Thời sự y học số 453 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ HỘI CHỨNG GUILLAIN-BARRÉ HAY LUỒNG THẦN KINH BỊ HỎNG.
Sự sai lệch này của hệ miễn dịch, mặc dầu tạm thời, có thể để lại những di chứng.NEUROLOGIE. ” Đó là một nhiễm trùng hô hấp hay tiêu hóa tầm thường, trong 3 trường hợp trên 4, phát khởi hội chứng Guillain-Barré, GS Sharam Attarlan, trưởng khoa thần kinh của bệnh viện La Timone, Marseille, đã nhắc lại như vậy. Ngoài ra, nói chung, nhiễm trùng này đã bị quên đi khi những triệu chứng xuất hiện. ” Thật vậy hội chứng Guillain-Barré là một ” sự lệch lạc” của hệ miễn dịch, sau khi đã chống lại một cách hiệu quả một nhiễm trùng, dường như lẫn lộn những tế bào thần kinh của chính bệnh nhân với tác nhân nhiễm trùng mà bệnh nhân vừa loại bỏ. Luồng thân kinh mất sức mạnh, trước hết trong các chi nhưng đôi khi đến tận ngực trong những trường hợp nghiêm trọng nhất.
Căn bệnh hiếm này, xảy ra ở một người trên 100.000, chủ yếu ở những người trưởng thành, nam giới trong hai trường hợp trên ba, không để lại một dấu vết nào ở phần lớn các bệnh nhân nhưng, đối với 15 đến 20% trong số họ, còn lại những di chứng invalidant ít hay nhiều. Tỷ lệ tử vong là 1 đến 5% tùy theo nước (2% ở Pháp).
Đối với phần lớn các bệnh nhân, những dấu hiệu đầu tiên là những cảm giác kiến bò và châm chích trong các bàn chân, khiến họ đi khám bác sĩ khi những dấu hiệu này tạo thành một “chaussette” (chiếc tất ngắn). Nhanh chóng chúng kèm theo một cảm giác yếu cơ dần dần đi lên dọc theo các chi. ” Sự bại liệt đến đột ngột này gây kinh hoàn cho những bệnh nhân vả lại có sức khoẻ tốt “, GS Attarian đã nhấn mạnh như vậy. Nếu chẩn đoán được gợi lên, khiến phải đi đến khoa cấp cứu thần kinh, các bệnh nhân đôi khi chịu những thăm dò vô ích làm chậm nhiều chẩn đoán. Những cảm giác kiến bò trong các bàn chân phải gợi lên một nguyên nhân thần kinh và không cần thăm dò huyết quản, nhất là nếu cảm giác hướng thượng và được kèm theo một cách nhanh chóng những khó khăn vận động.
Chính trong giai đoạn hướng thượng (phase ascendante) này của bệnh mà chẩn đoán phải được thực hiện càng nhanh càng tốt bởi vì những điều trị hiện có chỉ hiệu quả khi chúng được thực hiện trong giai đoạn đầu này. Ngay khi đến bệnh viện, bệnh nhân sẽ phải chịu một điện cơ đồ để xác nhận rằng tốc độ truyền của luồng thần kinh bị ảnh hưởng. Chọc dò tủy sống cũng cần thiết để nhận diện sự gia tăng đáng kể của các protéine trong dịch não tủy, đôi khi ít quan trọng trong những giờ đầu của bệnh. Những dấu hiệu lâm sàng, nhất là nếu một nhiễm trùng mới đây đã có thể được gợi lên, có thể đủ để xác nhận chẩn đoán và điều trị khi đó sẽ được thiết đặt mặc dầu chọc dò tủy sống và/hay điện cơ đồ cho một kết quả âm tính.Các bệnh nhân phải được theo dõi rất sát, suốt trong giai đoạn hướng thượng của bệnh và ngay cả khi một điều trị đã được thực hiện. Phải chờ dấu hiệu nhỏ nhất của một thương tổn ngực, thường được phát hiện bởi những rối loạn nuốt để xét lại năng lực thở của bệnh nhân. Điều này xảy ra trong 30% các trường hợp. ” Trong nhiều khoa bệnh viện, chỉ một y tá chịu trách nhiệm 40 bệnh nhân mỗi đêm và sự đảm nhận hơn một bệnh nhân cần một sự theo dõi gia tăng có thể tạo những vấn đề nghiêm trọng”, GS Alain Créange, chuyên gia về neuropathie périphérique ở bệnh viện Henri-Mondor de Créteil, đã lấy làm tiếc như vậy.
Giai đoạn hướng thượng (phase ascendante) kéo dài trung bình khoảng 1 tuần nhưng có thể trong vài giờ hay kéo dài đến 4 tuần tối đa. Hội chứng Guillain Barré được xác định bởi tiến triển cấp tính này, mặc dầu trong những trường hợp rất hiếm, nó lấy dạng mãn tính. Giai đoạn cấp tính được tiếp theo bởi một giai đoạn bình nguyên (phase de plateau), kéo dài lâu hay mau, trong đó các triệu chứng ngừng tiến triển nhưng không cải thiện.Nếu bệnh nhân được điều trị ở giai đoạn này hay nếu các triệu chứng chỉ tiến triển rất chậm, không một điều trị nào sẽ được thực hiện nhưng một rééducation sẽ được thực hiện, nhằm chuẩn bị bệnh nhân cho giai đoạn phục hồi, nhất là nếu bệnh nhân bị liệt giường trong một thời kỳ kéo dài. Cũng phải xét đến những hậu quả của một liệt giường kéo dài và sự tái thích nghi dần dần tư thế ngồi rồi đứng.
Sau cùng khi những triệu chứng được cải thiện, bệnh nhân đi vào giai đoạn phục hồi có thể kéo dài đến 18 tháng, thời gian sau đó các di chứng trở nên vĩnh viễn. ” Nói chung sự phục hồi theo cùng độ dốc như giai đoạn hướng thượng, GS Créange đã chỉ như vậy. Đôi khi đó chỉ là những cảm giác kiến bỏ nhỏ nhưng chúng có thể rất khó chịu đối với các bệnh nhân.” Rééducation cho phép một sự phục hồi hiệu quả hơn và thường nhanh hơn. Tuy nhiên tất cả các bệnh nhân đều kêu mệt nhiều trong nhiều tháng sau khi bị bệnh.
(LE FIGARO 6/11/2017)

2/ HỘI CHỨNG GUILLAIN-BARRÉ : CÓ SẴN ĐỂ DÙNG HAI ĐIỀU TRỊ CŨ
Mặc dầu căn bệnh được chẩn đoán tốt hơn và nhanh hơn, những điều trị được sử dụng trong hội chứng Guillain-Barré hầu như đã không tiến triển từ khi chúng được hiệu chính trong những năm 1980. Phần lớn những cố gắng nghiên cứu, cho đến nay, nhằm vào sự hiểu căn bệnh. Từ nay hội chứng Guillain-Barré có thể lợi dụng những tiến bộ quan trọng được thực hiện trong miễn dịch học trong 10 năm qua. Nhưng những hướng nghiên cứu điều trị (hiếm) có thể xét đến chỉ nhận ít sự ủng hộ của công nghiệp dược phẩm, vốn ít quan tâm đến những bệnh hiếm.
Guillain và Barré, hai thầy thuốc thần kinh Pháp của cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, ngay năm 1916 đã mô tả bệnh viêm nhiều rễ thần thần kinh cấp tính (polyradiculonévrite aigue) đồng thời nhấn mạnh đặc điểm của nó : dịch não tủy chứa một lượng protéine gia tăng, nói chung chỉ một nhiễm trùng, nhưng không có sự hiện diện của các bạch cầu phát hiện nhiễm trùng này. Thật vậy, những protéine này là dấu hiệu của một phản ứng viêm miễn dịch (réaction imflammatoire immunologique), ban đầu chống lại một tác nhân nhiễm trùng nhưng vài kháng nguyên của tác nhân này giống với những kháng nguyên được chứa trong myéline, một trong những yếu tố của bao bảo vệ của những dây thần kinh. Một khi nhiễm trùng đã được loại bỏ, vũ khí vốn được hưởng chống lại các kháng nguyên của tác nhân nhiễm trùng không được bất hoạt và lao vào chống lại cai đích rất tương tự này (những kháng nguyên được chứa trong myéline), phá hủy một yếu tố của chính cơ thể của mình : hội chứng Guillain Barré là một bệnh tự miễn dịch (maladie auto-immune).
” NHỮNG KẾT QUẢ TƯƠNG ĐƯƠNG ”
Hai điều trị được sử dụng hôm nay nhằm làm giảm đáp ứng miễn dịch bị hướng sai lạc này để cho cơ thể có thời gian đảo ngược quá trình. Plasmaphérèse cho phép lấy ra các kháng thể chống lại myéline hiện diện trong huyết tương : cần 5 séance trong một thời kỳ 10 ngày.
Cũng có thể thực hiện một điều trị với immunoglobuline, trái lại tác dụng bằng cách ức chế sự tiếp cận các kháng nguyên. ” Hai điều trị cho những kết quả hoàn toàn tương đương : sự lựa chọn tùy theo sự sẵn có để sử dụng của hai phương pháp điều trị này. Những khoa hồi sức được trang bị tốt hơn để thực hiện một échange de plasma”, BS Christophe Vial, thầy thuốc thần kinh của CHU de Lyon đã nhấn mạnh như vậy.
Những điều trị này chỉ hiệu quả trong giai đoạn tiến triển, nhưng, ngay cả trong trường hợp này, chúng cần khoảng 10 ngày để cho thấy những tác dụng của chúng. ” Do nôn nóng, sự phối hợp hai điều trị là vô ích, thậm chí có hại, GS Shahram Attarian, trưởng khoa thần kinh của bệnh viện La Timone (Marseille) đã nhắc lại như vậy. Ngoài ra, các corticoides không có một tác dụng nào.” Khi tiến triển rất chậm và chỉ giới hạn ở các chi dưới, không một điều trị nào sẽ được áp dụng, nhất là để tránh những nguy cơ dị ứng của các immunoglobuline.
(LE FIGARO 6/11/2017)

3/ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT VỀ TIÊM CHỦNG
Trận dịch cúm heo đã xảy ra ở Hoa Kỳ năm 1976 và chiến dịch tiêm chủng được phát động khẩn cấp chống lại đại dịch này đã dẫn đến một đợt dịch tễ quan trọng Guillain-Barré bên kia Đại Tây Dương. Đó là đại dịch duy nhất cho đến nay có thể được liên kết với vaccin, mặc dầu vaccin không nhất thiết là nguyên nhân : hội chứng Guillain-Barré xuất hiện hai đến ba tuần sau tiêm chủng, đúng như điều đó xảy ra khi chỉ có nhiễm trùng hiện diện..
Tất cả những dịch cúm từ nay đã là đối tượng của những công trình nghiên cứu theo dõi nguy cơ này : virus gia tăng nguy cơ Guillain-Barré 17 lần hơn tiêm chủng nó.
Từ năm 1976, dần dần, các nhà nghiên cứu đã nhận diện một số những tác nhân nhiễm trùng nào đó có khả năng làm dễ sự phát khởi của hội chứng Guillain-Barré. Cúm và những virus hô hấp khác nằm trong danh sách, cũng như những virus của nhóm herpès (thí dụ cytomégalovirus) nhưng cũng VIH, hay đối với những nhiễm trùng tiêu hóa, những campilobacter. Mới đây virus Zika đã gây nên một đợt Guillain-Barré và có thể biến đổi dịch tễ học của hội chứng. Dengue và virus của viêm gan E cũng được gợi lên.
Chỉ có điều là các chuyên gia vẫn luôn luôn không thể giải thích tại sao chỉ có vài người, đứng trước vài nhiễm trùng, phát triển phản ứng miễn dịch này chống lại chính họ. “Tất cả những souche de grippe không gây Guillain-Barré và những souches có tiềm năng không gây hội chứng này cho tất cả những người mà chúng gây nhiễm, GS Attarian (bệnh viện La Timone) đã nhấn mạnh như vậy. Đó là một chuyện đặc thù chìa khóa và ổ khóa mà làm minh bạch nó rất là khó.” Vẫn không thể tiên đoán mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng, những hậu quả của căn bệnh hay tìm thấy những yếu tố nguy cơ hay những profil những bệnh nhân nhạy cảm hơn đối với hội chứng này. Nếu những tác nhân nhiễm trùng này có tất cả những kháng nguyên khá tương tự với những kháng nguyên của myéline người để có thể gây nên rối loạn này, hướng này không đủ để hiểu hội chứng này phát khởi như thế nào. Hướng di truyền dường như cũng ít thỏa mãn.
(LE FIGARO 6/11/2017)

4/ TẠI SAO CÁC THẦY THUỐC TỰ CHĂM LO SỨC KHOẺ CỦA MÌNH KÉM NHƯ VẬY ?
Một chiến dịch khuyến khích các thầy thuốc thực hành để được theo dõi bởi một đồng nghiệp chứ không tự mình cho thuốc lấy.CONSULTATIONS. Người thợ giày đi giày tồi nhất (le cordonnier est le plus mal chaussé), mọi người đều biết điều đó. Nhưng ngạn ngữ này cũng áp dụng cho thế giới y khoa. Bạn đã hỏi thầy thuốc của bạn ai là bác sĩ điều trị của ông ấy chưa ? Hãy hỏi đi, bạn sẽ ngạc nhiên. Thật vậy cứ 10 người thì hết 8 không có bác sĩ điều trị ! Phần lớn các thầy thuốc ưa dựa vào chẩn đoán của mình hơn và tự cho thuốc lấy. Với những nguy cơ mà điều đó bao hàm.
” Tôi đã đau nặng cách nay 10 năm và tôi trải qua một thời gian trước khi đến khám một đồng nghiệp. Tôi đã để kéo dài “, BS Gilles Lazimi, giáo sư y khoa tổng quát thuộc đại học Pierre-et-Marie-Curie đã công nhận như vậy..Ông ta không hẳn là một ngoại lệ : các thầy thuốc có khuynh hướng giảm thiểu mối lo âu về sức khoẻ của mình và, ngay cả khi căn bệnh đã rõ ràng, họ thường chối không chịu nhận.
Kết quả : mặc dầu tỷ lệ các thầy thuốc bị bệnh không cao hơn ở những cán bộ cao cấp, nhưng bệnh lý của họ thường được phát hiện ở một giai đoạn tiến triển. Một sự từ chối sự thực có nguồn gốc trong chính bản chất của nghề nghiệp. ” Là thầy thuốc, đó là sự cung hiến của bản ngã cho tha nhân. Ngay trong những năm học y khoa của chúng tôi, chúng tôi có ganh nang những bệnh nhân và nhịp làm việc của chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải quên mình : những đêm trực không ngủ, quên ăn..”, BS Max Doppia, tổng thư ký của collège des anesthésistes réanimateurs đã giải thích như vậy.
Một khi đã là thầy thuốc, họ tránh nghỉ việc để không bỏ bệnh nhân của mình hay bắt kíp của họ ở bệnh viện phai làm việc quá nhiều. Nhưng là thầy thuốc cũng cho một cảm giác có quyền miễn trừ. ” Tôi ở về phía tốt của bureau và như thế tôi không thể bị bệnh. Ngoài ra, tôi thực hiện chính sách đà điếu đối với căn bệnh bởi vì tôi biết các bệnh nhân đi về đâu : những thăm dò bổ sung tích cực, những điều trị nặng nề. Sau cùng, thú nhận mình bị bệnh, đó cũng là, một cách vô thức, tự cảm thấy mình là một thầy thuốc tồi..”, bác sĩ Marc Garcia, người sáng lập hiệp hội Inter.Med mà mục tiêu là đảm trách sức khỏe của các người điều trị của département du Gard, đã nhấn mạnh như vậy. Một sáng kiến mà mục đích là chăm sóc những người điều trị nhưng cũng những bệnh nhân. ” Dần dần người ta nhận thức rằng điều xấu đối với thầy thuốc, trong thời gian dài hạn, cũng xấu đối với bệnh nhân “, Aurélie Prouvost trong luận án y khoa của mình đã đánh giá như vậy. Nhưng tình trạng sức khỏe của nhóm người đặc biệt này là gì ? Ở phần mở đầu luận án, Aurélie Prouvost chứng thực rằng các thầy thuốc không phát bệnh nhồi máu cơ tim hay ung thư nhiều hơn các cán bộ và rằng họ có những hành vi tốt về mặt phòng ngừa. Tuy vậy, họ thường cho
biết tình trạng sức khỏe kém hơn là các cán bộ.
Một nghịch lý phát hiện tình trạng bất ổn của nghề nghiệp, sống dưới sự đe doạ của burn-out. Ngay năm 2007, hơn một nửa các thầy thuốc tự do cho biết ở trong tỉnh trạng suy kiệt nghề nghiệp. Một con số tăng lên 60% ở những thầy thuốc đa khoa ! Bệnh viện không được tha miễn, như chúng tôi đã nhắc lại nhiều vụ tự tử của các người điều trị.
” Còn hơn cả trong quá khứ, các người điều trị xây dựng căn cước nghề nghiệp của mình trên một hình ảnh superhéros. Người ta muốn họ bất diệt, và họ chấp nhận khoác bộ áo đó, dầu cho nguy cơ sức khỏe của chính họ”, Eric Galam, giảng viên y khoa tổng quát ở Paris Diderot, mới đây đã ghi nhận như vậy. Thế mà burn out, ngoài nguy hiểm mà nó đe dọa các thầy thuốc (tỷ lệ tự tử do burn out 2,3 lần cao hơn so với dân thường), là một trong những nguồn chính của những sai sót y khoa. Và lại nữa, thầy thuốc trong tình trạng nguy khốn về tâm lý sẽ lần lửa đi khám một đồng nghiệp, thích tự cho mình những thuốc hướng thần.
Để đi ra khỏi vòng luẩn quẩn, ” tôi là thầy thuốc vậy tôi điều trị cho chính tôi hay tôi sẽ đi khám ở một người bạn “, đồng nghiệp của các thầy thuốc gây mê-hồi sức đã phát động một chiến dịch ” Doc, t’as ton doc ? ” (BS, ông có bs không ?) nhằm chất vấn họ và khiến họ chọn một bác sĩ điều trị. ” Chúng tôi ý thức chỉ ở giai đoạn đầu của một quá trình sẽ cần nhiều năm. Chúng tôi hy vọng trong 10 năm nữa gặt hái điều mà chúng tôi gieo hôm nay và đảo ngược khuynh hướng “, Max Doppia đã nhấn mạnh như vậy. Các thầy thuốc trẻ, họ sẽ dễ thuyết phục hơn không ? Bởi vì đối với họ cũng khẩn cấp. Một sinh viên y khoa trên bốn nói mình có sức khỏe kém và 14% thú nhận đã có những ý nghĩ tự tử, theo một điều tra được thực hiện bởi y sĩ đoàn.
(LE FIGARO 10/4/2017)

5/ CÁC THẦY THUỐC, CHỊU ĐỰNG BỆNH…ĐÔI KHI QUÁ MỨC.
Các thầy thuốc thường làm việc khi họ bị bệnh và tự bảo vệ mình kém.PREVENTION. Nếu các thầy thuốc bị buộc phải cho là quan trọng những triệu chứng của các bệnh nhân mình, họ lại lỏng lẻo hơn nhiều với bệnh tật của riêng họ. Ta biết họ ít có khuynh hướng theo những lời khuyên phòng ngừa, ta khám phá họ quen đi làm việc với thuốc nhỏ mũi, trán nóng hay dạ dày rối loạn, đi ngược lại nguyên tắc thận trọng đối với chính họ và đối với bệnh nhân của họ.
Một cuộc điều tra, được thực hiện ở nhân viên điều trị của một bệnh viện nhi đồng Philadelphie, cho thấy rằng hiện tượng này rất phổ biến. Trong khi 95% trong số 536 nhân viên điều trị (thầy thuốc và trợ tá) được hỏi, đều tin chắc rằng chăm sóc bệnh nhân trong khi chính mình bị bệnh làm cho bệnh nhân này chịu một nguy cơ lây nhiễm, 83% trong số họ vẫn cứ đi làm việc với những triệu chứng ít nhất một lần trong năm. Gần 10% đã làm như vậy ít nhất 5 lần trong năm, công trình nghiên cứu được công bố trong tạp chí Jama Pediatrics đã báo cáo như vậy.
Phần lớn bị sốt (16%), những triệu chứng hô hấp cấp tính (55%) hay ỉa chảy (30%), vài người cảm thấy khó chịu, đến độ tự truyền dịch cho mình để đứng vững.
Những lý do thường được đưa ra nhất bởi các người điều trị để giải thích việc nhận lấy nguy cơ của họ là mong muốn không đùn đẩy công việc cho các đồng nghiệp của mình (99% những người được thăm dò), muốn có mặt ở đó cho những bệnh nhân của mình (92,5%), sợ bị đồng nghiệp xem thường (64%) và muốn continuité de soins (63%)
Mặc dầu công trình này của Hoa Kỳ ” kinh nghiệm của tôi khiến tôi nghĩ rằng những kết quả này rất giống với Pháp”, BS Bruno Kézachian, président de la commission d’entraide au Conseil national de l’ordre des médecins, đã đánh giá như vậy. Theo ông, tinh thần có mặt bên cạnh bệnh nhân là đầy những thiện ý. ” Họ muốn tránh không để những người khác phải làm việc quá nhiều và ở đó vì các bệnh nhân họ., BS Kézachian đã phân tích như vậy. Ông cũng nhắc lại những khó khăn của các thầy thuốc thực hành khi tìm người thay thế.
Những người điều trị từ lâu có một quan hệ nước đôi với sức khỏe của chính họ. ” Tính dễ thương tổn (vulnérabilité) của thầy thuốc là một tabou. Huyền thoại của người thầy thuốc cuối cùng trên cầu được ghi trong lịch sử của nghề nghiệp của chúng ta : vào lúc những đại dịch như dịch hạch, họ tiếp tục điều trị bệnh nhân dầu tình trạng của họ như thế nào”, Bruno Kézachian đã nhắc lại như vậy.
Một sự cự tuyệt nguy cơ cũng được thể hiện trong việc ít tuân thủ những chiến lược phòng ngừa của họ, BS Luc Duquesnel, chủ tịch của công đoàn các thầy thuốc tự do đã nhấn mạnh như vậy. ” Tiêm chủng chống cúm mùa đang giảm ở những người điều trị, mặc dầu miễn phí “. Ông kêu gọi đưa vào trong quá trình đào tạo ban đầu y khoa và bán y khoa một module về sức khỏe của người thầy thuốc. ” Dĩ nhiên các thầy thuốc không muốn làm hại các bệnh nhân của họ. Nhưng tục lệ làm cho họ sao lãng nguyên tắc theo đó, trong khi bảo vệ chính họ, họ cũng bảo vệ những người khác.
(LE FIGARO 9/7/2015)

6/ COI CHỪNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ.BS Paul Wulleman, interniste-pneumologue thuộc bệnh viện Braine-l’Alleud (Belgique), cảnh giác rằng ” rống biểu hiện một tín hiệu âm thanh báo động”
Hỏi : Những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil) là gì ?
Paul Wulleman. Đó là một sự gián đoạn một phần hay hoàn toàn của luồng khí ở đường hô hấp trên. Sự đi qua của khí bị trở ngại, nên nồng độ oxygène trong máu bị sụt giảm. Những récepteur ” báo cho” não bộ rằng có một sự nguy hiểm vì thiếu oxy. Não phản ứng bằng cách thay đổi giai đoạn ngủ. Có những “microéveil” (thức dậy dưới 10 giây) mà bệnh nhân không nhận thức vì thời gian ngắn ngủi. Sáng hôm sau bệnh nhân không còn nhớ nữa, mặc dầu đã có 200 hay 300 micro-éveil. Trái lại bệnh nhân cảm thấy mệt và ngủ gà ban ngày. Rống (ronflement) là một tín hiệu báo động âm thanh thể hiện một sự biến mất của hô hấp tự nhiên bằng đường mũi và loan báo những tiền đề của hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ (SAS : syndrome d’apnée du sommeil). Ở trẻ em, chính thở bằng miệng để lộ một rối loạn hô hấp vào ban đêm.
Hỏi : Những bệnh nhân bị ngừng thở ngắn lúc ngủ là những bệnh nhân nào ?
Paul Wulleman. Ngày nay rối loạn cơ học của sự đi qua của không khí trong đường hô hấp trên là một trận dịch thế giới, mà sự hiện hữu có nguồn gốc vào thời kỳ đầu của kỷ nguyên công nghiệp. Rối loạn này được liên kết với vấn đề của một tình trạng không hoạt động gia tốc (sédentarité galopante), chịu trách nhiệm sự tăng thể trọng (surcharge pondérale) và chứng béo phì (obésité). Thật vậy, mô mỡ thâm nhiễm vào trong những cấu trúc của đường hô hấp trên, nhất là lưỡi. Hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ cũng hiện hữu ở những người không béo phì. Trong trường hợp này, nó có nguồn gốc trong thời kỳ bé thơ, do những thói quen dinh dưỡng xấu (ít hay không cho bú sửa mẹ, biberon, tétine, mút móng tay cái hay các ngón tay). Lý tưởng là nhũ nhi phải được cho bú mẹ trong một thời kỳ 6 tháng. Sự sử dụng quá sớm biberon ngăn cản sự phát triển hài hòa của mặt do thiếu trương lực cơ (tonicité musculaire) và vị trí xấu của các xương hàm. Nói một cách khác, chính sự xuất hiện của kỷ nguyên công nghiệp đã sinh ra hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ (SAS), theo nguyên tắc tuyệt đối mà con người đã luôn luôn tạo cho mình các căn bệnh.
Hỏi : Tỷ lệ của chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ của dân Bỉ ?
Paul Wulleman. Ở người trưởng thành, khi ta càng lớn tuổi, ta càng có những vấn đề SAS, xảy ra ở 75% dân số. Ở trẻ em, đó là khoảng 3% đến 5%, với hậu quả là những rối loạn học hành và những dấu hiệu lâm sàng. Tôi luôn luôn khuyến nghị cha mẹ đi xem con mình ngủ như thế nào và đảm bảo rằng chúng thở đúng là bằng mũi.
Hỏi : Trái với nhiều đồng nghiệp của ông, ông không tán đồng việc mang thường trực mặt nạ mặt, đưa vào không khí môi trường dưới một áp lực được xác định trước, nói chung 6 đến 17 hectopascals. Vì lý do gì và ông đề nghị gì như giải pháp thay thế ?Paul Wulleman. Điều trị bằng thông khí ban đêm này mac dầu điều chỉnh các ngừng thở ngắn, nhưng không chữa lành SAS. Hậu quả trong thời gian dài hạn cua thông khí nhân tạo qua mặt nạ là tạo một áp lực lên các xương của mặt, với những tác dụng có hại. Ngay lúc đầu điều trị, tôi ưu tiên một cách hệ thống một rééducation myofonctionnelle bởi các kiné hay logopède để cải thiện, thậm chí chữa lành SAS. Với mục đích này, chúng tôi khảo sát những tác dụng lâu dài của một rééducation thường trực vào ban đêm nhờ một thiết bị đặt trong miệng (TRP). Thiết bị này cho phép phục hồi các chức năng lưỡi, dĩ nhiên với điều kiện áp dụng tất cả những biện pháp vệ sinh đời sống (mất cân, thể dục mỗi ngày). Nếu không, các nguy cơ được duy trì, dầu đó là tim mạch, đái đường hay ngay cả thần kinh. Đảm báo cho mình một sức khỏe tốt, đó là ăn đúng đắn, cử động thận trọng và ngủ đầy đủ, đồng thời thở…bằng mũi !
(PARIS MATCH 9/11-15/11/2017)

7/ HỘI CHỨNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ : NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
Hội chứng ngừng thở ngắn lúc ngủ đôi khi xảy ra ở phụ nữ có thai và những hậu quả có thể có hại cho em bé (sinh non, nhẹ ký), nhưng cũng cho người mẹ.
Chẩn đoán SAS có thể được thiết đặt bắt đầu từ 5 apnée hay hypopnée mỗi giờ ngủ. Ta xem SAS là nghiêm trọng có thể gây nên những biến chứng tim mạch (nhồi máu cơ tim và/hay tai biến mạch máu não bắt đầu từ 30 apnée hay hypopnée mỗi giờ ngủ. Triệu chứng ngủ gà ban ngày (somnolence diurne), có thể do SAS gây nên, chỉ được liên kết một cách không hoàn toàn với số những biến cố hô hấp trong đêm, với một nguy cơ tai nạn đường xá có thể được ước tính 7 lần cao hơn bình thường (cùng nguy hiểm bằng, thậm chí hơn vài nồng độ cồn trong máu bị cấm).
(PARIS MATCH 9/11-15/11/2017)

8/ HIỂU RÕ HƠN MỘT DỊCH BỆNH CHOLÉRA
EPIDEMIOLOGIE. Dịch bệnh choléra hiện nay hoành hành ở Yémen, với hơn 500.000 người bị bệnh và hơn 2000 trường hợp tử vong : trận dịch choléra kéo dài trong đất nước, bị tàn phá bởi một cuộc nội chiến và bị một nạn đói trầm trọng, dường như dậm chân tại chỗ. Bệnh dịch tả đã không bao giờ biến mất khỏi bề mặt của Trái đất và 7 trận dịch lớn, ảnh hưởng thế giới từ đầu thế kỷ XIX, đã gây nên hàng triệu nạn nhân. Một kíp những nhà nghiên cứu, được chỉ đạo bởi Viện Pasteur, vừa tái tạo những nguồn gốc và diễn biến của những làn sóng lớn của những trận dịch của Vibrio cholerae, vi khuẩn gây bệnh, từ đầu những năm 1960, năm khởi phát trận đại dịch thứ bẩy này. Vào năm 2016, bệnh hiện diện trong 38 nước và lại gây gần 100.000 trường hợp tử vong mỗi năm.
Gần 1000 mẫu nghiệm của Vibrio cholerae, phát xuất từ 45 trong số 54 nước châu Phi, được thu thập giữa năm 1966 và 2014 đã được khảo sát và so sánh..Các nhà nghiên cứu đã có thể xác nhận rằng vi khuẩn sinh bệnh đã được đưa vào và đưa vào lại 11 lần trong 49 năm ở châu Phi. Mỗi lần như thế nguồn gốc của nó là châu Á và người là tác nhân khuếch tán mầm bệnh. Cũng cùng đường đó đã được đưa vào lại, với một dị biệt nhỏ bắt đầu từ năm 2000 : các vi trùng đã trở nên đề kháng với vài vi trùng.
” Những khám phá này cho chúng ta biet về những vùng châu Phi dễ bị dịch tả nhap vào nhất và phải được nhắm để dập tắc những làn sóng nhiễm trùng trước khi chúng lan tràn lên phần còn lại của lục địa”, BS François-Xavier Weill, trưởng unité des bactéries pathogènes entériques ở Viện Pasteur, một trong những tác giả chính của công trình nghiên cứu này đã giải thích như vậy.
Một công trình nghiên cứu khác, cũng được công bố trong Science, quan tâm đến châu Mỹ latin. Các nhà nghiên cứu chú ý những trận dịch của 40 năm qua, trong đó trận dịch ở Pérou vào đầu những năm 1990 và ở Haiti vào năm 2010. Châu Mỹ latin có đặc điểm là nó có những souche ngoài châu Á và những souche bản địa. Những trận dịch lớn được gây nên bởi sự nhập vào souche châu Á trong khi những trường hợp lẻ tẻ phát xuất từ những vi khuẩn nội địa, ít độc lực hơn.
(LE FIGARO 13/11/2017)

9/ UNG THƯ BUỒNG TRỨNG : BẮT ĐẦU TỪ NHỮNG VÒI TRỨNG
Ung thư buồng trứng (4500 trường hợp mới mỗi năm ở Pháp) thường có tiên lượng xấu, bởi vì bị chẩn đoán muộn do không có những triệu chứng đặc hiệu để phát hiện. Ý tưởng được xác lập là ung thư bắt đầu và phát triển từ bề mặt của các buồng trứng. Nhưng những dữ kiện tích tụ thuận lợi cho một giả thuyết khác : phần lớn những ung thư này bắt đầu ở đầu của một vòi trứng trước khi lan rộng đến buồng trứng nằm cạnh nó. Kíp của BS Douglas Levine (Memorial Sloan Kettering Cancer Center, Nữu Ước) vừa mang lại bằng cớ về điều đó trong một công trình nghiên cứu phân tử và di truyền ở 96 bệnh nhân. Các tác giả chủ trương lấy phòng ngừa các vòi trứng ở các phụ nữ có nguy cơ cao (gène BRCA biến dị) và có hy vọng nhận diện những chất chỉ dấu tế bào của vòi trứng, cho phép phát hiện sớm những ung thư này.
(PARIS MATCH 9/11-15/11/2017)

10/ LÀM SAO ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤC NGỦ ?
Dầu cho nguyên nhân là gì, 1/3 những người Pháp hay Mỹ ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm và/hoặc kêu rối loạn giấc ngủ. Nhưng làm sao đánh giá một cách khách quan chất lượng giấc ngủ ? Theo một báo cáo mới đây của National Sleep Foundation ở Hoa Kỳ, dựa trên sự phân tích nghiêm túc 277 công trình được tiến hành tốt, 4 tiêu chuẩn chắc chắn nhất để xác định một giấc ngủ ngon : thiu ngủ trong 30 phút hoặc ít hơn, thức dậy chỉ một lần và dưới 5 phút mỗi đêm, đã ngủ 85% thời gian nằm trên giường và không bị thức tổng cộng hơn 20 phút. 4 tiêu chuẩn xác nhận giấc ngủ kém : cần hơn 1 giờ để thiu ngủ, thức dậy hơn 4 lần mỗi đêm, đã ngủ dưới 74% thời gian nằm trên giường và vẫn thức tổng cộng hơn 40 phút.
(PARIS MATCH 16/11-22/11/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/11/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s