Thời sự y học số 454 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ VIÊM GAN MỠ (STEATO-HÉPATITE) : THẦM LẶNG NHƯNG NGUY HIỂM

10 triệu người Pháp có một stéatose, liên kết trong 90% các trường hợp với một hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique), chứng béo phì hay những biến chứng của nó

Viêm gan mỡ (hépatite à la graisse), NASH (non alcoolic steatohepatitis) vẫn còn không được phòng ngừa đủ.HEPATOLOGIE. Từ lâu không ai biết đến, stéatose hépatique non alcoolique (NASH : non alcoholic steatohepatitis) được liên kết với dịch béo phì (obésité). Sự tăng gánh mỡ (surcharge graisseuse) bất thường này của gan, ảnh hưởng khoảng 25% dân số thế giờ (23% ở châu Âu) càng ngày càng làm lo ngại các chuyên gia. “Ở Pháp, vì không có những dữ kiện, ta ước tính hơn 10 triệu người có một stéatose hépatique, liên kết trong 90% các trường hợp với một hội chứng chuyển hóa (syndrome métabolique), với chứng béo phì hay những biến chứng của nó. Trong số những người bị stéatose này, 80% của 6 đến 7 triệu người béo phì và 90% của 3 đến 4 triệu bệnh nhân đái đường”, GS Lawrence Serfaty, hépatologue (CHU Saint-Antoine, Paris) đã chỉ như vậy.
Dưới tác dụng của một chế độ ăn uống mất cân bằng, quá nhiều calorie, nhiều mỡ, và với tình trạng nhàn rổi không hoạt động, có thể trở nên ít nhạy cảm hơn với tác dụng điều hòa của insuline. Những năng lượng dư thừa được tích trữ dưới dạng mỡ, mà sự tích tụ bụng quanh tạng (accumulation abdominale périviscérale) đặc biệt nguy hiểm đối với cân bằng chuyển hóa. “Gần như tất cả những người bị stéatose hépatique đều có một đề kháng với insuline. Khi sự đề kháng insuline tăng cao, mỡ bụng này đến làm tràn ngập gan với lipide được vận chuyển bởi tĩnh mạch gan. Sự tạo thành những lipide trong gan cũng gia tăng và sự đi ra khỏi gan của chúng bị giảm.”
Là yếu tố nguy cơ quan trọng của những tai biến tim mạch, đái đường và ung thư ngoài gan, stéatose này, trong 10 đến 20% những trường hợp, được liên kết với viêm và một thương tổn của những tế bào gan, những hépatocyte, có thể dẫn đến hoại tử. Khi đó, đó không còn là stéatose đơn thuần, nhưng là một stéato-hépatite non alcoolique, viêm gan mỡ (hépatite à la graisse) thật sự, hay NASH (non alcoolic steatohepatitis) liên kết viêm, hoại tử và một fibrose gan. Thế mà NASH, hoàn toàn im lặng, không triệu chứng, có thể tiến triển một cách nguy hiểm. Khi thương tổn gan trở nên mãn tính, những thương tổn của gan lành sẹo bằng cách tạo thành fibrose. “Fibrose này thành hình nhanh ít hay nhiều tùy theo người. Trong 20% các trường hợp, nó sẽ tiến triển thành xơ gan. Do đó, gan, hoàn toàn bị mất cấu trúc, không thể hoạt động một cách bình thường, và những biến chứng trầm trọng có thể xuất hiện : xuất huyết tiêu hóa, suy gan, viêm não gan,..Hậu quả khác, những xơ gan này gia tăng 2% mỗi năm nguy cơ ung thư gan”, GS Vlad Ratziu, hépatologue (CH Pitié-Salpetrière, Paris) đã giải thích như vậy.
Vậy những NASH này phải được theo dõi sát. Vấn đề, đó là hôm nay không thể tiên đoán ai, ở những người có một stéatose, sẽ phát triển thành một stéato-hépatite thậm chí một xơ gan. “Những người nguy cơ nhất là những người trên 50 tuổi, với những biến chứng chuyển hóa nghiêm trọng của insulino-résistance nặng dần với thời gian : tăng thể trọng, bệnh đái đường loại 2, dyslipidémies, cao huyết áp…”, thầy thuốc chuyên khoa gan đã nhấn mạnh như vậy.
Sự tăng cao mãn tinh của transaminase trong máu thể hiện một thương tổn gan và phải khiến nghi ngờ một stéatose, có thể được phát hiện bằng siêu âm nếu nó vượt quá 30%, mỡ làm cho gan “sáng” hơn lúc khám siêu âm.
Nhưng không có chất chỉ dấu đơn thuần của NASH : chẩn đoán của nó chỉ có thể được thực hiện bởi một sinh thiết gan bệnh. Bởi vì không có vấn đề sinh thiết 1/4 dân số, nên ta thử phát hiện những bệnh nhân có nguy cơ nhất bằng những chất chỉ dấu gián tiếp. Vậy chính fibrose hépatique, thành phần nguy hiểm nhất của NASH sẽ được theo dõi. Fibrose hépatique thường có thể được đánh giá bằng cách đo độ cứng của gan bằng Fibroscan (phát hiện mức độ fibrose), liên kết với những score de fibrose được tính từ những bilan máu đơn giản.“Những công cụ này hẳn cho phép phát hiện những bệnh nhân có nguy cơ nhất tiến triển thành fibrose nghiêm trọng và xơ gan. Nhưng căn bệnh thường bị phát hiện quá muộn, stéatose không được chú ý đến và theo dõi tồi.Tất cả những fibrose hépatique phải được xem bởi hépatologue. Đôi khi người ta gởi cho chúng tôi những bệnh nhân mà transaminases tăng cao từ nhiều năm. Thế mà có một ngưỡng nghiêm trọng vượt qua nó fibrose không còn có thể thoái triển nữa. Mot bilan mới 6 tháng cho phép phát hiện đúng lúc một hépatocarcinome và mổ nó. Nhưng khi xơ gan xấu đi, ghép gan, vẫn là phương pháp điều trị duy nhất, thường không thể thực hiện khi bệnh nhân quá già hay trong tình trạng sức khỏe quá kém”, GS Ratziu đã nhấn mạnh như vậy.
Chưa có thuốc chống lại NASH. Sự điều trị trước hết dựa trên sự điều chỉnh những yếu tố nguy cơ. “Làm mất trọng lượng 5 đến 10% đủ để làm thoái triển và làm giảm fibrose ở những bệnh nhân không quá bị thương tổn nặng, GS Serfaty đã giải thích như vậy. Điều chỉnh tốt bệnh đái đường, làm hạ cholestérol, triglycérides… vẫn là cần thiết, mặc dầu điều đó không có tác dụng trực tiếp lên gan.”
(LE FIGARO 13/11/2017)

2/ VIÊM GAN MỠ (STEATO-HÉPATITE) : MỘT BỆNH CÓ NHỮNG CƠ CHẾ CÒN CHƯA HIỂU RÕ
Chưa ai biết rõ lắm tại sao vài người có một stéatose thuần túy sẽ không tiến triển quá, trong khi ở những người khác stéatose này sẽ liên kết với viêm, fibrose, sẽ tỏ ra là một NASH khả dĩ tiến triển thành xơ gan và ung thư gan. “Đối với 80% những bệnh nhân mặc dầu chỉ có một stéatose thuần túy, nhưng căn bệnh thể hiện nhất là một đề kháng insuline quan trọng không được xem thường”, GS Lawrence Serfaty đã giải thích như vậy.
Không đồng nhất, phức tạp, NASH dường như do nhiều yếu tố, một phần di truyền nhưng chủ yếu môi trường, mà ở hàng đầu là một chế độ ăn uống quá nhiều calorie, quá nhiều mỡ, và tình trạng nhàn rổi không hoạt động (sédentarité). Nhưng cái gì làm cho mỡ trở nên độc ? Sinh bệnh lý của bệnh còn không được biết rõ. Đứng trước những năng lượng dư thừa, mô mỡ có thể lan rộng đến phần thấp của cơ thể, những đùi, mông, nhưng không gây một hậu quả nào, trong khi sự lan ra ở phần trên của cơ thể, cổ, bụng, được liên kết với những biến chứng chuyển hóa và gan.
“Sự bành trướng này có một ngưỡng bảo hòa khác nhau tùy theo người, vượt quá ngưỡng này mô mỡ trở nên bệnh. Những tế bào mỡ không phân chia nữa để tích lũy nhiều lipide hơn, nhưng lớn lên, và hoạt động chức năng của chúng trở nên bất thường.” Do đó sự thay đổi hình dạng của các hépatocyte, ballonisation, cùng với viêm và fibrose, là một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán của NASH trên một sinh thiết gan.
Ngưỡng này giải thích rằng vài người trở nên bị đái đường với chỉ một tăng thể trọng 10 kg, trong khi những người khác, ngay cả với một béo phì bệnh hoạn, chỉ có một đề kháng insuline bắt đầu và một lá gan gần như bình thường…”GS Rodolphe Anty (CHU Nice) đã chỉ như vậy.” Mô mỡ là một mô nội tiết, hoạt động một cách bình thường và hài hòa với não, các cơ, gan…với chúng nó liên lạc bằng những phân tử mà nó tiết ra, những adipokine, mà hơn một trăm phân tử đã được nhận diện. Khi sự cân bằng này bị rối loạn, vài adipokine sẽ làm dễ sự xuất hiện của một viêm vừa phải và một đề kháng với insuline.
(LE FIGARO 13/11/2017)

3/ VIÊM GAN MỠ : NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ GIA TỐC
Vì khả năng to lớn ảnh hưởng trong y tế cộng đồng, vậy cũng vì những lý do về tài chánh, stéatose hépatique và NASH (non alcoholic steatohepatitis) gây nên một sự nghiên cứu điều trị vô cùng tích cực, với 50 loại thuốc đang được đánh giá trong hơn 300 thử nghiệm ở Hoa Kỳ và 200 ở châu Âu. Hai loại thuốc, nhằm vào những thụ thể nhân (récepteurs nucléaires) đặc hiệu, đang ở trong giai đoạn tiến triển của thử nghiệm và sẽ xuất hiện trên thị trường từ nay đến 2-3 năm nữa.
Xét vì sự liên kết nhằng nhịt của nó với đề kháng insuline, đái đường, dyslipidémie và những yếu tố nguy cơ tim-chuyển hóa, tất cả những thành phần của bệnh lý này phải được điều trị và cân bằng. “Những bệnh nhân với NASH chết trước hết vì những bệnh tim mạch và ung thư ngoài gan, hơn là vì gan. Vậy phải tuyệt đối điều chỉnh bệnh đái đường, làm hạ cholestérol, giảm triglycérides…Nhưng những loại thuốc điều chỉnh những yếu tố nguy cơ này không có tác dụng trực tiếp lên gan, ngoại trừ có lẽ những statines.” GS Serfaty đã chỉ như vậy.
Trong số nhiều loại thuốc được trắc nghiệm, vài loại chống xơ hóa (antifibrosant), những loại khác có một tác dụng chống viêm hay chống stéatose. Trong số những hướng điều trị được thăm dò, vài hướng đi từ diabétologie. Ngoài những hướng điều trị này, cũng rất tiến triển, hướng của những agoniste của một récepteur nucléaire khác, FXR, hiện diện chủ yếu trong ống tiêu hóa, với một tác dụng nhạy cảm hóa insuline (effet insulino-sensibilisant). Những loại thuốc cũng được trắc nghiệm để nhằm vào những giai đoạn tạo thành fibrose, của viêm, phong bế sự tạo thành trong gan những lipide từ đường, hay ức chế vài enzyme có liên quan trọng apoptose, sự chết của những tế bào gan..
“PHÁT HIỆN NHỮNG BỆNH NHÂN CÓ NGUY CƠ NHẤT”
Đối với GS Anty, “chúng ta đang trong một thời kỳ thiếu niên của can bệnh này, mà chúng ta chưa biết rõ sinh bệnh lý lắm, với ít công cụ đánh giá và chưa có những biện pháp điều trị nào ngoài vệ sinh-ăn uống. Vậy chúng ta vẫn còn không có cách chống đỡ, như đối với viêm gan C cách nay 30 năm. Nhưng những nổ lực để chống lại NASH nhiều đến độ tình huống này sẽ nhanh chóng tiến triển.
“Đối với những bệnh nhân nặng nhất, phải có những loại thuốc nhằm đặc hiệu những rối loạn và viêm của gan, stéatose, fibrose hépatique, GS Ratziu đã nhấn mạnh như vậy. Những nghiên cứu cũng nhằm nhận diện những chỉ dấu đặc hiệu của những dạng nặng để phát hiện những bệnh nhân có nguy cơ nhất, theo dõi những đáp ứng của họ với điều trị mà không phải lập lại các sinh thiết…Đó là mục tiêu của một hợp tác quốc tế rộng rãi công và tư trong chương trình châu Âu IMI2 (Innovative Medicine Initiative 2) mà chúng tôi là những partenaire.”
(LE FIGARO 13/11/2017)

4/ HELICOBACTER PYLORI : NHỮNG CHỦ TRƯƠNG MỚI.
BS Jean-Marc Canard, gastro-entérologue, cựu chủ tịch của Hiệp hội nội soi tiêu hóa, Paris, bình luận những khuyến nghị mới nhất của Bộ y tế.
Hỏi : Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi Helicobacter Pylori được khám phá như thế nào ?
BS Jean-Marc Canard : Vi khuẩn này được phát hiện vào thế kỷ qua, nhưng người ta coi thường nó. Sự khám phá lại vi khuẩn này vào năm 1982 là do hai thầy thuốc người Úc, Robin Warren và Barry Marshall. Họ cho thấy rằng vi khuẩn chịu trách nhiệm phần lớn những loét dạ dày-tá tràng cũng như những phản ứng viêm nghiêm trọng của dạ dày (viêm dạ dày mãn tính), lót đường cho những ung thư dạ dày. Hai nhà nghiên cứu đã đánh đổ giáo điều được xác lập thời đó. Giáo điều này, sai, xác nhận rằng chỉ có stress và sự thặng dư acide chịu trách nhiệm những bệnh lý này. Năm 2005, giải Nobel y học đã được trao cho họ.
Hỏi : Đó có phải là một nhiễm trùng thường gặp ?
BS Jean-Marc Canard : Ở Pháp, từ 5 đến 10% những trẻ em và từ 20 đến 25% những người lớn bị nhiễm. Tỷ lệ cao hơn ở những di dân đến từ châu Phi và châu Á, ở đây tỷ lệ lên đến 80% ! Trong nước Pháp, trung bình 10% những người mang HP phát triển loét hay viêm dạ dày và 1% phát ung thư.
Hỏi : Tại sao Bộ y tế vừa công bố những khuyến nghị mới ?
BS Jean-Marc Canard : Bộ y tế lo lắng về nhiều phương cách thực hành xấu, nhất là về sự thiếu nghiên cứu một cách hệ thống Helicobacter Pylori (HP) trong những thủ thuật nội soi tiêu hóa, về sự phát hiện không đủ và/hoặc về một sự theo dõi quá lỏng lẻo ở những người có nguy cơ, về vài điều trị không được thích ứng đúng và về một sự thiếu theo dõi để đảm bảo sự chữa lành.
Hỏi : Những chiến lược tốt để xác định chẩn đoán là gì ?
BS Jean-Marc Canard :
1. Khi một người không có triệu chứng nhưng mong muốn, với mục đích phòng ngừa, kiểm tra tình trạng của dạ dày mình, ta bắt đầu bằng một trắc nghiệm huyết thanh để tìm kiếm những kháng thể chống Helicobacter Pylori trong huyết thanh, báo hiệu sự hiện diện của vi khuẩn. Nếu trắc nghiệm huyết thanh âm tính, sự kiểm tra nội soi dạ dày (soi dạ dày) là vô ích.
2. Khi phản ứng huyết thanh dương tính hay khi bệnh nhân có những triệu chứng (đau loét hay đau viêm dạ dày, tiêu hóa khó khăn, trào ngược dạ dày- thực quản) hay khi bệnh nhân thuộc diện có nguy cơ vì những tiền sử gia đình ung thư dạ dày, soi dạ dày, thực hiện ngoại trú và với an thần, là cần thiết và phải được kèm theo một cách hệ thống những mẫu nghiệm sinh thiết để tìm kiếm HP và những bất thường của thành dạ dày.
Hỏi : Thái độ điều trị được khuyến nghị và tính hiệu quả của nó ?
BS Jean-Marc Canard : Không còn phải bằng lòng nữa với việc cho một thuốc chống toan, được gọi là “inhibiteur de la pompe à protons” (IPP), liên kết với chỉ hai kháng sinh, amoxicilline và clarithromycine, một phương pháp cũ đã trở thành quá nhẹ vì một sự đề kháng của vi khuẩn với clarithromycine (22% những trường hợp). Từ nay phải điều trị bằng 4 loại thuốc (quadrithérapie), mà version tốt nhất liên kết trong 10 ngày, một IPP, amoxicilline và, trong cùng một viên thuốc, một hỗn hợp hai kháng sinh, tétracycline và métronidazole, cộng muối bismuth : coctail này đảm bảo chữa lành trong 93% các trường hợp ! Sự kiểm tra kết quả phải được thực hiện bằng một test respiratoire rapide, được gọi là “à l’urée marquée” (khi HP vẫn tồn tại, ta phát hiện khí carbonique phóng xạ trong khí thở ra). Trong trường hợp thất bại, một nội soi được lập lại để lấy mẫu nghiệm HP và khảo sát độ nhạy cảm của nó đối với các kháng sinh (kháng sinh đồ).
Hỏi : Về phòng ngừa ung thư, những khuyến nghị nào ?
BS Jean-Marc Canard : Ung thư dạ dày là nghiêm trọng bởi vì thường bị chẩn đoán quá muộn. Khi có một tiền sử gia đình, nên thực hiện một nội sôi kiểm tra mỗi 3 đến 5 năm ở những người bà con gần, anh, chị em và các người con của những người này. Một sự theo dõi tương tự phải được thực hiện ở những người đã lành một loét hay đã được điều trị vì một viêm dạ dày hay ở họ ta đã có thể lấy ra bằng nội soi một ung thư nông nhỏ của dạ dày hay một thương tổn tiền ung thư.
Hỏi : Và trên một bình diện tổng quát, làm sao để không bị nhiễm bởi HP ?
BS Jean-Marc Canard : Vệ sinh là chủ yếu : rửa tay đều đặn với xà phòng và không dùng chung couvert (nĩa, muỗng, đũa, tách, ly) với một thành viên của gia đình mang một bệnh dạ dày.
(PARIS MATCH 7-13/9/2017)

5/ NHỮNG HÀNH VI XẢO QUYỆT CUA HELICOBACTER PYLORI
Gastroentérologie. Hôm nay ta chấp nhận rằng vi khuẩn Helicobacter pylori là tác nhân gây bệnh của những bệnh lý của dạ dày : nó chịu trách nhiệm viên dạ dày mãn tính, loét dạ dày và tá tràng và đóng một vai trò quan trọng trong sự phát sinh những ung thư dạ dày (adénocarcinome và lymphome).Đó là một vi khuẩn rất đặc biệt và mưu mẹo. Sống sót và phát triển trong một môi trường acide như môi trường của dạ dày cần một sự tưởng tượng lớn. Các nhà nghiên cứu của viện Pasteur và của CNRS vừa khám phá một trong nhiều ngón xảo quyệt của nó, cho đến nay không được biết đến : nó làm các tế bào bị bệnh để biển thủ bộ máy của chúng để sinh sản, HP, và điều này từ bên ngoài những tê bào ; Helicobacter như thế “làm mê hoặc”các tế bào mà không giết chúng, chỉ làm cho chúng không có khả năng chu toàn chức năng của mình.
Vậy đó là một vũ khí mới lạ được sở hữu bởi vì khuẩn được trang bị nặng này. Nó nhằm vào mot thành phần thiết yếu của các tế bào, những ty lạp thể của chúng. Những ty lạp thể này là những trung tâm năng lượng thật sự cho toàn thể những tiêu hao của tế bào. Người ta nghĩ rằng đó là những vi khuẩn cũ (chúng còn có ADN của riêng chúng), được biên hóa và phục vụ cho những tế bào. Có lẽ chính vì điều đó mà vi khuẩn Helicobacter pylori biết được những điểm yếu của chúng nhưng có thể làm chúng mất đầu mà không giết chúng.
Đối với Miria Richetti, đồng tác giả của những công trình được công bố trong tạp chí Scientific Reports, nhà nghiên cứu của Viện Pasteur, “những biến đổi gây nên cho các ty lạp thể bởi vi khuẩn H.pylori là tạm thời và biến mất một khi nhiễm trùng bị loại trừ. Vậy mặc dầu một stresss đáng kể, các ty lạp thể, cũng như những tế bào, vẫn có thể hoạt động và chịu nhiễm trùng trong thời gian lâu hơn dự kiến. Bây giờ chúng ta phải tính đến tình huống này trong nghiên cứu những chiến lược để ức chế năng lực gây bệnh của vi khuẩn này.
Vi khuẩn này có mặt trong 50% những dạ dày của thế giới. Vì một lý đó mà ta không biết được, nó sẽ gây nên những bệnh lý dạ dày. H.pylori liên kết với hơn 80% những trường hợp ung thư dạ dày, gây 800.000 trường hợp tử vong mỗi năm trên thế giới. Đối với Eliette Touati, đồng tác giả và nhà nghiên cứu của Viện Pasteur, sự thông hiểu những tương tác mới này giữa vi khuẩn sinh bệnh và những tế bào ký chủ (qua các ty lạp thể) là thiết yếu để phát triển những chiến lược thích ứng chống lại nhiễm trùng bởi H.pylori. Mục đích vẫn là làm giảm sự tồn tại của vi khuẩn trong dạ dày và chận đứng những bệnh liên kết, nhất là những ung thư.
(LE FIGARO 27/11/2017)

6/ THOÁI HÓA ĐIỂM VÀNG : HƯỚNG CỦA LIỆU PHÁP TẾ BÀO
Một phương pháp điều trị mới với ghép những tế bào mang lại một hy vọng điều trị đối với thể được gọi là teo (forme atrophique) của bệnh mắt do tuổi già này.OPHTALMOLOGIE. Nguyên nhân đầu tiên gây phế tật thị giác ở những người trên 50 tuổi, bệnh thoái hóa điểm vàng do tuổi già (DMLA) là một bệnh của vùng trung tâm của võng mạc được gọi là hoàng điểm (macula).Bệnh bắt đầu bởi một giai đoạn thường không có triệu chứng lâm sàng, được gọi là bệnh hoàng điểm do tuổi già (maculopathie liée à l’âge) hay DMLA giai đoạn đầu, trong nhiều năm sẽ tiến triển thành DMLA trung gian, giai đoạn trong đó xuất hiện một giảm thị giác và những chất lắng (dépôts) có thể thấy được lúc khám đáy mắt. Vào giai đoạn tối hậu, DMLA avancée được đặc trưng hoặc là bởi một atrophie (teo) với mất những tế bào cảm thụ ánh sáng và những tế bào bên dưới được gọi là biểu mô sắc tố (DMLA atrophique), hoặc là bởi sự xuất hiện của một phù hoàng điểm (DMLA humide).
“Mặc dầu ta không thể tiên đoán ở giai đoạn sớm thể của DMLA tiến triển sẽ xuất hiện là thể nào, một nửa tiến triển thành thể teo (forme atrophique) và một nửa tiến về thể ướt (forme humide) “, giáo sư Michel Weber, thầy thuốc chuyên nhãn khoa của CHU de Nantes đã nói rõ như vậy.Không điều trị hai thể dẫn đến một sự xuống cấp không đảo ngược được của hoàng điểm và một sự mất thị giác trung ương.
Bao nhiêu người bị bệnh ? Tất cả các thể cộng lại, bệnh này xảy ra ở khoảng 1,5 triệu người Pháp. “Nhưng tần số của nó gia tăng với tuổi già. 1/4 những người 80 tuổi bị bệnh hoàng điểm do tuổi già (maculopathie lié à l’âge) và 10 đến 15% bị DMLA “, giáo sư Jean-François Korobelnik, thầy thuốc chuyên khoa mắt ở CHU de Bordeaux đã nói rõ như vậy.
Từ một chục năm nay, thể ướt (forme humide), tiến triển nhanh nhất, có một điều trị có hiệu quả. Điều trị này nhằm cho những mũi tiêm trực tiếp vào mắt (injections intra-vitréennes).Hôm nay, chính thể teo (forme atrophique), tiến triển chậm hơn nhưng không thể tránh được, là không có điều trị. Lampalizumab, thuốc duy nhất đạt đến giai đoạn cuối của thí nghiệm lâm sàng, không cho thấy giảm teo so với placebo. Một trong những thử nghiệm được thực hiện bởi hãng Roche đã bị ngừng lại vào tháng 9 năm 2016. Những loại thuốc khác, vẫn luôn luôn đang được phát triển để chống lại DMLA atrophique, nhưng ở những giai đoạn thử nghiệm lâm sàng sớm hơn.
Một cách song hành, các nhà nghiên cứu đặt cuộc vào liệu pháp tế bào (thérapie cellulaire), sử dụng những tế bào gốc phôi thai (cellules souches embryonnaires), có năng lực biệt hóa thành tất cả các loại tế bào của cơ thể. Hai thử nghiệm lâm sàng sơ bộ của loại liệu pháp mới này đã được trình bày nhân hội nghị của Viện hàn làm nhãn khoa Hoa Kỳ vào giữa tháng 11 năm nay ở La Nouvelle-Orléans. Họ cho thấy một hướng điều trị đầy hứa hẹn.
Hai thử nghiệm này liên quan đến ghép những tế bào biểu mô sắc tố của võng mạc, những tế bào này có một vai trò quan trọng trong sự hoạt động tốt của của những tế bào cảm thụ ánh sáng. Các nhà nghiên cứu đi từ giả thuyết rằng DMLA atrophique tương ứng với sự biến mất dần dần của những tế bào của biểu mô sắc tố võng mạc (EPR : épithélium pigmentaire rétinien), rồi sự biến mất của những tế bào cảm thụ ánh sáng ở hoàng điểm (macula). Khi phục hồi một biểu mô sắc tố võng mạc, họ hy vọng có thể cứu được những tế bào cảm thụ ánh sáng.
“Đó là một chiến lược, nếu chứng minh được tính hiệu quả, có thể rất hữu ích một giai đoạn sớm của bệnh, trước khi những tế bào cảm thụ ánh sáng bị thương tổn”, giáo sư Michel Weber đã phân tích như vậy. Nhưng con đường phải vượt qua trước khi đến đó vẫn còn nhiều chông gai bởi vì, vào giai đoạn này, không có gì chứng tỏ rằng một biểu mô sắc tố tái sinh sẽ làm ngừng tiến triển của bệnh.
Trong khi chờ đợi sự đi đến của những giải pháp điều trị thật sự hiệu quả, vũ khí duy nhất hiện có để chống lại DMLA thể teo là phòng ngừa. Biện pháp đầu tiên được chủ trương bởi các chuyên gia về mắt : ngừng thuốc lá. Nguy cơ DMLA thật vậy được nhân lên 2,5 lần ở những người hút hơn 20 điếu mỗi ngày. Sự quá mức nguy cơ này tồn tại đến 20 năm sau khi ngừng hút thuốc.
Ở giai đoạn sớm của bệnh DMLA, sự sử dụng những complément sẽ ngăn ngừa sự trầm trọng của bệnh. “Ở giai đoạn maculopathie do tuổi già (maculopathie liée à l’âge), những complément alimentaire chứa những vitamine và lutéine làm giảm 25% sự tiến triển thành một dạng tiến triển”, giáo sư Jean-François Korobelnik đã giải thích như vậy. Chỉ có điều, mac dau những nutriment này đã chứng minh một tính hiệu quả, nhưng đó không phải là thuốc và do đó chúng không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. “Sử dụng những complément này phí tổn khoảng 20 euro mỗi tháng, cho một lợi ích không thấy được tức thời vì lẽ ta giảm nguy cơ sẽ đến…Kết quả : nhiều bệnh nhân bỏ chúng”, giáo sư Jean-François Korobelnik đã chứng thực như vậy.
(LE FIGARO 20/11/2017)

7/ IMPLANT BIOLOGIQUE TRONG Y KHOA RĂNG MIỆNG CÓ PHẢI LÀ CON ĐƯỜNG TƯƠNG LAI ?Hôm nay, những răng thiếu được thay thế bằng những răng giả (prothèse dentaire) có thể tháo ra lắp vào được (amovible) hay cố định (fixe), hay bằng những implant. Sinh ra đời cách nay khoảng 30 năm, implant dentaire là một cuộc cách mạng, một chân răng nhân tạo (racine artificielle), một loại vis, được đưa vào trong xương ổ răng (os alvéolaire) để thay thế răng bị thiếu. Rễ nhân tạo, thường bằng titane hay zircone, được dùng làm giá nâng đỡ cho thân răng (couronne prothétique). Như thế răng thiếu được thay thế bởi một yếu tố hoàn toàn nhân tạo, một chân răng giả được đưa vào trong xương và một prothèse trong xoang miệng. Toàn bộ hoàn toàn biocompatible, bền như một răng tự nhiên chống lại những lực nhai, có tuổi thọ tốt. Tư liệu y học báo cáo những tỷ lệ thành công trên 95% sau 10 năm.
Mặc dầu tỷ lệ thành công này có sức thuyết phục, tuy vậy ta không thể phủ nhận rằng implant dentaire không hoàn toàn tái tạo sinh lý của một chiếc răng và một trường của nó.
Thật vậy, với implant dentaire, không có tủy răng, cơ quan sinh tư của răng. Môi trường của răng không được tái tạo toàn bộ. Đặc biệt trên bề mặt của chân răng thiếu ligament parodontal, dãi mô liên kết nhỏ nằm giữa răng và xương. Ligament parodontal, không được khoáng hóa, dày khoảng 1/4 mm, rất được phân bố mạch, rất được phân bố thần kinh, mang lại cho răng một cử động sinh lý đối với xương và đóng vai trò cái giảm chấn thủy lực (amortisseur hydraulique).
Trái lại những yếu tố thiếu này hiện hữu trong những implant biologique. Những impalnt này sinh ra từ những tiến bộ khổng lồ của những năm qua về những tế bào gốc. Những tế bào gốc xuất hiện như một nguồn thanh xuân (une source de jouvence) từ khi những công trình tiền phong phát xuất từ những phòng thí nghiệm của Gil Martin ở Hoa Kỳ và của Martin Evans ở Anh, được công bố năm 1981. Họ cho thấy rằng những tế bào của phôi thai, lúc cấy, bảo tồn những năng lực biệt hóa của chúng đồng thời tăng sinh một cách dồi dào. Về sau, họ đã chứng minh rằng, ở người trưởng thành, có những ngăn các tế bào “có tính chất souche” (compartiments de cellules à propriété souches) và những tê bào này là một nguồn vô tận những tế bào có thể sử dụng trong y khoa tái sinh (médecine régénérative), kể cả trong y khoa răng-miệng (médecine bucco-dentaire). Việc chứng minh về sự hiện hữu của những ngăn tế bào gốc (compartiement de cellules souches) ở người trưởng thành không đủ để tiến lên trong ingénierie dentaire, mà cần phải có nhiều dữ kiện về sự phát triển của răng.
Các răng là những cơ quan rất đặc biệt : các mầm răng bắt đầu phát triển ngay tuần lễ thứ năm của đời sống phôi thai đối với những răng sữa cửa (incisives lactéales) và chấm dứt ở tuổi 20 với răng cấm (dent de sagesse). Và, như một số lớn các cơ quan, những mầm răng này phát triển từ một cuộc đối thoại giữa một biểu mô và một trung mô (mésenchyme). Sự sinh hình thái răng (morphogenèse dentaire) và sự biệt hoá được điều hòa bởi những tương tác qua lại giữa những tế bào của épithélium stomodéal (miệng nguyên thủy ở phôi thai) và những tế bào ecto-mésenchymateuses, phát xuất từ những tế bào của các crête neurale. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng có thể sinh một chiếc răng từ những thí nghiệm liên kết/tái liên kết những tế bào năng lực, nghĩa là những tế bào được conditionné trước để là một yếu tố của răng. Chính như thế mà ta có thể làm mọc những chiếc răng ở con gà mái hay, từ các mầm của các răng cấm, có thể thay thế răng thiếu ở một người. Điều đó có nghĩa rằng chúng ta chỉ ghép răng. Làm sao đi xa hơn ? Phải tìm kiếm những cellules “à propriété” souches trong các ngăn ở người trưởng thành, một thuộc loại ecto-mésenchyateux, một thuộc loại biểu mô
NHỮNG TẾ BÀO PHÂN CỰC (CELLULES POLARISÉES)
Những công trình nghiên cứu cho thấy rằng loại ecto-mésenchymateux, những odontoblaste, những tế bào phân cực (cellules polarisées) sinh ngà răng (dentine : ivoire) có thể được tìm thấy trong tủy răng. Chính những tế bào này góp phần một cách sinh lý vào sự sữa chữa ngà răng. Chúng có một số lượng đáng kể trong răng trẻ, nhưng chúng giảm với tuổi của chiếc răng. Để có được ngà răng, những tế bào “có tính chất tế bào gốc” ( celleules à propriétés souches) cũng có thể được tìm thấy ở ngoài răng như trong tủy xương : đó là những tế bào có khả năng đi vào trong những chương trình biệt hóa (các neurone, myoblaste, chondroblaste, ostéoblaste). Chúng cũng có thể phát xuất từ những tế bào gốc đa năng (cellules souches pluripotentes). Con đường này có vẻ đầy hứa hẹn nhất, nhất là nếu các tế bào được biệt hóa/cấy trong một matrice de collagène.
Đối với loại biểu mô, loại cho ra men răng (émail), vào luc này không có những compartiment adulte của răng được biết, khả dĩ cho dồi dào những tế bào sản xuất men răng (améloblaste). Thật vậy men răng, mô được khoáng hóa nhất của cơ thể (khoảng 95% matrice minérale) được sản xuất trong sự tạo thành răng, và những tế bào tạo thành nó biến mất ngay khi răng xuất hiện lâm sàng trong xoang miệng. Men răng người lớn có một cấu trúc không tế bào, không mạch máu, không phân bố thần kinh : nó không tự sửa chữa. Chỉ ở người trưởng thành còn tồn tại vài đảo nhỏ những tế bào sản xuất men răng (améloblaste) rải rác trong ligament parodontal. Trong những đảo này có vài tế bào có tiềm năng sản xuất men răng (potentiel amélaire), quá ít để có thể sử dụng trong ingénierie tissulaire. Tuy nhiên, vào năm 2010, Wang và các cộng sự viên đã thành công biến hóa những tế bào của biểu mô thành những tế bào sản xuất men răng khả dĩ tiết men răng dưới tác dụng của những yếu tố tăng trưởng. Những công trình này là một phần của những con đường tương lai nhằm tạo một răng sinh học (biodent).
Như thế, một biodent, hay implant biologique dentaire, ngày mai sẽ có được bằng cách cộng những tế bào gốc đa năng (cellules souches pluripotentes) và những tế bào biểu bì biệt hóa
Sẽ còn phải vượt qua những vấn đề về hình dạng (làm sao làm một răng cửa ở chỗ của một răng cửa, một răng cấm ở chỗ của một răng cấm), về kích thước và về màu sắc của răng. Nhưng cần phải nắm vững những vấn đề về tính sinh miễn dịch (immunogénicité) và những vấn đề về tính kín (étanchéité) giữa răng và xương (chúng ta đừng quên xoang miệng rất septique (1 mg plaque dentaire chứa nghìn triệu vi khuẩn), nguồn của đau răng và mất răng.Vì thế rất hữu ích sử dụng bàn chãi răng đề phòng ngừa trước khi tái sinh.
(LE FIGARO 9/1/2012)

8/ THẮNG TÌNH TRẠNG MẤT DINH DƯỠNG, MỘT CĂN BỆNH BỊ ĐÁNH GIÁ THẤP
Không những sự mất dinh dưỡng (dénutrition) làm trầm trọng tiên lượng của các bệnh nhân, mà nó cũng chịu trách nhiệm một số bệnh lý nào đó.ALIMENTATION. Sự mất dinh dưỡng không phải là một tai ương chỉ có ở những nước nghèo. Căn bệnh vô hình này cũng xảy ra ở những nước giàu. Ở Pháp, đó là 2 triệu người bị mất dinh dưỡng. Ở bệnh viện, với 4 bệnh nhân trên mười bị mất dinh dưỡng, tình hình đặc biệt đáng lo ngại bởi vì sự mất dinh dưỡng gia trọng tiên lượng. Thật vậy, sự mất dinh dưỡng sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của những nhiễm trùng và những biến chứng hậu phẫu, làm chậm sự chữa lành và gia tăng nguy cơ tử vong.
“Những công trình nghiên cứu ngay cả đã cho thấy rằng nó làm giảm 1/2 hy vọng sống ở những bệnh nhân ung thư”, giáo sư Eric Fontaine, một trong những người khởi xướng tuyên ngôn chống lại tình trạng mất dinh dưỡng (manifeste de lutte contre la dénutrition), được phát động bởi hơn 60 hiệp hội những người hành nghề y tế, những bệnh nhân và những aidant để chất vấn chính quyền về chủ đề này, đã nhấn mạnh như vậy. Tuy vậy, mất dinh dưỡng không phải là một định mệnh Và ông đề nghị ngăn chặn căn bệnh với những biện pháp rất cụ thể.
Tập thể gợi ý rằng tất cả các bệnh nhân nhập viện phải được cân lúc vào và lúc xuất viện. Một biện pháp đơn giản, tuy vậy không được thực hiện một cách hệ thống. Đề nghị khác : 1/3 tiền khoán bệnh viện (forfait hospitalier) được dành để mua thực phẩm. Hoặc 6 euro mỗi 3 bữa ăn. “Hiện nay số tiền ở dưới múc này, đó là 3,73 euros mỗi ngày trong cơ sở của tôi”, Eric Fontaine đã giải thích như vậy. Khó có một bữa ăn ngon với một ngân sách như vậy.
Tập thể cũng đòi hỏi những moyens humains. Hiện nay, nhân viên điều dưỡng (personnel soignant) không có hơn 5 phút dành cho mỗi bệnh nhân. “Không thể nuôi ăn những người không ăn với ít thời gian như thế”, giáo sư Fontaine nhấn mạnh như vậy. Nhưng nhất là tập thể bênh vực cho một phát hiện trước khi xuất hiện một nhập viện. Thật vậy, hơn 400.000 người già sống ở nhà và gần 300.000 người sống trong các nhà dưỡng lão bị mất dinh dưỡng. Thế mà, như giáo sư Monique Ferry, nutritionniste, đã nhắc lại điều đó trong bảng tuyên ngôn, “gần 40% những người già bị nhập viện vì một hậu quả của mất dinh dưỡng, thường nhất là nhiễm trùng đường tiểu, nhiễm trùng máu hay té ngã”.
Dầu tuổi là bao nhiêu, ăn khỏe là phương tiện tốt nhất để phòng ngừa. Bởi vì, trái với những định kiến, một người nặng hơn 70 kg phải ăn lượng calorie bằng với một người trưởng thành trong tuổi tráng niên. Ngoài ra, để bảo tồn một khối lượng cơ, có khuynh hướng tan, nhu cầu protéine quan trọng hơn “Cũng cần tiếp tục một hoạt động vật lý và bổ sung vitamine D, giáo sư Agathe Raynaud-Simon, giáo sư gérontologie ở đại học Paris-Diderot, đã xác nhận như vậy. Những khuyến nghị đôi khi vấp phải những biến đổi sinh lý liên kết với tuổi già.” Khoảng 80 tuổi, khẩu phần calories hàng ngày đã giảm khoảng 20% , bác sĩ Virginie Van Wymelbeke, thầy thuốc chuyên khoa dinh dưỡng ở Dijon đã giải thích như vậy.
Làm sao đảm bảo nhu cầu calorie hàng ngày của mình khi ta mau no ? Làm sao thèm ăn khi ta đã đánh mất khứu giác và vị giác ? Chừng ấy câu hỏi đôi khi cần một diététicienne. Thêm fromage hay crème vào soupe buổi chiều, nấu những món ăn chất lượng cao, làm những collation, tăng thêm vị bằng các gia vị, bấy nhiêu ngón khéo giúp duy trì một cung cấp dinh dưỡng chất lượng. Với một điều kiện quan trọng : không thay đổi đột ngột những thói quen ăn uống. “Thường các trợ tá (aidant) áp đặt chế độ ăn uống của họ. Điều đó phản tác dụng. Chính chúng ta thích ứng với vị giác của những người mà chúng ta giúp đỡ”, Claudie Kulak, chủ tịch của compagnie des aidants đã nói như vậy.
Mục tiêu là duy trì một trong lượng hằng định bởi vì như Agathe Raynaud-Simon đã nhắc lại điều đó, “trái với các định kiến, ta không gầy đi từ một lứa tuổi nào đó. Trái lại sự mất cân mà một dấu hiệu báo động”. Chính vì vậy các chuyên gia khuyến nghị cân một lần mỗi tháng và báo mọi sự thay đổi cho thầy thuốc điều trị. “Những thầy thuốc điều trị cũng cân một cách hệ thống những bệnh nhân của họ, cũng như đo huyết áp vậy”, giáo sư Eric Fontaine đã nhấn mạnh như vậy.
Thật vậy đó là dập tắt càng nhanh càng tốt một spirale infernale sẽ dẫn đến mất dinh dưỡng và những biến chứng của nó. “Tuy nhiên, đừng quên rằng sự dinh dưỡng vẫn phải là một moment de plaisir”, Virginie Van Wymelbeke đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 21/11/2016)

9/ 3 ĐỊNH KIẾN VỀ UNG THƯ VÚ
Các chuyên gia Pháp họp ở Lille để đánh bật những huyền thoại và sự thật về bệnh ung thư vú.
ONCOLOGIE. Cũng như mọi năm, hội nghị của Hiệp hội Pháp về sénologie và những bệnh lý vú tập hợp những chuyên gia giỏi nhất của Pháp về ung thư vú.
1. VÀI THỨC ĂN LÀM GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ VÚ.
Có lẽ bạn nghĩ có thể tránh một ung thư vú bằng cách ăn một cách đều đặn cải bắp (chou), nghệ (curcuma) hay những hạt lanh (graine de lin). Không có gì ít chắc hơn. Trên thực tế, sinh học của những tế bào bình thường hay trở thành ung thư (carcinogenèse) là phức tạp hơn nhiều để có thể quy vào một thức ăn nhiệm màu. “Khi ta nói đến lối sống và chế độ ăn uống, ta ở trong một modèle de carcinogenèse, rất khác với điều mà ta biết, thí dụ, trong ung thư phế quản, trong đó ta có một gène ung thư (carcinogène) rõ ràng là thuốc lá”, GS Laurent Zelek, oncologue médical của CHU Avicenne (Bobigny) đã giải thích như vậy.
Sự tăng sinh những tác phẩm đại chúng và những bài bao ca ngợi một sản phẩm nào đó lại khiến ta nghĩ điều trái lại. “Tuyệt đối ảo tưởng khi tưởng tượng rằng ta sẽ dựng lại những cơ chế phức tạp như thế về một căn bệnh không đồng nhất như thế (nhiều nguyên nhân) với một thức ăn nhiệm màu”, thầy thuốc oncologue cảnh báo như vậy. Điều này đã được nhắc lại bởi Viện ung thư (Inca) vào tháng sáu năm 2015 trong một cuốn sách mỏng có nhan đề Nutrition et cancers. Alimentation, consommation d’alcool, activité physique et poids : “Sự phòng ngừa của ung thư không thể được tóm tắt vào một thuốc nhiệm màu. Đó là cân bằng một cách toàn bộ sự tiêu thụ đồng thời ưu tiên những gì bảo vệ và giảm những gì có thể góp phần vào sự xuất hiện của một ung thư.” Đối với Inca, điều này có nghĩa rằng phải đồng thời hạn chế sự tiêu thụ rượu, không tiêu thụ hơn 500 g thịt đỏ mỗi tuần, dè chừng muối của đồ thịt lợn (charcuteries), những món ăn làm sẵn hay những produits d’apéritif, và ăn 5 phần trái cây và rau xanh mỗi ngày, ưu tiên những thức ăn nhiều sợi, đồng thời tieu thụ 3 phần sản phẩm sữa.
“Người ta đã nói nhiều về sữa, khi cho rằng điều đó rất xấu, rằng phải tránh sữa bò, GS Zelek đã nhắc lại như vậy. Trái với điều mà ta đã tưởng tượng, những sản phẩm sữa có một tác dụng bảo vệ nhỏ trong thời kỳ tiền mãn kinh.” Đó là điều mà năm nay chương trình “Continuous Update Project” của Quỹ nghiên cứu thế giới về ung thư về những yếu tố nguy cơ của tất cả các ung thư đã nhấn mạnh như vậy.
2. NẾU CÔNG TÁC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN BẰNG CHỤP TUYỂN VÚ CÓ HIỆU QUẢ, TA SẼ THẤY ÍT HƠN NHỮNG TRƯỜNG HỢP NHỮNG UNG THƯ TIẾN TRIỂN LÚC CHẨN ĐOÁN.” Mục tiêu của việc điều tra phát hiện của tất cả những ung thư, trước hết và nhất là đó là phòng ngừa những ung thư ở giai đoạn tiến triển, vậy phát hiện chúng ở một giai đoạn có thể chữa lành”, BS Philippe Aurier, thầy thuốc chuyên về dịch tễ học ở International Prevention Research Institute (Lyon) đã nhắc lại như vậy.” Đó là dieu mà ta đã thật sự quan sát với sự phát hiện của ung thư cổ tử cung và ung thư đại trực tràng…nhưng ta đã không thấy gì như vậy với ung thư vú”,ông đã xác nhận như vậy.
Những lời nói được uyển chuyển bởi BS Florence Molinié, CHU de Nantes : ” Ta không thể nói rằng tất cả những dữ kiện đều đi theo cũng chiều hướng. Dẫu sao cũng có những công trình nghiên cứu cho thấy một sự giảm tỷ lệ của những ung thư vú tiến triển.”
“Điều mà BS Autier đề nghị, đó là trở lại tự phát hiện (autodépistage), điều này có nghĩa chờ đợi để ung thư đã phát triển đủ để trở nên có thể ấn chẩn được, vậy với ít cơ may chữa lành hơn và những điều trị nặng nề hơn”, BS Luc Ceugnart, radiologue ở Centre Oscar Lambret de Lille đã lấy làm giận dữ. Cùng ý kiến của BS Bruno Cutili, cancérologue radiothérapeute (Reims) : “Ta luôn luôn nói về surdiagnostic với mammographie, nhưng không bao giờ nói sous-diagnostic và sous-traitement. Thế mà, nếu có 5 đến 6% những dạng di căn tức thời lúc chẩn đoán, bất hạnh thay thì cũng có những phụ nữ đã chờ đợi hay coi thường những triệu chứng của họ. Chúng ta đừng quên điều đó !”
3. MÔI TRƯỜNG (THUỐC TRỪ SÂU, RADIOACTIVITE, LÀM VIỆC BAN ĐÊM…) ĐÓNG MỘT VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG SỰ XUẤT HIỆN NHỮNG UNG THƯ.
“Tỷ lệ ung thư vú đã tăng gần gấp đôi giữa 1980 và 2005, BS Karine Hannebicque, thầy thuốc chuyên khoa phu sản ở Centre Oscar Lambert de Lille đã nhận xét như vậy, và sự gia tăng này không thể chỉ được giải thích bởi sự phổ biến của công tác điều tra phát hiện, sự lão hóa của dân số, những yếu tố nguy cơ được biết của ung thư vú hay bởi những biến đổi của lối sống”, BS Hannebicque đã giải thích như vậy. Và kết luận : “Tác động của môi trường lên sự xuất hiện của ung thư không còn nghi ngờ gì nữa.” Tất cả vấn đề là biết ở những mức độ nào.
(LE FIGARO 14/11/2017)

10/ HẠN CHẾ THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ BẮNG HORMONE SAU MỘT UNG THƯ VÚ ?
Đối với vài phụ nữ, một hormonothérapie với tamoxifène hay với inhibiteur de l’aromatase đôi khi được kê đơn sau điều trị ban đầu (ngoại khoa, hóa trị, xạ trị), để làm giảm nguy cơ tái phát của ung thư. Điều này trong 5 năm nếu người phụ nữ chịu được điều trị. “Từ khoảng 4 năm nay, ta tự đặt câu hỏi, nhất là ở những phụ nữ với ban đầu di căn hạch (những tế bào ung thư được phát hiện trong các hạch nằm dưới cánh tay) có phải kéo dài điều trị sau 5 năm không”, BS Séverine Gulu, oncologue ở Viện ung thư Montpellier-Val d’Aurelle đã giải thích như vậy. Bao nhiêu phụ nữ có liên quan ? “Trên 50.000 phụ nữ có một ung thư vú mỗi năm, khoảng 40.000 sẽ có một ung thư nhạy cảm hormone, và trong số họ, 20 đến 30% sẽ có một di căn hạch. Chính những phụ nữ này có thể nhận hormonothérapie “.” Những lợi ich là khiêm tốn trong phần lớn các công trình nghiên cứu, sự kéo dài hormonothérapie chủ yếu làm giảm nguy cơ ung thư trong vú kia “. “Ta đánh giá tùy theo từng trường hợp “, BS Gulu đã giải thích như vậy. Nhất là những điều trị không phải là không có những tác dụng phụ. “Với tamoxifène, nhất là có nguy cơ phát triển một ung thư của nội mạc tử cung và đối với những inhibiteurs de l’aromase, một nguy cơ loãng xương và gãy do chứng loãng xương này”.
(LE FIGARO 14/11/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/11/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 454 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 498 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s