Thời sự y học số 450 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ AMYGDALE : MỔ ÍT HƠN VÀ MỔ ÍT GÂY CHẤN THƯƠNG HƠN

35.000 trường hợp cắt bỏ amygdale toàn phần mỗi năm ở trẻ em dưới 18 tuổi so với 68.000 năm 2002.

Phẫu thuật cắt bỏ amygdale càng ngày càng được thực hiện một phần (amygdalectomie partielle).OTO-RHINO-LARYNGOLOGIE. ” Sự cắt bỏ một phần amydale càng ngày càng được sử dụng ở Pháp, GS Franoise Denoyelle, trưởng khoa ORL nhi đồng và chirurgie cervico-faciale thuộc bệnh viện Petits-enfants malades (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên sự phổ biến của phương pháp này bị chậm lại bởi vì Bộ y tế không chấp nhận đánh giá lại động tác ngoại khoa này nhân những khuyến nghị mới đây năm 2012.” Được hỗ trợ bởi sự phát triển của những công cụ cắt bỏ bằng radiofréquence, sự theo dần dần phương pháp cắt bỏ một phần này, hôm nay là kỹ thuật chuẩn ở Thụy Điển, có lẽ sẽ là giai đoạn tiếp theo của một chiến lược ngoại khoa đang tiến triển từ 20 năm nay.
Thật vậy, những chỉ định cắt bỏ amygdale đã tiến triển nhiều trong những thập niên qua : những chỉ định này rõ ràng hơn và nhất trí hơn đối với toàn bộ các thầy thuốc thực hành. Số lượng những can thiệp, quá thường cho đến những năm 2000, hôm nay đã ổn định quanh 35.000 mỗi năm ở trẻ dưới 18 tuổi trong khi con số này đạt 68.000 năm 2002. Thật vậy cắt bỏ amygdale toàn phần không phải là một can thiệp không có nguy cơ, nhất là với những biến chứng xuất huyết dẫn đến tử vong trong một trường hợp trên 50.000, một con số cần đảm bảo rằng can thiệp này là một lựa chọn tốt nhất đối với mỗi bệnh nhân.
Đại đa số các phẫu thuật cắt bỏ amygdale từ nay được thực hiện ở trẻ em vì những nhiễm trùng amygdale mãn tính hay tái phát hay vì một phì đại amygdale liên kết với những đợt ngừng thở ngắn lúc ngủ (apnée du sommeil) có những ảnh hưởng lên sức khỏe, sự phát triển và/hoặc sự theo học ở trường của đứa trẻ.Khi những amygdale quá lớn và/hoặc khi đáp ứng miễn dịch không đủ, các mầm bệnh đôi khi đến ở tại đó, tạo một ổ chứa nhiễm trùng. Những angine quá thường xảy ra hay trong thời gian quá lâu có thể dẫn đến một sự gián đoạn học hành hay những rối loạn tăng trưởng do kém dinh dưỡng. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu mới nhất chỉ rằng cắt bỏ amygdale toàn phần chỉ cho phép giảm ít ỏi số những đợt angine trong một năm. Do đó những khuyến nghị định rõ rằng can thiệp chỉ được xét đến sau 7 đợt nhiễm trùng trong năm hiện hành hay một sự kéo dài dai dẳng của những triệu chứng trên 3 tháng.Vậy chỉ định thường gặp nhất đối với cắt bỏ amygdale là hội chứng ngừng thở ngắn do tắc lúc ngủ (SAOS). Thật vậy, những amygdale quá lớn có thể gây trở ngại hô hấp, nhất là trong khi ngủ, tạo điều kiện cho những đợt ngừng thở ngắn gây ảnh hưởng quan trọng lên sức khỏe và sự phát triển của các trẻ em. Trong trường hợp này, điều thiết yếu là đánh giá đúng mức độ nghiêm trọng của hội chứng ngừng thở ngắn do tắc lúc ngủ (SAOS), có khuynh hướng giảm với tuổi, cũng như những nguyên nhân của nó để chỉ xét đến cắt bỏ một cách có ý thức.
Nguy cơ xuất huyết là cao nhất trong 6 đến 8 giờ sau phẫu thuật : đó là thời gian theo dõi tối thiểu ở bệnh viện trước khi gởi đứa trẻ về nhà khi can thiệp được thực hiện ngoại trú. Nguy cơ tăng cao lần nữa khi những vảy kết của sự lành sẹo rời ra, khoảng một tuần sau can thiệp : vậy đứa bé phải được theo dõi thường trực bởi những người có khả năng phản ứng tốt trong trường hợp này. Việc đào tạo gia đình và đứa trẻ (nếu nó khá lớn) là một lúc quan trọng của sự theo dõi.
Nếu nguy cơ xuất huyết đè nặng lên lựa chọn điều trị này, sự quản lý đau cũng là một tiêu chuẩn quan trọng. Thật vậy, phẫu thuật cắt bỏ amygdale là một can thiệp gây đau đớn, ngay vào lúc cuối của can thiệp và mỗi lần nuốt và ăn thức ăn. Codéine và những dẫn xuất nha phiến khác bằng đường miệng không còn có thể được sử dụng nữa ở trẻ em và sự quản lý đau, nhất là khi can thiệp được thực hiện ngoại trú, là khó hơn.
Đứng trước hai yếu tố nguy cơ này, sự cắt bỏ một phần bằng tần số phóng xạ (radiofréquence), đặc biệt hơn được chỉ định đối với một hội chứng ngừng thở ngắn do tắc lúc ngủ (SAOS), dường như mang lại một tiến triển dương tính : nó làm giảm đồng thời đau (3 lần ít gọi hơn) và nguy cơ xuất huyết (0,3% chảy máu sớm so với 1,8%, và 0,7% xuất huyết muộn so với 5,8%). Phẫu thuật cắt bỏ một phần amygdale làm gia tăng nhẹ tỷ lệ các amygdale tái phát nhưng các triệu chứng thường không xuất hiện trở lại. Nếu SAOS tái xuất hiện, khi đó sự cắt bỏ toàn phần đuoc biện minh trong thì hai. ” Các chuyên gia ORL tin chắc về lợi ích của phương pháp này, GS Denoyelle đã nói như vậy. Bằng cớ, họ càng ngày càng được trang bị những dụng cụ, tuy tốn kém, nhưng cần thiết để thực hành nó.” Có lẽ Bộ y tế sẽ xem lại sự đánh giá của phương pháp này trong những năm đến.
(LE FIGARO 16/10/2017)

2/ CÁC TRẺ NHỎ CŨNG BỊ CHỨNG NGỪNG THỞ NGẮN LÚC NGỦ (APNEE DU SOMMEIL)
Phì đại các amygdale (hypertrophie des amygdales) là nguyên nhân chính của hội chứng ngừng thở ngắn do tắc lúc ngủ (SAOS : syndrome d’apnée obstructive du sommeil) ở các trẻ em. Hội chứng này xảy ra từ 2 đến 3% các trẻ em, với một cao điểm giữa 3 và 8 tháng, ở con gái cũng nhiều như ở con trai. Thể tích của các amygdale thu giảm một cách ngẫu nhiên lúc hệ miễn dịch trưởng thành. Khi chúng thường xuyên làm tắc các đường hô hấp trong giấc ngủ, những hậu quả có thể nghiêm trọng đối với trẻ em. Trong trường hợp này, phẫu thuật có thể được xét đến để lấy đi amygdale hay làm giảm thể tích của chúng.
Ngáy là một trong những dấu hiệu đầu tiên mà bố mẹ ghi nhận nhưng hiếm khi đủ để khiến họ tìm đến một thầy thuốc : 10 đến 12% các trẻ em ngáy một cách tự nhiên. Tuy nhiên, trường hợp ngáy mạnh và dai dẳng, ngoài mọi đợt nhiễm trùng ra, phải khiến báo động. Ngáy trở nên một triệu chứng của SAOS khi nó liên kết với một hô hấp ban đêm thường bị gián đoạn, chịu trách nhiệm sự kém oxygénation của cơ thể và một giấc ngủ phân đoạn (sommeil fragmenté) không hiệu quả. Giấc ngủ không yên, bị ngắt quản bởi nhiều thức giấc, thường có nhiều ác mộng và được kèm theo bởi vã mồ hôi. Trong ngày, đứa trẻ thường thở bằng miệng, khó thức dậy, đau đầu lúc tỉnh dậy và yêu cầu được ngủ trong ngày.
ĐIỀU TRỊ CHUẨN
Ngay cả khi các amygdale xuất hiện to lớn, thầy thuốc sẽ làm một thăm khám lâm sàng hoàn chỉnh để đánh giá chúng có phải là nguyên nhân duy nhất gây ngừng thở ngắn lúc ngủ hay không : hình dạng của gương mặt và những xoang hô hấp đóng một vài trò cũng như chứng béo phì. Điều ngược lại cũng đúng : đứa trẻ có những thói quen để tạo điều kiện cho một hô hấp tốt hơn, điều này có thể biến đổi bộ răng, vị trí của hàm và tư thế của nó mà ta cũng phải điều chỉnh. Vậy điều trị SAOS phải toàn bộ.
Ngoại khoa vẫn là điều trị chuẩn khi mức độ nghiêm trọng của SAOS và sự trách nhiệm của các amygdale được xác nhận. Hôm nay các thầy thuốc ngoại khoa có khunh hướng không phản ứng quá nhanh. Sự thực hiện một polysomnogramme khi đó cho phép phân tích giấc ngủ và mang lại một chẩn đoán SAOS đáng tin cậy. ” Bất hạnh thay ở Pháp khá khó để có thể tiếp cận được polysomnogramme. Đó là một thăm dò kéo dài (giấc ngủ phải được phân tích trong một đêm hoàn toàn) và phải được thực hiện bởi một kíp được đào tạo theo những đặc điểm của giấc ngủ của trẻ em “, GS Franoise Denoyelle, trưởng khoa TMH nhi đồng và ngoại khoa cổ và mặt của hôpital Necker-enfants malades (Paris). Trong phần lớn các trường hợp, vậy sự lựa chọn can thiệp dựa trên một chùm những yếu tố được thu thập bởi kíp y khoa, hôm nay có thể chọn phẫu thuật cắt bỏ một phần các amygdale. Tỷ lệ tái phát cần một tái can thiệp được đánh giá 4%, nhưng vẫn ít nguy cơ hơn và ít gây đau hơn.
(LE FIGARO 16/10/2017)

3/ VIỆC HÓC BÚA CỦA ĐAU HẬU PHẪU Ở TRẺ EM
Hãy xem lại một cách hoàn toàn thái độ xử trí đau hậu phẫu ở trẻ em ! Đó là thách thức mà các thầy thuốc gây mê và các thầy thuốc ngoại nhi đồng phải đối diện sau khi codéine bị cấm sử dụng ở trẻ em dưới 13 tuổi vào năm 2013.
Các trẻ em bị hội chứng SAOS, những trẻ em đầu tiên mà cắt bỏ amygdale nhắm đến, thường có một nguy cơ đường hô hấp cao hơn và các thầy thuốc gây mê cũng thận trọng trước một thuốc giảm đau khác mức độ II, tramadol. Paracétamol vẫn là thuốc giảm đau hàng đầu để giúp các trẻ em vượt quá 15 ngày sau phẫu thuật nhưng tác dụng của nó phải được tăng cường bằng sự kết hợp với những thuốc khác.
Những thuốc kháng viêm không phải stéroide (AINS) như ibuprofène và những corticoide như thế có hai lợi ích : chống lại viêm, nguồn đầu tiên của đau sau cắt bỏ amygdale, nhưng cũng làm giảm nôn mửa mà các thuốc nha phiến (opioides) dường như làm dễ. Trong khung cảnh này, sự cắt bỏ một phần những amygdale mang lại một giải pháp thay thế hấp dẫn. ” Kỹ thuật mới gần đây này có nhiều ưu điểm so với kỹ thuật cổ điển : giảm đau hậu phẫu và giảm nguy cơ xuất huyết hậu phẫu “, GS Isabelle Constant, trưởng pôle hospitalo-universitaire pathologie enfant adolescent và khoa gây mê hồi sức của bệnh viện Armand-Trousseau (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Không thay đổi chiến lược giảm đau, nó mang lại một khung cảnh an tâm hơn.
Trên thực hành, và đặc biệt khi trẻ được cho về nhà một cách nhanh chóng sau phẫu thuật, điều trị chống đau sẽ được thực hiện thành nhiều giai đoạn để theo dõi tiến triển của nó. Đau ở trẻ em vì khó đánh giá, nhất là ở những trẻ rất nhỏ, nên bố mẹ có khuynh hướng không cho đủ những thuốc giảm đau. Để đảm bảo sự kiểm soát đau, nhất là với những thuốc ít mạnh hơn từ nay được cho phép, những thuốc giảm đau phải được cho vào giờ cố định, theo một chương trình chính xác, ít nhất trong những ngày đầu.
(LE FIGARO 16/10/2017)

4/ SỐNG KHÔNG CÓ AMYGDALE
Các amygdale (cũng được gọi là tonsille) là những cơ quan lymphoide (như tuyến hung hay các hạch), nằm ở bên phải hay trái, ở đáy đọng. Hình trái xoan, nói chung amygdale do được 2 cm trên 1 cm, nhưng kích thước của chúng thay đổi tùy theo mỗi người. Được đặt ở tuyến đầu, trên đường đi của không khí, chúng bắt những tác nhân nhiễm trùng mà để chống lại chúng sản xuất những kháng thể, đáp ứng miễn dịch đầu tiên và support d’appentissage cho những cơ quan miễn dịch khác trong cơ thể. Vậy amygdale đóng một vai trò quan trọng trong quá trình trưởng thành của hệ miễn dịch. Thể tích của chúng giảm một cách tự nhiên ở tuổi dậy thì. Có nhiều amygadale nhưng quan trọng nhất là những amygdale palatine (amidan vòm miệng). Mặc dầu chúng hữu ích nhưng chúng không cần thiết đối với hệ miễn dịch của chúng ta. Lãnh vực ORL có những phương tiện khác để chống lại những mầm bệnh và những nhiễm trùng. Những trẻ bị cắt bỏ amygdale sẽ không bị những nhiễm trùng tái diễn nhiều hơn. Chúng có thể bị angine nhưng sẽ ít nghiêm trọng hơn.
(LE FIGARO 16/10/2017)

5/ ALZHEIMER ĐƯỢC PHÁT HIỆN Ở GIAI ĐOẠN KHÔNG TRIỆU CHỨNG.
Sự phát minh một mô hình động vật (modèle animal) phỏng theo dạng người của bệnh mang lại hy vọng cho một phát hiện sớm.NEUROLOGIE. Đó là một tiến bộ đáng kể, một “bước nhảy kỹ thuật” trong việc nghiên cứu về bệnh Alzheimer mà một kíp người Pháp vua thực hiện. Họ đã “phát minh” một mô hình động vật mới của bệnh lý. Lần đầu tiên, mô hình này phỏng theo một cách trung thực điều xảy ra ở người, và ngay những giai đoạn không triệu chứng đầu tiên hết của bệnh. Điều này tạo điều kiện cho một sự hiểu biết gia tăng về các cơ chế phát triển bệnh, những thử nghiệm các thuốc điều chỉnh (molécules correctrices) và công tác điều tra phát hiện sớm sẽ được mở ra (những công trình được công bố trong Cerebral Cortex).
Bệnh Alzheimer, liên quan đến 900.000 người ở Pháp và 45 triệu người trên thế giới, không có điều trị cho phép làm ngừng căn bệnh hay chữa lành nó. Khi các triệu chứng xuất hiện (mất trí nhớ, sa sút các chức năng trí tuệ…), những tổn hại gây nên cho các neurone đã không thể đảo ngược được. Vậy một phần lớn những công trình nghiên cứu nhằm vào sự phát hiện giai đoạn sớm và yên lặng này của căn bệnh mà ta không hiểu rõ nhưng có thể tác động để làm chậm lại sự thoái hóa.Ta biết rằng sự thoái hóa này được gây nên bởi hai yếu tố : sự tích tụ của một protéine được gọi là amyloide beta giữa các neurone, điều này làm rối loạn sự liên lạc giữa các tế bào thần kinh ; và một protéine thứ hai, Tau, lấy một dạng bị biến đổi (hyperphosphorylation), gây nên một sự dễ vỡ của các neurone.” Chính hai đặc điểm cơ bản này của bệnh mà mô hình động vật của chúng tôi đã phỏng theo”, Jérome Brandeau, tác giả chính của các công trình, bây giờ đứng đầu một start-up, AgenT, phát xuất từ những công trình này, đã giải thích như vậy. ” Các động vật là các con chuột, tất cả đều là những clone không transgénique (souris transgénique). Khi chúng được 2 tháng, ta tiêm trực tiếp vào chúng, trong một vùng nhỏ của não bộ, hippocampe, gène humain de surproduction de la protéine amyloide beta. Một tháng sau protéine này bắt đầu xuất hiện trong hippocampe. 9 tháng sau chính dạng biến đổi của protéine Tau của động vật bắt đầu được sản xuất, gần như vào lúc mà những rối loạn trí nhớ đầu tiên được biểu hiện.Vào lúc 30 tháng (2,5 năm), những tổn hại không thể đảo ngược đầu tien xuất hiện. ” Không dưới 130 động vật (chuột X-Wistar) đã được theo dõi và cuối cùng được hy sinh ở những lứa tuổi khác nhau để có thể khảo sát não bộ của chúng.
Cho mãi đến nay, ta chỉ có những mô hình động vật mang một trong hai protéine, và những thời hạn quan sát quá ngắn (chỉ vài tháng). ” Đó cũng là một điểm đáng chú ý của mô hình động vật mới này “, Ronald Melki, giám đốc nghiên cứu CNRS ở Institut de neurosciences de Paris-Saclay, đă lấy làm phấn khởi. ” Mô hình động vật này lập lại sự tiến triển chậm chạp của căn bệnh. Ta thật sự cần loại mô hình động vật này để nhắm đích những thuốc điều trị trong giai đoạn im lặng của căn bệnh. Bởi vì tất cả những gì ta đã thử nghiệm là trên những mô hình động vật rất không hoàn hảo hay trên những người với một sự thoái hóa đã không thể đảo ngược được. Có lẽ phải trắc nghiệm lại tất cả. Và tôi muốn biết tại sao chỉ một nửa các động vật có hiện tượng với protéine Tau.
Giai đoạn kế tiếp đối với những người thành lập Agent T, phát triển start up của họ bằng cách đề nghị nhiều service sử dụng mô hình động vật dành cho những những phòng thí nghiệm nghiên cứu, nhưng cũng tiếp tục nhưng nghiên cứu riêng của họ để khảo sát trong chi tiết những giai đoạn đầu của bệnh. ” Mục tiêu của chúng tôi là, từ nay đến vài năm nữa, hiệu chính một trắc nghiệm máu chẩn đoán nhưng cũng tiên đoán, Jérome Brandeau đã đảm bảo như vậy. Nhờ Agent T, chúng tôi nghĩ có thể nêu rõ đặc tính về sự hiện diện của những chất chỉ dấu của bệnh ngay cả khi không có những dấu hiệu lâm sàng, ngay 45-50 tuổi.”
Cũng như đối với những bệnh thoái hóa thần kinh không thể chữa lành khác, sự việc loan báo cho một người nào đó rằng người này có nguy cơ cao bị bệnh Aleheimer hay rằng bệnh đã hiện diện một cách im lặng, đáng được suy nghĩ, bắt đầu với ” có hữu ích không ? ”
(LE FIGARO 19/10/2017)

6/ SỰ ĐỀ KHÁNG VỚI INSULINE LÀ MỘT NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH ALZHEIMER.Ta hằng biết rằng các neurone của những người bệnh Alzheimer mất tính nhạy cảm đối với insuline, kích thích tố có nhiệm vụ điều hòa đường huyết. Kíp của David Blum và của Luc Buée (đại học Lille/Inserm) có lẽ đã tìm ra nguyên nhân của bệnh “đái đường não” (diabète cérébral) này. Ổ chuột, chính protéine tau kích hoạt tính nhạy cảm này, vì vậy sự vắng mặt của protéine này gây nên một sự đề kháng đối với insuline, điều này có thể dẫn đến một sự loạn năng neurone và mất trí nhớ. Thế mà ở những bệnh nhân Alzheimer, protéine này, mặc đầu hiện diện, ” kết tụ trong các neurone và điều đó dẫn đến sự mất chức năng của nó, nguồn gốc của sự đề kháng insuline (insulino-résistance) “, David Blum đã giải thích như vậy.
(SCIENCES ET VIE 9/2017)

7/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : MỘT TAI BIẾN VẪN CÒN KHÔNG ĐƯỢC NHẬN RÕ.
Hơn 2/3 những người Pháp không nhất thiết có phản ứng thích hợp trong trường hợp tai biến mạch máu.
NEUROLOGIE. AVC (accident vasculaire cérébral) : 3 chữ mà mỗi người đều biết. Tuy vậy, nhiều ý tưởng sai lạc vẫn còn tồn tại về tai biến mạch máu não, nguyên nhân thứ ba gây tử vong ở Pháp sau ung thư và nhồi máu cơ tim. Đó là điều được tiết lộ bởi một thăm dò Odoxa cho Cơ quan nghiên cứu về những tai biến mạch máu não. Công trình nghiên cứu này đã được tiến hành giữa 4 và 5/10 bằng những bảng câu hỏi Internet ở 986 nguoi, đại diện cho dân chúng Phap.
” Một tai biến mạch máu não là một loạn năng đột ngột của não, liên kết với một bất thường của tưới máu não. Tai biến mạch máu não có thể do một sự tắc nghẽn (80%) hay do vỡ (20%) của một trong những động mạch của não “, BS Stéphane Vannier, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh phụ trách đơn vị mạch máu- thần kinh (unité neurovasculaire) ở CHU de Rennes, đã giải thích như vậy. Thường trí mạng, tai biến mạch máu não có thể để lại những di chứng chức năng cho những người sống sót : liệt các chi, rối loạn lời nói, khó nuốt…Ngoài ra, đó là nguyên nhân đầu tiên gây phế tật mắc phải ở Pháp.
Tuy vậy, gần một người Pháp trên năm nghĩ rằng ” Tai biến mạch máu não nằm ở tim “, lẫn lộn tai biến này với nhồi máu cơ tim (do tắc một trong những động mạch mang máu oxygéné đến tim. Tệ hại hơn, chỉ 23% những người được thăm dò biết rằng tai biến mạch máu não là nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở phụ nữ, trước ung thư vú và nhồi máu cơ tim. Sau cùng, 1/4 những người Pháp nghĩ rằng căn bệnh này không thể xảy ra ở trẻ em, và 2% tin rằng điều đó chỉ liên hệ đến những người già.
Thật vậy, nếu tai biến mạch máu não xảy ra trước hết ở những người trên 65 tuổi, ” tỷ lệ những trường hợp tai biến mạch máu não ở những người trẻ (giữa 20 và 55 tuổi) đã chuyển từ 9 lên 12% giữa 2003 và 2013 “, GS Jean-Louis Mas, trưởng khoa thần kinh của bệnh viện Sainte-Anne và chủ tịch của Cơ quan nghiên cứu về tai biến mạch máu não đã giải thích như vậy ” Khuynh hướng này được giải thích, nhất là, bởi sự gia tăng của chứng nghiện thuốc lá, của sự tiêu thụ cannabis, của tình trạng nhàn rổi không hoạt động và của chứng béo phì.”
TIẾP XÚC VỚI SAMU
Do sự không nhận rõ căn bệnh, một bộ phận dân chúng vẫn còn có một phản xạ xấu đứng trước những dấu hiệu đầu tiên của tai biến mạch máu não (liệt, rối loạn thị giác, mất chức năng vận động, khó nói…). Thật vậy, 35% những người được thăm dò đã không gọi 15. Tuy vậy, ” sự tiếp xúc với Samu cho phép kích hoạt một filière đặc thù trong xử trí tai biến mạch máu não. Qua một cách xử trí khác, thí dụ như những pompier, có nguy cơ làm mất những giây phút qúy báu cho bệnh nhân “, BS Stéphane Vannier đã bổ sung như vậy. Theo một thăm dò, 1/3 những người Pháp đã trực tiếp hay gián tiếp có liên quan (chính họ hay một người thân) với tai biến mạch máu não. ” Con số này không đáng ngạc nhiên, vì lẽ điều quan trọng là cần nhắc lại rằng ở Pháp, một tai biến mạch máu não xảy ra mỗi 4 phút “, GS Jean-Louis Mas đã nhắc lại như vậy. Cũng vậy, một người Pháp trên sáu, trong suốt cuộc đời mình, sẽ là nạn nhân và hôm nay có 750.000 người ở Pháp đã sống sót một tai biến mạch máu não.
Bài học cuối cùng của cuộc thăm dò này, 1 người Pháp trên 5 khuyên một người thân đừng nói về tai biến của mình trong lãnh vực nghề nghiệp. Tệ hại hơn, gần một nửa đã khuyên như vậy trong số những người được thăm dò khi chính họ đã từng là nạn nhân của một tai biến mạch máu não. Một con số đáng lo ngại, theo GS Jean-Louis Mas : ” Sự kiện không nói về điều đó chứng tỏ rằng chủ đề tai biến mạch máu não vẫn còn là chủ đề cấm kỵ. Điều đó có hậu quả trực tiếp là dân chúng thiếu thông tin về những yếu tố nguy cơ và về thái độ phải theo trong trường hợp một tai biến mạch máu não xảy ra.
(LE FIGARO 26/10/2017)

8/ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO : NHỮNG DẤU HIỆU BÁO ĐỘNG, ĐIỀU TRỊ, PHÒNG NGỪA.
GS Jean-Louis Mas, service de neurologie và unité neurovasculaire, bệnh viện Sainte-Anne, Paris, nhắc lại phòng ngừa và điều trị như thế nào tai ương này nhân Ngày quốc tế Tại Biến mạch máu não (29/10/2017).
Hỏi : Ở Pháp có bao nhiêu tai biến mạch máu não mỗi năm ?
GS Jean-Louis Mas : Khoảng 140.000, trong đó 75% là những đợt tai biến mạch máu não đầu tiên và 25% là những tái phát. Đó là nguyên nhân thứ hai gây tử vong, nguyên nhân đầu tiên gây phế tật vật lý và nguyên nhân thứ hai gây sa sút trí tuệ (démence) (sau bệnh Alzheimer)
Hỏi : Có những loại tai biến mạch máu não khác nhau không ?
GS Jean-Louis Mas : Trong 80 % các trường hợp, đó là một nhồi máu (infarctus : sự chết của các neurone) do sự tắc đột ngột của một động mạch não bởi một cục máu đông (thrombus : cục huyết khối).Trong 20% các trường hợp, đó là một xuất huyết do vỡ một động mạch trong não (xuất huyết não, 15%). Nhiều nguyên nhân (xơ mỡ động mạch, embolie, phình mách…) là nguồn gốc của nhồi máu hay xuất huyết.
Hỏi : Ông có thể tóm tắt những yếu tố nguy cơ chính ?
GS Jean-Louis Mas : Có những yếu tố y khoa, thường im lặng như cao huyết áp, bệnh đái đường, chứng tăng cholestérol huyết và bệnh rung nhĩ (sự co thắt và không đều của các tâm nhĩ). Những yếu tố khác liên kết với lối sống, như thuốc lá, chứng béo phì, tình trạng nhân rồi không hoạt động, chứng nghiện rượu hay một chế độ ăn uống quá nhiều muối, mỡ động vật và đường, ít trái cây và rau xanh.
Hỏi : Những dấu hiệu báo động điển hình nhất là gì và khi đó phải làm gì ?GS Jean-Louis Mas : Tùy theo vùng não bị thương tổn, những dấu hiệu là rất đa dạng nhưng tất cả đều có điểm chung là xuất hiện đột ngột, do đó có thành ngữ “attaque cérébrale” (đột qụy). Những dấu hiệu thường gặp nhất là : liệt hay mất cảm giác của mặt và các chi, thường nhất ở một bên của cơ thể, khó nói, khó tìm ra những chữ hay khó hiểu, mất một phần hay hoàn toàn thị giác của một mắt hay thị trường phải hay trái. Khi đó phải gọi nhanh kíp cấp cứu (Samu) bằng cách gọi số điện thoại 15, mặc dầu những dấu hiệu giảm hay biến mất trong vài phút.
Hỏi : Sự xử trí điều trị như thế nào và những điểm mạnh của nó là gì ?
GS Jean-Louis Mas : Tai biến mạch máu não là một cấp cứu nội khoa mà sự xử trí được thực hiện tốt nhất trong một đơn vị mạch máu-thần kinh (unité neuro-vasculaire) chuyên khoa. Hôm nay có gần 140 đơn vị ở Pháp.
Télé-AVC cho phép các cơ sở điều trị không có đơn vị mạch máu-thần kinh nhận được một expertise neuro-vasculaire ; điều này khiến có thể thực hiện sự hợp tác giữa thầy thuốc nhận bệnh nhân và chuyên gia ở xa nhưng có thể tham gia cấp cứu về chẩn đoán và điều trị.1. Trong trường hợp nhồi máu, sự tiêm bằng đường tĩnh mạch một loại thuốc nhằm làm tan cục máu đông (thrombolyse) cho phép, nếu được thực hiện trong 4 đến 5 giờ sau khi những triệu chứng bắt đầu, có được một sự phục hồi hoàn toàn ở 13 bệnh nhân. 2. Đối với những trường hợp tắc những động mạch cỡ lớn, từ nay ta cho thể kết hợp với thrombolyse một thrombectomie trong 6 giờ đầu. Thủ thuật này nhằm lấy đi bằng biện pháp cơ học cục máu đông nhờ một thiết bị được đưa vào trong động mạch dưới sự kiểm soát X quang. Khi đó 45% bệnh nhân phục hồi một autonomie. 3. Trong trường hợp xuất huyết, sự đánh giá ngoại khoa của hématome đôi khi có thể được thực hiện. 4. Trong trường hợp vỡ phình mạch, sự đưa vào trong phình mạch những vòng xoắn kim loại (spire métallique) nhỏ gây đông và bít lỗ hổng.
Hỏi : Làm sao phòng ngừa những tai biến mạch máu não ?
GS Jean-Louis Mas : Dầu đó là tránh một tai biến mạch máu não đầu tiên hay tái phát, sự phòng ngừa dựa trên sự phát hiện những yếu tố nguy cơ và những bệnh căn nguyên (cao huyết áp, đái đường, tăng cholestérol huyết, xơ mỡ động mạch, rung nhĩ…), dựa trên sự điều trị chúng và một vệ sinh đời sống tốt.
Hỏi : Những mục tiêu lớn của Cơ quan nghiên cứu về các tai biến mạch máu não mà ông là chủ tịch ?
GS Jean-Louis Mas : Cơ quan này đã được thành lập để đẩy nhanh sự nghiên cứu về các tai biến mạch máu não vì những phương tiện không đủ đứng trước tần số và mức độ nghiêm trọng của căn bệnh này.
(PARIS MATCH 19/10-25/10/2017)

9/ PHẢI LÀM GÌ ĐỂ GIẢM NHỮNG NGUY CƠ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO ?

Professeur Serge Timsit
Président de la Société française neuro-vasculaire
Chef de service de neurologie
et unité neurovasculaire
CHRU Brest

Tai biến mạch máu não xảy ra khi một dòng mạch đến não bị bít (85% những tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ : AVC ischémique) hay khi vỡ một động mạch trong não gây xuất huyết (tai biến mạch máu não xuất huyết : AVC hémorragique hay hématome). Ở Pháp, hôm nay gần 800.000 người bị một tai biến mạch máu não và hơn 500.000 người giữ các di chứng. Tuy vậy, có thể tránh nhiều trong số những tai biến này nhờ những biện pháp phòng ngừa. Đó là điều mà Hiệp hội thần kinh-mạch máu Pháp (SFNV : société française neurovasculaire ) nhắc lại, nhân Ngày quốc tế tai biến mạch máu não sẽ diễn ra ngày 29 tháng 10 năm nay.
Hỏi : Tại sao hôm nay nhấn mạnh sự phòng ngừa nguyên phát (prévention primaire), nghĩa là ở những người không bị bệnh ?
Serge Timsit : Trong thời gian lâu, ưu tiên của chúng ta là điều trị các bệnh nhân. Hôm nay, mặc dầu vẫn còn nhiều điều để làm, chúng ta có thể điều trị tốt hơn các bệnh nhân và làm giảm nguy cơ các di chứng, nhờ sự thiết lập đơn vị thần kinh-mạch máu (unité neurovasculaire) và nhờ những tiến bộ điều trị được thực hiện trong 10 năm qua. Bây giờ chúng ta có thể tập trung vào sự phòng ngừa nguyên phát. Như công trình nghiên cứu quốc tế Interstroke đã cho thấy, 10 yếu tố nguy cơ có thể biến đổi (facteurs de risque modifiables) góp phần vào sự xuất hiện của 90% những trường hợp tai biến mạch máu não. Đó là cao huyết áp, chứng nghiện thuốc lá, một tỷ lệ vòng thắt lưng (taille-tour) tăng cao, tình trạng nhàn rỗi không hoạt động, một chế độ ăn uống không thuận lợi cho sức khỏe, cholestérol, những yếu tố tâm thần xã hội (stress, trầm cảm, những yếu tố của đời sống), những nguyên nhân tim, tiêu thụ rượu quá mức (hơn 14 ly mỗi tuần ở phụ nữ và 21 ở đàn ông) và đái đường.
Hỏi : Những tỷ lệ giảm được mong chờ nào nhờ sự phòng ngừa nguyên phát này, nghĩa là trước khi xuất hiện một tai biến mạch máu não ?
Serge Timsit : Người ta đánh giá rằng 80% những trường hợp tai biến mạch máu não có thể tránh được ở mỗi cá nhân bằng cách kiểm soát tốt nhất những yếu tố nguy cơ này.Điều này có nghĩa rằng trên 140.000 trường hợp mới mỗi năm có lẽ chúng ta có thể tránh được một nửa. Đó là to lớn, khi ta biết rằng tai biến mạch máu não là nguyên nhân đầu tiên gây phế tật mắc phải của người trưởng thành, nguyên nhân thứ hai gây sa sút trí tuệ sau bệnh Alzheimer, và đã trở thành nguyên nhân đầu tiên gây tử vong ở phụ nữ.
Hỏi : Trong chiến dịch của ông, ông nhấn mạnh 5 biện pháp phòng ngừa. Tại sao đã chọn những biện pháp đó ?
Serge Timsit : Chúng tôi đã tập trung vào 5 yếu tố có thể tiếp cận và/hoặc được xử trí ít tốt hơn : kiểm soát huyết áp, ăn uống lành mạnh, chống lại sự nhàn rỗi không hoạt động, kiểm soát cholestérol, có một hoạt động vật lý, ngừng hút thuốc. Trong phần lớn các trường hợp, các bệnh nhân bị đái đường hoặc bị một vấn đề tim được theo dõi bởi một thầy thuốc. Ngược lại, 50% những người cao huyết áp không hay biết là mình đã bị như vậy. Thế mà cao huyết áp nhân gấp 10 nguy cơ tai biến mạch máu não xuất huyết và gấp 4 nguy cơ tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ. Còn về thuốc lá, nó tăng gấp đôi nguy cơ tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ. Ở những phụ nữ trẻ dùng thuốc ngừa thai, thuốc lá đặc biệt đáng sợ, nhất là nếu những phụ nữ này bị bệnh migraine. Ngược lại, sự tiêu thụ trái cây và cá được liên kết với một sự giảm nguy cơ và hoạt động vật lý đều đặn giảm 1/3 nguy cơ tai biến mạch máu não. Chúng ta cũng có thể liên kết sự tiêu thụ rượu quá mức. Nhưng chúng tôi muốn một thông điệp khá dương tính. Vì vậy chúng tôi đã chọn đề xuất những lợi ích của sự ăn uống lành mạnh và thực hành 30 phút bước mỗi ngày.
Hỏi : Phải chăng sự phòng ngừa cũng có vai trò sau một tai biến mạch máu não tạm thời ?
Serge Timsit : Hơn bao giờ hết. Có khoảng 30.000 trường hợp AIT (accident ischémique transitoire : tai biến mạch máu não thoáng qua) mỗi năm. Đó là một thương tổn nguồn gốc mạch máu gây những rối loạn thần kinh tạm thời ở một bên và không đau, kéo dài dưới 1 giờ trong trường hợp điển hình.Chúng không để lại di chứng nhưng đi trước 20% những nhồi máu não. Thế mà hôm nay chúng ta biết rằng sự điều trị thích đáng những AIT trong 12 giờ sau khi chúng xuất hiện cho phép giảm 80% xác suất xảy ra một tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ về sau. Vậy chúng ta đúng trong sự phòng ngừa. Chính vì vậy, chúng tôi có ý kiến thuận lợi đối với sự phát triển những clinique AIT, như được thành lập ở bệnh viện Bichat. Những clinique này thực hiện những thăm dò cần thiết sau một AIT. Hiện nay có hai clinique AIT ở Pháp : một ở Paris và một ở Toulouse. Chúng ta có thể phát triển chúng trên toàn lãnh thổ.
Hỏi : Những tiến bộ nào đã được thực hiện trong điều trị những tai biến mạch máu não ?
Serge Timsit : Như tôi đã nói trong phần nhập đề, đơn vị mạch máu-thần kinh (unité neurovasculaire) đã phát triển nhiều nhờ plan AVC 2010-2014 và những đơn vị mạch máu-thần kinh, cho phép giảm khoảng 20% tỷ lệ bệnh-tử vong, hiện diện trên toàn lãnh thổ của nước Pháp. Một khi gọi 15, các bệnh nhân được nhận vào một circuit được tổ chức và điều hợp với toàn bộ những người chuyên nghiệp y tế, cho đến khi đến một đơn vị mạch máu-thần kinh, ở đó một kíp chuyên môn sẽ chăm sóc họ. Tuy nhiên không phải tất cả những người liên hệ đều gọi 15. Chúng ta phải tiếp tục cổ xướng con số điện thoại này.
Những điều trị cùng đã tiến triển. Bên cạnh điều trị tan huyết khối (thrombolyse) (dưới 4 giờ 30 sau khi xuất hiện tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ), đã xuất hiện, năm 2015, thrombectomie (dưới 6 giờ sau khi xuất hiện tai biến mạch máu não thiếu máu cục bộ).Đó là một kỹ thuật thần kinh can thiệp (neurologie interventionnell), cho phép lấy cục máu đông ra khỏi động mạch bị bít và tránh một phế tật trên ba hay bốn.Thế mà không phải tất cả các trung tâm mạch máu-thần kinh (centre neurovasculaire) đều dựa vào một trung tâm thần kinh can thiệp (centre de neurologie interventionnelle) tại chỗ. Hôm nay câu hỏi là có thể đề nghị kỹ thuật thrombectomie cho tất cả các bệnh nhân hội đủ điều kiện đối với điều trị này, hoặc 10% những bệnh nhân bị tai biến mạch máu não.
(LE FIGARO 23/10/2017)

10/ TỶ LỆ SỐNG SÓT SAU UNG THƯ ĐƯỢC CẢI THIỆN
Viện ung thư quốc gia (Inca) đã công bố hôm 15/6 bảng báo cáo thứ 9. Tài liệu, sẵn sàng trên Internet, từ nay có giá trị tương tác (interactif) : nó mang lại cho độc giả một sự lựa chọn cá thể hóa (sélection personnalisée) những chủ đề đáng quan tâm và một navigation nhanh. Ở đó ta biết được rằng tỷ lệ sống sót lúc 5 năm, đối với hai giới tính, đã được cải thiện, ngoại trừ các ung thư tử cung và bàng quang. Thí dụ, sự so sánh giữa các thời kỳ 2005-2010 và 2010-2015 cho thấy rằng tỷ lệ này đã chuyển từ 76 lên 87% đối với ung thư vú, từ 52 lên 63% đối với ung thư đại-trực tràng hay từ 80 lên 93% đối với ung thư tiền liệt tuyến. Những tiến bộ này là do những bước tiến trong điều trị và do một phòng ngừa tốt hơn. Theo Inca, 40% những ung thư sẽ có thể tránh được nếu theo 4 lời khuyên sau đây : không hút thuốc, tránh rượu, hoạt động vật lý nhiều hơn, ăn uống tốt hơn.
(PARIS MATCH 7/9-13/9/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(29/10/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to Thời sự y học số 450 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

  2. Pingback: Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s