Thời sự y học số 447 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TẤT CẢ CHÚNG TA KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRƯỚC CÀ PHÊ
Caféine là một chất tác dụng tâm thần (substance psychoactive) được tiêu thụ nhất trên thế giới.NUTRITION. Với 5,4 kilos de café được tiêu thụ b ở i mỗi người dân ở Pháp (so với 12 kilos ở Phần Lan), nhiều người Pháp bị “nghiện” petit noir này. Có phải vì vậy mà phải xem café như là một chất ma túy ? ” Chắc chắn là không, bởi vì, mặc dầu đó là một chất tác dụng tâm thần (substance psychoactive), vòng khoái lạc (circuit du plaisir) trong não bộ không giống với vòng khoái lạc đưa đến tình trạng phụ thuộc (dépendance) như héroine, cocaine hay ngay cả nicotine”, BS Astrid Nehlig, giám đốc nghiên cứu Inserm (bệnh viện Necker, Paris), chủ tịch của Hiệp hội khoa học và thông tin về café và là tác giả của Café et santé, Tout sur les multiples vertus de ce breuvage, đã nói như vậy.
Tuy vậy, tất cả chúng ta không có cùng ngưỡng dung nạp (tolérance) với cà phê. Điều đó được giải thích : ” Caféine được thoái biến bởi một enzyme (men) đặc thù, thế mà có những biến thể di truyền của enzyme này. Từ người này đến người khác, ta không thoái biến caféine theo cùng cách.. Ngoài ra, caféine được thoái biến thành những sản phẩm phụ cùng hoạt tính và chúng cũng được thoái biến bởi những enzyme mà đối với chúng cũng có một sự thay đổi tùy từng cá nhân ! Sau cùng, những đích của caféine (những thụ thể) cũng có một variabilité génétique lớn. Chính vì vậy những tác dụng có thể thay đổi từ một người tiêu thụ này đến một người tiêu thụ khác, và cũng chính vì vậy những tác dụng có lợi hay có hại của cà phê lên sức khỏe tùy thuộc liều lượng và cá thể “, BS Christophe Bernard, giám đốc nghiên cứu Inserm, unité mixte 1106, Institut de neurosciences des systèmes (Marseille), đã xác nhận như vậy.
Ngoài những khác nhau về chuyển hóa, giữa các người tiêu thụ, các loại cà phê không tương đương : décaféiné là một cà phê xanh mà ta trích caféine trước khi ran (torréfaction) cà phê để gìn giữ mùi thơm. Nó chứa nhiều vết caféine : đến 0,1% nếu là cà phê hạt và 0,3% nếu là cà phê hòa tan, nhưng không đủ để có những tác dụng có lợi lên sức khỏe như trong trường hợp arabica (cho một café fin có hàm lượng caféine trung bình tăng cao, khoảng 1%) hay của robusta, với nồng độ caféine hai lần cao hơn (2 đến 2,5%). ” Sau cùng, cách pha chế cà phê đóng một vai trò : khi bột xay cà phê tiếp xúc lâu với nước, như trong cà phê Thổ (café turc) hay cà phê được pha chế trong một cafetière à piston, những mỡ bị buộc tội là lót đường cho cholestérol, cũng được tìm thấy. Và một cà phê càng được ran (điều này cho nó một màu nâu và một vị đắng nào đó), nó càng ít mang lại những antioxydant. Và caféine của trà, hiện diện với lượng ít hơn, nó được phân biệt bởi một sự phóng thích chậm hơn, BS Nelig đã xác nhận như vậy.
Trong trường hợp dùng đúng giờ, thí dụ một cà phê buổi sáng lúc thức dậy, sự chăm chú theo dõi và sự tập trung gia tăng, năng lực làm việc gia tăng, và tính khí được cải thiện. Vì vậy không ngạc nhiên khi các máy cà phê đã dần dần chiếm các xí nghiệp ! Tuy nhiên, những người nhạy cảm nhất với caféine có thể cũng có những rối loạn thiu ngủ (endormissement) và/hoặc cảm thấy một lo âu, nhưng sự âu lo này có khuynh hướng giảm trong trường hợp dùng liên tiếp trong thời gian (hiện tượng quen : phénomène d’habituation). Ngoài ra, ở vài người bị bệnh tim, caféine có thể làm dễ những hồi hộp. Vì lẽ không thể tiên đoán ai chịu tốt caféine hay không và đến nồng độ nào, chính mỗi người phải lắng nghe cơ thể của mình “, BS Nehlig đã khuyên như vậy.
Trong thời gian dài hạn, những tác dụng của caféine lên não đặc biệt làm các thầy thuốc quan tâm : ” nó sẽ làm chậm lại sự sa sút trí tuệ do tuổi, đặc biệt ở những phụ nữ trên 80 tuổi, bảo vệ chống lại bệnh Parkinson, ngoại trừ ở những phụ nữ nhận một điều trị hormone thay thế, làm giảm 15 đến 20% nguy cơ bệnh Alzheimer và có lẽ ngay cả nguy cơ bị xơ cứng rải rác và bệnh Huntington (một bệnh thoái hóa-thần kinh hiếm nguồn gốc của những rối loạn vận động và cognition).” Cà phê, gồm đến 1000 phân tử khác nhau, có thể làm giảm những ù tai ở những người tiêu thụ và hạ nguy cơ bị bệnh đái đường không phụ thuộc insuline ở hai giới, ở những người thuộc mọi nguồn gốc và dầu cho chỉ số khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) như thế nào (những người trọng lượng trung bình hay béo phì), có thể qua trung gian của những antioxydant của nó như acide chlorogénique và/hoặc những thành phần khác.
” Những công trình nghiên cứu về bệnh đái đường đã không cho phép nói đó chỉ là một lợi ích liên kết với sự tiêu thụ cà phê hay do sự kiện những người uống cà phê đều đặn cũng là những người hoạt động hơn, BS Nehlig đã nói rõ như vậy. Nhưng, theo những phân tích mới đây của International Agency for Research Cancer, cà phê cũng có một tác dụng bảo vệ trong vài ung thư như gan, nội mạc tử cung, vú, tiền liệt tuyến và tụy tạng. Và cần những dữ kiện bổ sung để xác nhận hay phủ nhận điều đó trên đại trực tràng, dạ dày và mélanome.” Có cái gì để làm an lòng những người yêu thích petit noir !
(LE FIGARO 10/4/2017)

2/ CÀ PHÊ KHỔNG DÀNH CHO CÁC TRẺ EM
” Trong trường hợp tiêu thụ trong lúc có thai, caféine làm chậm tốc độ di tản của các tế bào của não trong thời kỳ phát triển phôi thai (những tế bào phải di tản để đi đến mục tiêu của chúng). Tác dụng này đã được chứng minh ở chuột. Mặc dầu luôn luôn khó suy diễn ở người những công trình nghiên cứu được thực hiện ở chuột, nhưng cùng hệ thống di tản (système de migration) hiện diện ở các động vật linh trưởng (primate). Phù hợp với những kết quả của chúng tôi, một công trình nghiên cứu của Pháp đã cho thấy rằng các người con của các phụ nữ đã từng tiêu thụ hơn 3/4 tách cà phê mỗi ngày trong thời kỳ thai nghén có một QI, lúc 5 tuổi rưỡi, hơi thấp hơn QI của những trẻ mà các người mẹ đã không tiêu thụ như vậy. Đó là một liên hệ thống kê hay một liên hệ nhân quả ? Vào lúc này không ai có thể trả lời. Điều được xác lập, đó là caféine đi xuyên qua hàng rào nhau, đi qua sữa mẹ và nó có thể ở lâu trong cơ thể của thai nhi hay nhũ nhi, bởi vì ở chúng, những enzyme có khả năng làm thoái biến caféine chưa hoạt động. Mặc dầu những tác dụng không thấy được tức thời, nhưng có thể điều đó để lại những dấu vết trong thời gian rất dài hạn và tạo một yếu tố nguy cơ đối với những bệnh lý của não. Đó là một giả thuyết mà sắp đến chúng ta sẽ trắc nghiệm, BS Christophe Bernard, giám đốc nghiên cứu Inserm, unité mixte 1106, Institut de neurosciences des systèmes (Marseille) đã ghi nhận như vậy. Điều đáng lưu ý, nhiều phụ nữ có thai cảm thấy một sự chán ngấy nào đó đối với cà phê ngay giai đoạn đầu của thai nghén và chính họ kềm hãm sự tiêu thụ..
CẢI THIỆN SỰ DÁN NHÃN
Vì thận trọng, European Food Safety Autority chủ trương không vượt quá 400 mg caféine mỗi ngày đối với một người trưởng thành có sức khoẻ tốt, nhưng chỉ 200 mg mỗi ngày ở những người có nguy cơ như các phụ nữ có thai (vì em bé tương lai của họ), những người trẻ và những người bị bệnh tim. Tuy nhiên phải có thể tính sự tiêu thụ hàng ngày, và để được điều đó, các nhà chế tạo phải cải thiện sự dán nhãn (étiquetage).Không có nguy cơ đối với một trẻ em uống chocolat vào buổi sáng và ăn yaourt parfumé au café, bởi vì những liều caféine được mang lại như thế là quá thấp : đến 10 mg caféine trong 100 ml chocolat au lait, 1 đến 4mg caféine trong một yaourt au café. Nhưng với 100 ml café filtre, đó là khoảng 80 mg caféine đối với một arabica, 160 mg đối với một robusta. Trong 30 ml café expresso, phải tính 55 mg đối với một arabica và đến 100 mg đối với một robusta. Trong 100 ml café tan tức thời (café soluble instatané) hay 100 ml trà, ta tìm thấy 45 mg caféine.
Sau cùng caféine hiện diện trong khoảng một chục loại thuốc và những chất bổ sung thức ăn (complément alimentaire), nhất là những thuốc chống migraine, vài thuốc giảm đau, và ngay cả những thuốc làm thon người lại (produits amincissants).
(LE FIGARO 10/4/2017)

3/ ” KHÔNG UỐNG LÀM TÔI BỊ BỆNH “
Đối với Mathilde Kantchan, 53 tuổi, đã hơn 34 năm cà phê đi vào trong cuộc đời : ” Tôi đã không bao giờ hút thuốc cũng không thử uống rượu, mà tôi nhận thấy vị đáng ghét, nhưng tôi đã bắt đầu uống cà phê, sau khi thi tú tài, ngay những năm đầu đại học, để tenir le rythme. Ngoài học hành và đi thực tập tôi con làm việc, điều này đôi khi khiến tôi phải tiếp nối 48, thậm chí 72 giờ làm việc liên tiếp ! Khi đó để thức tỉnh, đó là cà phê rồi cà phê ! Sau 8 năm học y khoa, tôi đã giữ thói quen uống cà phê 6 đến 10 tách mỗi ngày (dưới dạng lyophilisé, vậy không quá đậm đặc), nhất là trong thời gian giữa buổi sáng và đầu chiều. Điều đó đã không bao giờ ngăn cản tôi ngủ, cũng không gây hồi hộp. Ngược lại, nếu tôi phải thiếu cà phê suốt một buổi sáng, nhất là bởi vì tôi đang di chuyển, tôi chỉ còn phải chịu đau đầu. Không may cho tôi, tôi thuộc vào 15% những người bị chứng cai caféine : khi tôi tiêu thụ cà phê, caféine gây một sự co mạch của những động mạch não của tôi, nhưng khi tôi không uống, những động mach này giãn ra, do đó tôi bị đau đầu ! Dĩ nhiên, tôi đã tìm hiểu về tác dụng này : chắc là không có hậu quả nào khác lên sức khỏe của tôi và tôi chỉ cần giảm dần dần sự tiêu thụ của tôi để không còn gặp nữa vấn đề này. Sau cùng điều làm tôi bận tâm nhất là tôi đã không bao giờ quen được với vị của cà phê khi nó không được cho đường. Thế mà nếu tôi phải cho những cục đường vào trong 6-10 tách cà phê dùng mỗi ngày, tôi sẽ đi đến những liều quan trọng hơn nhiều. Tôi đã thử những những mẹo khác như stévia, nhưng không bao giờ quen với vị. Do đó, tôi tiếp tục nhờ đến những sucrette d’aspartame mặc dầu những công trình nghiên cứu mâu thuẫn về vấn đề này. Ngoài những nghi vấn của tôi về cách tốt nhất để sucrer cà phê, những công trình nghiên cứu làm an lòng về những tác dụng bảo vệ của caféine lên não, nhất là ở các phụ nữ, làm cho cà phê của tôi phải con theo kèm tôi lâu dài trong cuộc đời nghề nghiệp của tôi.”
(LE FIGARO 10/4/2017)

4/ NHỮNG LIÊN KẾT NGUY HIỂM
Với liều rất cao, cà phê gây chết người, nhưng phải thật sự tiêu thụ nhiều lít mỗi ngày.
” Ngược lại, sự lạm dụng boissons énergisants và rượu đúng là có thật và số nhập viện cấp cứu vì lý do này đã tăng gấp đôi ở những thanh niên giữa 2007 và 2011 (nguy cơ hôn mê rượu và ngừng tim) “, BS Bernard đã nhấn mạnh như vậy. Ý kiến được chia sẻ bởi BS Nehlig : ” Quá nhiều thiếu niên tiêu thụ caféine dưới dạng soda, thậm chí boissons énergisantes, để có thể tập trung trên màn ảnh đế tận khuya. Và vì chúng mệt ngày hôm sau, nên chúng cũng tiêu thụ ban ngày, do đó một vòng luẩn quẩn ! Ngoài ra, ngoài caféine trong những nước uống này, sự hiện diện của taurine không phải là vô hại.” Sau cùng, nếu caféine đã được lấy ra khỏi danh sách những sản phẩm được xem là dopant trong môi trường thể thao, đó không phải là trường hợp của phối hợp caféine và éphédrine (trích chất của một thực vật), bị cấm ở Pháp vì mức độ nghiêm trọng của vài trong số những tác dụng không được mong muốn (những tai biến tim)
(LE FIGARO 10/4/2017)

5/ NHỮNG HY VỌNG MỚI TRÊN MẶT TRẬN UNG THƯ.
Nghiên cứu y khoa tiến triển, như 3 kết quả được trình bày ở hội nghị quốc tế của Asco (Chicago) đã chứng tỏ điều đó.
Đó là một cuộc hẹn hàng năm đối với ung thư học. Mỗi năm, vào đầu tháng sáu, các chuyên gia của toàn thế giới gặp nhau ở Chicago (Illinois, Hoa Kỳ), theo sáng kiến của American Society of Clinical Oncology (Asco). Sau đây là 3 moments forts
1. Không tái phát ung thư vú sau thai nghén
Một công trình nghiên cứu, được trình bày bởi Matteo Lambertini, oncologue médical ở Viện Jules-Bordet (Bruxelles), chứng minh rằng sau một ung thư vú, thai nghén không hề là một yếu tố nguy cơ đối với người mẹ. Công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở 1200 phụ nữ. Các kết luận xác nhận một cách rõ ràng rằng nguy cơ tái phát không hề liên kết với sự thai nghén.
2. Một loại thuốc kềm hãm sự tiến triển của ung thư phổiĐó là một hy vọng mới đối với vài dạng ung thư phổi (4% toàn bộ những trường hợp). Một thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy rằng một loại thuốc mới, alectinib (Alecensa, laboratoires Roche) kềm hãm sự tiến triển của bệnh, với 15 tháng thuyên giảm bổ sung so với điều trị quy chiếu hiện nay với crizotinib (Xalkori, laboratoires Pfizer). Ngoài ra điều trị mới này làm chậm rất nhiều sự tạo thành những di căn não.
3. Theo kèm tâm lý bệnh nhân là một sự cần thiết.
3 công trình nghiên cứu của Úc, Canada và Thụy Sĩ chứng tỏ điều đó : tâm lý học không phải là một xa xỉ nhưng là một cần thiết để theo kèm bệnh nhân ung thư. Như thế, sự số một tái phát lùi bước một cách nhanh chóng ở những người được nâng đỡ, và tác dụng này kéo dài 6 tháng sau điều trị tâm lý. Các nhà tâm lý điều trị gợi lên sự chấp nhận một tái phát, sự kiểm soát tình trạng lo âu hay sự giúp bệnh nhân tập trung vào những chờ đợi mới.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2017)

6/ ĐIỀU TRỊ QUY ƯỚC THÍCH ỨNG LÀM THOÁI LUI BỆNH ALZHIMER
Chế độ ăn uống, thiền định, thể dục…Ở Hoa Kỳ, một protocole cá thế hóa đã cho phép đảo ngược sự sa sút trí tuệ.
Đó là điều chưa bao giờ thấy đối với những thầy thuốc : 10 bệnh nhân bị một thể bắt đầu của Alzheimer đã thấy đảo ngược tình trạng sa sút trí tuệ của họ ! Như thế nào ? Nhờ một protocole điều trị được mệnh danh là Mend (“amélioration métabolique pour la neurodégénérescence”). Protocole này đã được hiệu chính năm 2014 bởi nhà nghiên cứu Dale Bredesen ở đại học Californie ở Los Angeles (Hoa Kỳ). Chủ yếu nó nhằm giảm đến mức tối thiểu sự viêm và sư đề kháng với insuline, điều này, theo những nghiên cứu tiền lâm sàng, bảo vệ não. Để có được điều này, các bệnh nhân chịu một chế độ ăn uống nghèo sucres simples (glucose, saccharose) và những yếu tố viêm (mỡ động vật). Đích khác của các thầy thuốc : cortisol, hormone de stress, có hại đối với một não bộ bị suy yếu (cerveau fragilisé). Sự sản xuất cortisol được giảm bởi thực hành yoga và thiền định (méditation). Sau cùng, những yếu tố tăng trưởng của các neurone được kích thích nhờ những bài tập vật lý đều đặn.Theo những kết quả được công bố trong tạp chí Aging, 10 bệnh nhân bị bệnh Alzheimer giai đoạn đầu hay ở một stade précurseur đã trắc nghiệm prococole personnalisé này, được xây dựng tùy theo từng cá thể bởi một programme informatique phát xuất từ những dữ kiện sức khỏe ở mỗi bệnh nhân. Sau 24 tháng, phán quyết : một “amélioration cognitive subjective”, ” rõ rệt”, hay “rõ ràng” ở tất cả cac bệnh nhân. Một người thầu khoáng 69 tuổi, bị mất dần dần trí nhớ từ 11 năm nay và khó nhận biết các đồng nghiệp của mình, ngay đã có thể tái tục công việc sau 6 tháng. Ngoài ra, IRM não đã phát hiện, đối với một trong những bệnh nhân, một sự gia tăng của thể tích của hippocampe (một vùng não cần thiết cho sự ghi nhớ), có khuynh hướng giảm với bệnh. ” Mức độ cải thiện là không tiền khoáng hậu”, các tác giả đã kết luận như vậy.
ĐIỀU TRỊ CÀNG SỚM CÀNG TỐT, TRƯỚC KHI XUẤT HIỆN CÁC TRIỆU CHỨNG
Không có gì để ca bài ca chiến thắng, đối với Harald Hampel, titulaire de la chaire sur la maladie d’Alzheimer, được tài trợ bởi Quỹ Axa để nghiên cứu ở đại học Pierre-et-Marie-Curie (Paris). Ông nhấn mạnh rằng công trình nghiên cứu chỉ nhắm vào một số lượng rất ít những bệnh nhân. ” Ở Pháp còn quá sớm để áp dụng protocole này “, ông đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên, phía Californie, người ta mong ước rằng sự việc tiến nhanh bởi vì ” tốt nhất là điều trị những thay đổi cognition càng sớm càng tốt, nhất là trước khi xuất hiện những triệu chứng “, Dale Bredsen đã đảm bảo như vậy. Kíp Hoa kỳ đã bắt đầu một chương trình đào tạo những thầy thuốc thực hành và ” hơn 100 người đang theo protocole này “.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2016)

7/ THOÁT VỊ BẸN : NHỮNG KỸ THUẬT MỚI
Các BS Philippe Ngo và Edouard Pélissier, các thầy thuốc ngoại tiêu hóa, các ủy viên của Hội hàn lâm ngoại khoa quốc gia và của Institut de la hernie, Paris, nói về sự tiến triển của các phẫu thuật sửa chữa những thoát vị bẹn.
Hỏi : Thoát vì bẹn là gì ?
BS Philippe Ngo : Một thoát vị là sự đi qua của các tạng (nhất là ruột non) xuyên qua một lỗ của thành bụng bị làm yếu di rồi bị quá nới rộng ra.Khi thoát vị đi theo đường của các yếu tố đến các cơ quan sinh dục hay xuất phát từ đó, nó được gọi là thoát vị bẹn (hernie inguinale) (97% các trường hợp). Khi thoát vị mượn đường của các huyết quản và các dây thần kinh đến các chi dưới hay đến từ đó, nó được gọi là thoát vị đùi (hernie fémorale ou crurale) (3% các trường hợp).Hỏi : Ai bị bệnh lý này nhiều nhất ? Có những yếu tố làm dễ không ?
BS Edouard Pélissier :
1. Thoát vị bẹn là một bệnh lý nam giới, do sự kiện là những tinh trùng không chịu được những nhiệt độ gần 37 độ C (nhiệt độ của cơ thể). Vì lý do này, lúc sinh, những cơ quan sinh dục của người đàn ông nằm ở ngoài bụng. Thế mà những yếu tố đi đến các tinh hoàn (các động mạch, các dây thần kinh) hay phát xuất từ đó (những tĩnh mạch, ống dẫn tinh) đều đi qua lỗ bẹn (orifice inguinal).Lỗ bẹn này có khuynh hướng nới rộng ra với tuổi. Hậu quả : 1. một người đàn ông trên 4, một ngày nào đó, sẽ bị một thoát vị xuyên qua lỗ này.
2. Thoát vị đùi là khá hiếm, thường gặp hơn ở phụ nữ. Những yếu tố làm dễ là thuốc lá, ho mãn tính, bón, tăng thể trọng.
Hỏi : Chẩn đoán được thực hiện như thế nào ? Những nguy cơ không điều trị ?
BS Philippe Ngo : Sự xuất hiện của một chỗ sưng (tuméfaction) không đau ở một phía của bẹn là dấu hiệu thường gặp nhất.Đôi khi nó được kèm theo một khó chịu, thậm chí đau ít hay nhiều.
Nguy cơ quan trọng là những tạng đi vào trong lỗ bẹn hay đùi bị nghẽn. Khi đó, đó là một tắc ruột, cấp cứu ngoại khoa hay tiên lượng sinh tồn bị đe dọa.Hỏi : Điều trị phải chàng luôn luôn là phẫu thuật ?
BS Edouard Pélissier : Chỉ có phẫu thuật là có hiệu quả. Những ceinture và slip herniaire làm thuyên giảm sự khó chịu gây nên bởi thể tích của thoát vị nhưng không ngăn cản thoát vị lớn lên, cũng như sự xuất hiện của những biến chứng.
Hỏi : Những phương pháp ngoại khoa khác nhau được sử dụng, nhất là đối với những thoat vị bẹn ?
BS Philippe Ngo : Phương pháp xưa nhất là kéo lại cho gần, bằng khâu trực tiếp, những mép cơ và sợi của lỗ bẹn bị giãn rộng.Hôm nay phương pháp này bị bỏ bởi vì nó tạo sự căng cơ gây đau hậu phẫu quan trọng và những tái phát thường xuyên do rách các cơ được khâu (10 đến 12%). Tất cả những phương phát hiện nay sử dụng một prothèse tổng hợp dưới dạng filet maillé, tạo một hàng rào vững chắc trước lỗ bẹn bi yếu để không còn gì nữa có thể đi qua. Lưới được khâu vào các mép của thoát vị nhưng không tạo một sự căng nào, đưa đến ít đau sau mổ hơn và ít nhưng tái phát hơn (1%). Tóm lại, ta vá (rapiécer) thay vì sửa chữa (raccommoder). Trong phần lớn các trường hợp điều trị là ngoại trú (90%).
Hỏi : Những kỹ thuật mới nhất là gì ?
BS Edouard Pélissier : Kỹ thuật được sử dụng nhất, đơn giản nhất, là kỹ thuật được gọi là Lichtenstein : phương pháp này, nhằm, qua một đường xẻ ngoại khoa, gắn một cách chắc chắn và không gây căng prothèse en filet vào bề mặt của các cơ bị căng. Nhưng phương pháp này có thể là nguồn gốc của đau hậu phẫu, rồi mãn tính, bởi vì bề mặt cơ trên đó đặt prothèse có nhiều sợi thần kinh. Chúng sẽ bị kích thích do tiếp xúc với prothèse này hay do những chỗ khâu cố định nó. Trái lại, sự đặt một prothèse sau các cơ của lỗ bẹn, ở vào mặt sau của chúng (không được phân bố thần kinh), tránh được điều trở ngại này. Ta có thể tiến hành bằng hai cách : bằng caméra qua nội soi ổ bụng (3 lỗ nhỏ là đủ), hay bằng một đường xẻ tối thiểu ở bẹn với gây tê tại chỗ.
Hỏi : Kết luận của các ông ?
BS Philippe Ngo : Ngoại khoa thành bụng đã trở thành một chuyên khoa nói riêng trong những nước lớn của châu Âu, nhưng chưa ở nước Pháp. Chính vì vậy, chúng tôi đã thành lập Viện thoát vị (Institut de la hernie) với những thầy thuốc ngoại khoa có kinh nghiệm, chuyên nhất điều trị bệnh lý này.
(PARIS MATCH 21/9-27/9/2017)

8/ ĂN TỐT HƠN ĐỂ SỐNG LÂU HƠN
Tỷ lệ ung thư và các bệnh tim mạch được thu giảm và tuổi thọ tốt hơn trong những population theo chế độ ăn uống địa trung hải, so với những population mà sự tiêu thụ đường, muối, thịt và axit béo bảo hòa tăng cao (Bắc Âu, Hoa Kỳ). Một công trình nghiên cứu ở Hoa Kỳ, được thực hiện ở 121.000 y tá tuổi từ 30 đến 55 tuổi và 51.529 thầy thuốc tuổi từ 40 đến 75, vừa cho thấy rằng, trong 12 năm, những người đã cải thiện chất lượng của chế độ ăn uống của họ (nhiều hơn céréale complète, râu xanh, axit béo không bảo hoa, ít muối và đường hơn…) có một tỷ lệ tử vong toàn bộ giảm từ 15% đến 28% so với những người đã không thay đổi chế độ ăn uống gì cả !
(PARIS MATCH 28/9-4/10/2017)

9/ SUY TIM : VIỆC KHÔNG BIẾT LÀM CHẬM SỰ ĐIỀU TRỊ
GS Thibaud Damy, cardiologue và chủ tịch của GICC, phát động một chiến dịch thông tin
Hỏi : Suy tim là gì và tỷ lệ của nó ở Pháp ?
GS Thibaud Damy : Suy tim là một bệnh mãn tính trong đó tim không còn khả năng làm máu lưu thông đến các cơ quan, điều này tước mất oxygène và những chất dinh dưỡng mà chúng cần. Hơn một triệu người Pháp bị bệnh này (1,8% dân số), nguồn gốc của 165.000 trường hợp nhập viện mỗi năm và 70.000 tử vong.
Hỏi : Những nguyên nhân và những yếu tố làm dễ của suy tim ?
GS Thibaud Damy : Nguyên nhân chính là nhồi máu cơ tim (60% những trường hợp), tiếp theo là những bệnh làm thương tổn trực tiếp cơ tim (bệnh cơ, viêm, thâm nhiễm), các van hay điện tim (những rối loạn nhịp). Đái đường, cao huyết áp, rượu, thuốc lá, tăng thể trọng và nhàn rỗi không hoạt động là những yếu tố làm dễ.
Hỏi : Những dấu hiệu báo động và những biến chứng là gì ?
GS Thibaud Damy : 4 dấu hiệu chính là Epof : essoufflement (khó thở), prise de poids (lên cân), oedème (phù) và fatigue (mệt). Khi bơm tim suy, máu ứ trên thượng nguồn của thất trái : các áp lực gia tăng, trước hết trong những huyết quản của phổi, điều này làm biến đổi sự bắt giữ (captation) oxygène, do đó khó thở và đôi khi phù phổi. Ở một giai đoạn tiến triển hơn, cả hệ thống tĩnh mạch ở thượng nguồn của tim bị tăng gánh, làm lên cân quan trọng (đến 15 kilo), phù ở hai chân (không thể buộc dây giày), ở các cẳng chân, rồi đến tận bụng. Khó thở xuất hiện khi gắng sức (lên cầu thang), thậm chí lúc nghỉ ngơi. Mệt trở nên quan trọng. Sự trở nặng đột ngột của khó thở hay trọng lượng cần nhập viện cấp cứu. Một rối loạn nhịp tim, một tai biến mạch máu não, một ngừng tim đều có thể xảy ra. Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong của suy tim, cách nay 15 năm là 60% lúc 4 năm, hôm nay đã giảm rất rõ rệt, nhờ những điều trị mới và nếu như được điều trị sớm.
Hỏi : Tại sao Groupe insuffisance cardiaque et cardiomyopathies (GICC) mà ông là chủ tịch ở Société française de cardiologie rung chuông báo động ?
GS Thibaud Damy : Vi ba lý do : 1. Số những người suy tìm ở Pháp bị đánh giá thấp rất nhiều. Trong một cuộc điều tra mà chúng tôi đã thực hiện ở 5000 người tuổi từ 18 đến 80, tỷ lệ mắc bệnh là 3,6% (gấp đôi điều được chấp nhận). 2. 2,4% những người Pháp bị 4 dấu hiệu liên kết Epof, nhưng 64% thú nhận đã không đi khám một thầy thuốc chuyên khoa tim nào trong năm chúng xuất hiện do không biết về ý nghĩa của chúng ! Thật đáng tiếc bởi vì hôm nay chúng ta có những examen de dépistage được bồi hoàn bởi bảo hiểm y tá (xét nghiệm máu, siêu âm tim), cũng như những thuốc mới làm giảm tỷ lệ tử vong tim mạch 20% trong suy tim và làm chậm tiến triển ! Bệnh nhân càng được điều trị nhanh, tiên lượng càng tốt hơn ! 3. Sau cùng, cuộc điều tra của chúng tôi tiết lộ rằng 39% những người suy tim là những người từ 25 đến 59 tuổi, nạn nhân của một bệnh “vô hình” và gây phế tật mà những người thân luôn luôn không nhận thức, trong khi họ có một cuộc sống xã hội-nghề nghiệp tích cực.
Hỏi : Những trục lớn của điều trị ?
GS Thibaud Damy : Sự phối hợp của nhiều loại thuốc (thuốc chẹn beta giao cảm, những thuốc chống cao áp có tác dụng lên tim và lợi tiểu), một chế độ ăn uống ít muối, ít rượu và một hoạt động vật lý đều đặn vẫn là cơ bản của điều trị. Thường thêm vào là sự đặt một pacemaker hay một máy khử rung. Ghép tim liên quan đến dưới 500 bệnh nhân mỗi năm (những người nặng nhất và những người trẻ nhất)
Hỏi : Những mục tiêu của GICC ?
GS Thibaud Damy : Những mục tiêu của cùng tôi là thông tin dân chúng, những người hành nghề y tế qua các site của chúng tôi (giccardio.fr) và những journées d’information, giúp những dự án nghiên cứu, cải thiện sự điều trị các bệnh nhân.
(PARIS MATCH28/9-4/10/2017)

10/ HƯỚNG VỀ MỘT HÓA TRỊ ÊM ÁI HƠN.
Một loại thuốc, được trắc nghiệm ở chuột, đã chứng minh tính hiệu quả của nó để phòng ngừa những vấn đề tiêu hóa, rụng tóc và suy giảm miễn dịch do những điều trị chống ung thư
ONCOLOGIE. Những thầy thuốc người Úc hiệu chính loại thuốc đầu tiên có khả năng hạn chế những tác dụng phụ của hóa trị : rụng tóc, những vấn đề tiêu hóa, suy giảm miễn dịch. Những tác dụng phụ này là do các thuốc không những tấn công vào sự tăng sinh của các tế bào ung thư mà còn sự tăng sinh của những tế bào gốc của cơ thể.Kíp nghiên cứu của đại học Australie-Occidentale đã khám phá rằng một loại thuốc, quizartinib, có tác dụng làm nghỉ ngơi những tế bào gốc của tủy xương, nguồn gốc của những tế bào của máu và của hệ miễn dịch. Như thế chúng tránh được tác dụng có hại của các hóa trị. Ngoài ra điều trị này cho phép có thể phục hồi nhanh hơn. Được cho ở chuột, nó đã cho phép những con chuột này đề kháng với nhiều cycle de chimiothérapie điều trị bệnh bạch cầu. Quizartinib đã được dung nạp tốt trong một trắc nghiệm đầu tiên về độc tính ở người.
(SCIENCES ET AVENIR 10/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(9/10/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 447 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 515 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s