ra khỏi nhà vào mùa đông càng ít càng tốt và, khi buộc phải làm như vậy, hay nghĩ tự bảo vệ mình: veste hay manteau, nhưng cũng mũ, gant và écharpe bao quanh cổ và che miệng và mũi. ” Trong các nhà ở, tốt nhất là nhiệt độ có thể chấp nhận được, quanh 19 độ, nhưng đồng nhất “, giáo sư San Marco đã nói rõ như vậy. Thật vậy những à-coups thermiques lúc đi từ phòng này qua phòng khác cần cố gắng thích ứng tiêu thụ năng lượng, có thể làm suy kiệt những người yếu ớt nhất.
(LE FIGARO 30/10/2017)

7/ PHÒNG CÚM Ở NHỮNG NGƯỜI GIÀ NHẤT
Mỗi năm, trung bình 2,5 triệu người bị cúm mùa (grippe saisonnière). Những thời kỳ dịch này có thể biến thành những ác mộng đối với các khoa cấp cứu. ” Virus cúm không phải là tác nhân gây bệnh duy nhất. Cách nay hai năm, chúng tôi đã phải đối diện với grippe, đồng thời với một dịch bệnh của virus respiratoire syncytial (VRS). Hai bệnh lý này chịu trách nhiệm những biến chứng phổi tai họa ở những người già nhất “, bác sĩ Mathias Wargon, phụ trách khoa cấp cứu của bệnh viện Delafonataine ở Saint-Denis đã kể lại như vậy.
Khi những trận dịch này xuất hiện, những bệnh nhân già sẽ ở khoa cấp cứu lâu hơn. ” Vì họ cần nhiều xét nghiệm hơn và bởi vì họ chờ đợi lâu hơn để có một chỗ trong một khoa “, Mathias Wargon đã nhấn mạnh như vậy. Thế mà một thời gian lưu viện kéo dài ở cấp cứu gia tăng nguy cơ chết trong 3 ngày. ” Chính vì vậy chúng tôi phải suy nghĩ những circuit khác với những cấp cứu cho những người già với viêm phổi “, thầy thuốc cấp cứu đã đánh giá hư vậy.
TIÊM CHỦNG
Nhưng cách tốt nhất để bảo vệ những người già vẫn là tiêm chủng họ chống lại cúm. Thế mà, theo những con số được đưa ra bởi Bộ Y tế, chỉ 47% những người liên hệ được tiêm chủng năm 2016 (56% những người trên 70 tuổi).
Chiến dịch tiêm chủng 2017-2018 đã bắt đầu nhưng vẫn còn có nhiều thời gian để đi tiêm chủng. Và, trái với một định kiến, tốt hơn là làm điều đó trước khi xuất hiện trận dịch. Thật vậy, thuốc chủng hiệu quả 10 đến 15 ngày sau khi tiêm chủng, nhưng tỷ lệ các kháng thể tiếp tục gia tăng trong 2 hay 3 tháng. Để tăng cường biện pháp này, không luôn luôn hiệu quả 100% và tránh sự lan truyền của những mầm bệnh khác, mà chống lại chúng không có vaccin, giới hữu trách y tế đã nhắc lại một số những biện pháp vệ sinh nào đó : rửa tay đều đặn, ho trong tay áo hơn là trong bàn tay của mình, mang một mặt nạ hay tránh những tiếp xúc với các bệnh nhân.
Khi một nhiễm trùng hô hấp, giới hữu trách y tế còn khuyến tránh tất cả những nơi công cộng như rạp chiếu bóng, những phương tiện vận chuyển công cộng hay những trung tâm thương mại. ” Điều đó cũng đúng đối với những phòng đợi của các thầy thuốc. Nếu anh còn trẻ, điều tối thiểu nhất là tránh làm lan tràn dịch bệnh. Tốt nhất là tránh những consultations. Nếu cần thiết, tốt hơn là lấy hẹn “, bác sĩ Mathias Wargon đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 30/10/2017)

8/ CÚM MÙA : NÓI VỀ SỰ PHÒNG NGỪA
GS Bruno Lina, giám đốc của centre national de référence de Lyon contre la grippe, laboratoire de virologie, CHU de Lyon, bình luận trận dịch cúm đang xảy ra và những phương tiện để tránh nó.
Hỏi : Dịch tễ học hiện nay của bệnh cúm ở Pháp ?
GS Bruno Lina. Trung bình từ 2 đến 7 triệu người bị cúm mỗi mùa đông. Tỷ lệ tử vong (90% ở những người già) dao động giữa 3000 và 7000 tử vong mỗi năm. Những người dễ bị thương tổn nhất là những người trên 65 tuổi, những phụ nữ có thai và những người bị một bệnh mãn tính, phổi, tim, chuyển hóa (đái đường) hay làm suy yếu miễn dịch. Các trẻ em dễ bị nhiễm trùng bởi virus nhưng ít có nguy cơ bị một biến chứng nghiêm trọng, ngoại trừ các em bé dưới 1 tháng.
Hỏi : Điều gì phân biệt trên phương diện lâm sàng cúm với một chứng cảm thông thường ?
GS Bruno Lina. Sự phân biệt có thể khó, nhất là những triệu chứng thay đổi theo tuổi. Trong grippe, ở trẻ em hay ở người trưởng thành trẻ, sốt tăng cao (38,5 đoc C và hơn), ho dai dẳng và khó nhọc. Liên kết với chúng là một sự mệt mỏi lớn, đau đầu, đau cơ và khớp. Ngược lại không có chảy nước mũi như trong rhume. Ở người già, sốt vừa phải, thậm chí vắng mặt, nhưng mệt quan trọng, và bệnh nhân gần với prostration, với mất cảm giác ăn ngon và muốn uống.
Hỏi : Những virus cúm nguy hiểm nhất đối với người, và đường truyền của chúng ?
GS Bruno Lina. Những virus loại A, hiện diện ở những loài chim di trú hoang dã, có thể rất nguy hiểm. Những con chim này là ổ chứa tự nhiên của 144 loại A khác nhau. Những virus của chúng chỉ gây nhiễm người rất ngoại lệ, nhưng đôi khi chúng có năng lực phát khởi đại dịch thế giới giết người, như cúm Tây Ban Nha năm 1918 hay cúm Hongkong năm 1968. Grippe saisonnière là do những virus lưu hành ở người từ lâu, được truyền bằng đường hô hấp (postillons), những biến đổi apparence antigénique của chúng mỗi năm để giữ một pouvoir infectant. Tất cả những virus mùa có tiềm năng nguy hiểm đối với những người yếu ớt. Những virus A (H3N2) gây những trận dịch nghiêm trọng nhất ; virus loại B gây những trận dich ít nghiêm trọng hơn. Những virus A (H1N1) ở mức trung gian.
Hỏi : Tại sao những souche grippale saisonnière gần như luôn luôn phát sinh từ cha u Á ?
GS Bruno Lina. Châu Á là vùng đông dân nhất của quả địa cầu. Tình huống này làm dễ sự xuất hiện của những mutant và sự khuếch tàn nhanh chóng của chúng đến phần còn lại của thế giới.
Hỏi : Làm sao dự kiến những virus saisonnier sắp đến để bào chế các vaccin ? Vai trò của một laboratoire như của ông là gì ?
GS Bruno Lina : Cúm mùa là một vấn đề thế giới : nó dao động giữa hai bán cầu và lưu hành suốt nằm ở vùng liên nhiệt đới (zone intertropicale). Các virus cúm biến dị mỗi năm để sống sót sự miễn dịch của người, học nhận biết chúng và làm bất hoạt chúng. Lúc biến dị, chúng thoát sự bất hoạt này. Lúc xảy ra mỗi trận dịch, 150 centre de référence trên hành tinh (trong đó ở Pháp có hai : trung tâm của tôi ở Lyon và viện Pasteur ở Paris) theo mọi sự xuất hiện của những biến dị sau cùng, sẽ là virus của dịch cúm tiếp theo. Các trung tâm tập hợp những phân tích và chuyển những virus biến dị cho Tổ chức y tế thế giới. Tổ chức này chọn lọc những virus biến dị phải bảo vệ dân chúng chống lại chúng. OMS biến đổi chúng thành những virus tiêm chủng bất hoạt, có năng lực gây miễn dịch nhưng không có khả năng gây nhiễm. Các nhà sản xuất sau đó chế tạo quy mô lớn những liều vaccin chống lại 3 souche mới nhất đang lưu hành. Hiện nay, đó là hai A (H1N1 và H3N2) và một B.
Hỏi : Tính hiệu quả của những vaccin này là gì ?
GS Bruno Lina : Tính hiệu quả là 60 đến 70% trong trường hợp tốt nhất. Đôi khi, tính hiệu quả này giảm khi những virus biến dị bất ngờ xuất hiện. Tuy nhiên, khi những người được tiêm chủng bị cúm, cúm được giảm và ít nặng hơn. Từ 50 năm nay, tính dung nạp rất tốt của các vaccin (không có các chất bổ trợ) đã được chứng minh.
Hỏi : Thế những thuốc chống virus ?
GS Bruno Lina : Chúng không ngăn cản nhiễm trùng nhưng làm giảm những triệu chứng, và bổ sung một cách hữu ích sự tiêm chủng mà tôi rất khuyến nghị ở những người dễ bị thương tổn nhất.
(PARIS MATCH 30/11-6/12/2017)

9/ HÃY TIÊM CHỦNG CHỐNG CÚM
Hỏi : Tiêm chủng chống cúm mùa (grippe saisonnière), phải chăng đó là đảm bảo không bị nhiễm cúm ?
Anais Robert : Công trình nghiên cứu của chúng tôi không phải là khảo sát tính hiệu quả của vaccin, mà phân tích tỷ tệ tiêm chủng ở Bỉ. Chúng tôi ủng hộ khuyến nghị của Conseil supérieur de la santé. Hội đồng này khuyên tiêm chủng chống cúm cho những người trên 65 tuổi. Mục đích trước hết là giảm nguy cơ tử vong và những biến chứng nghiêm trọng. Tính hiệu quả của vaccin là thay đổi tùy theo năm, các souche, tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
Hỏi : Phải chăng có những loại vaccin chống cúm khác nhau ?
Anais Robert : Có những vaccin khác nhau, mà phí tổn khoảng 10 euros. Chúng được bồi hoàn một phần bởi bảo hiểm y tế, nhất là đối với những người trên 65 tuổi.
Hỏi : Bà phát hiện những khác nhau lớn giữa Flandre, là Wallonie và Bruxelles. Làm sao giải thích điều đó ? Vai trò khả dĩ của thầy thuốc gia đình ?
Anais Robert : Thật vậy, tỷ lệ tiêm chủng năm 2015-2016 là quan trọng ở Flandre (60,09%) hơn ở Wallonie (48,99%) và Bruxelles (45,7%). Ta cũng quan sát một tính ổn định lớn hơn của tỷ lệ tiêm chủng ở Flandre so với hai Vùng kia. Tôi không thể nói với anh tại sao có những khác nhau như thế. Tuy nhiên, phải biết rằng những chương trình tiêm chủng được tổ chức bởi các Communauté và rằng vài thực hành có thể khác nhau từ Vùng này đến Vùng khác. Thí dụ Communauté flamande tổ chức mua và phân phối vaccin chống cúm trong secteur résidentiel de soins đối với những người già, như các maison de repos. Ở Wallonie và ở Bruxelles, biện pháp này không hiện hữu. Chính vì vậy chúng tôi đã loại bỏ những résidents trong maison de repos trong công trình nghiên cứu có thể so sánh các Vùng. Trong khung cảnh này, chúng ta đã có thể phát hiện những chênh lệch quan trọng giữa các thầy thuốc : chỉ 10% trong số họ đạt tỷ lệ 75% được khuyến nghị bởi OMS. Đặc biệt hơn, những chênh lệch giữa các thầy thuốc ở Flandre ít quan trọng hơn ở Wallonie và nhất là ở Bruxelles.
KẾT LUẬN
Phân tích này chứng minh rằng những sáng kiến phải được xác lập để xúc tiến sự tiêm chủng ở những người có nguy cơ
(PARIS MATCH 30/11-6/12/2017)

10/ DÂY THẦN KINH PHẾ VỊ ĐÁNH THỨC HOẠT ĐỘNG NÃO
Sự kích thích dây thần kinh sọ này, dài nhất của cơ thể người, đã thay đổi trạng thái tri giác của một người bị chìm trong một trạng thái thực vật.NEUROLOGIE. Guillaume T., 35 tuổi, trong ” tình trạng thức tỉnh không đáp ứng ” (état d’éveil non répondant), thường được gọi là trạng thái thực vật (état végétatif), từ 15 năm nay, đã trải nghiệm một sự cải thiện của tình trạng tri giác sau khi các thầy thuốc đã kích thích dây thần kinh phế vị của mình. Dây thần kinh sợ này, dài nhất của cơ thể, phân bố thần kinh cũng như những cơ quan khác, tim, phổi, dạ dày,…Cuộc mổ, được thực hiện bởi các thầy thuốc ngoại thần kinh Pierre Bourdillon và Marc Guenot, thuộc Institut des sciences cognitives Marc-Jeannerod (CNRS) và Hospices civils de Lyon, gồm có implanter hai điện cực trên dây thần kinh phế vị ở cổ. Rồi một kích thích đều đặn đã được thực hiện trong một tháng, trước khi người bệnh nhân trẻ chịu một loạt những trắc nghiệm hành vi (tests compormentaux) và những thăm dò chụp hình ảnh. Kết quả : bệnh nhân đã có thể trả lời những mệnh lệnh (đưa mắt theo dõi một vật, xoay đầu), điều mà bệnh nhân không làm trước đây, và hoạt động não của bệnh nhân đã được cải thiện. Score trên échelle internationale de coma đã chuyển từ 5 (état de réveil répondant) lên 10 (état de réveil répondant). Than ôi ! bệnh nhân sau đó chết vì một nhiễm trùng không liên quan đến cuộc thí nghiêm này.
(SCIENCES ET AVENIR 11/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/12/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to Thời sự y học số 457 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 488 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 599 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  3. Pingback: Thời sự y học số 603 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s