Thời sự y học số 446 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ UNG THƯ HỌNG : MỘT BỆNH LÂY NHIỄM BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC ?
Trong lãnh vực TMH, thuốc lá và rượu là nguy hiểm hơn papillomavirus.LARYNGOLOGIE. Vào năm 2013, lúc tiết lộ là mình đã mắc phải ung thư họng bởi vì đã thực hành sexe oral, diễn viên Hoa Kỳ Michael Douglas có lẽ đã gây lo ngại cho nhiều người cùng thời, đồng thời che dấu sự kiện là ông ta cũng hút thuốc và uống rượu ! Đối với GS renaud Garrel, trưởng Unité de cancérologie tête et cou-laryngologie ở CHU de Montpellier, ” quả đúng là ở Hoa Kỳ một sự tăng gấp ba số những trường hợp ung thư miệng-hầu (cancer de l’oropharynx) do một papillomavirus đã được báo cáo trong vòng 5 năm. Ở Pháp, mặc dầu không có những dữ kiện chính xác như vậy, nhưng nhiều thầy thuốc TMH cũng có cảm tưởng đang đối đầu với một trận dịch “.
Sự tự do tình dục phải chăng đã hoàn toàn tạo ra một ung thư mới ? ” ” Cái cảm tưởng rằng những ung thư miệng hầu đang bộc phát được giải thích bởi sự kiện là bây giờ ta biết cách phát hiện papillomavirus, điều này không phải như thế trước 2005, GS Garrel đã nói tiếp như vậy. Thế mà, khi ta tìm kiếm, ta sẽ tìm thấy ! Điều này làm chúng ta vững tin giả thuyết rằng ung thư họng do papillomavirus đã luôn luôn hiện diện, vì những nơi bị xâm nhập bởi virus rất là đặc thù : đó hoặc là những amygdale, hoặc là đáy lưỡi (ở tissu lympho-épithélial). Thế mà những vị trí này không phải là những vị trí mới của ung thư. Chúng đã được mô tả từ lâu ! Cuối cùng, rất có thể là một tỷ lệ ung thư tai mũi họng nào đó liên kết với papillomavirus đã luôn luôn hiện hữu nhưng không được biết đến.”
Đối với BS Philippe Gorphe, thuộc khoa ngoại ung thư đầu và cổ ở Viện Gustave-Roussy, ” ở Pháp, nơi sự tiêu thụ thuốc lá và rượu còn rất cao, chúng ta vẫn thấy một tỷ lệ lớn của những ung thư khẩu hầu do hai yếu tố nguy cơ này. Những ung thư khẩu hầu do papillomavirus chỉ từ 27% đến 40% trong đất nước chúng ta (vậy thiểu số) so với 60% đến 80% ở Hoa Kỳ, 75% ở Anh và 80% ở Thụy Điển, ở đây, về tỷ lệ, những ung thư tai mũi họng do thuốc lá ít gặp hơn “. Ý kiến được chia xẻ bởi GS Garrel : ” Có thể rằng những ung thư khẩu hầu, liên kết với sexe oral và/hoặc với sự gia tăng của các bạn đường phối ngẫu (partenaire sexuel), đang tiến triển. Nhưng những ung thư đã thật sự bùng nổ từ một thế kỷ nay là những ung thư liên kết với thuốc lá và điều đó giải thích tại sao các phụ nữ càng ngày càng bị liên hệ. Nguy hiểm thật sự là ở chỗ đó !”
Khi papillomavirus tự một mình nó gây một ung thư (ở người không hút thuốc, không uống rượu), đó là tình huống ít nghiêm trọng nhất. Khi papillomavirus là nguyên nhân gây bệnh, nhưng ung thư bộc phát ở một người hút thuốc và uống rượu, tiên lượng bị ảnh hưởng. Dầu sao vẫn tốt hơn là khi chỉ có thuốc lá và rượu là nguyên nhân đơn độc, bởi vì quá trình ung thư hóa xảy ra là ác tính nhất. ” Tỷ lệ sống còn lúc 5 năm là 85% trong trường hợp ung thư liên kết với papillomavirus đơn độc (70% trong trường hợp liên kết với chứng nghiện thuốc lá) so với 45% trong trường hợp ung thư do thuốc lá, rượu nhưng không có sự hiện diện của papillomavirus”, GS Garrel đã xác nhận như vậy. Yếu tố nguy cơ ít được biết khác : résine de cannabis ; trong trường hợp này, ung thư phát triển sớm hơn, thường trong khoảng lứa tuổi 40.
” Papillomavirus hay không, những signes d’appel của ung thư khẩu hầu là cổ điển, BS Gorphe đã ghi nhận như vậy. Thường nhất, đó là đau trong họng (viêm họng kéo dài) hay một hạch cổ, kích thước bất thường và dai dẳng, gây báo động. Mọi người, ngay cả trẻ tuổi (40, 50), khi nổi một cục hạch hay đau trong họng nhưng không biến đi trong 3 tuần, phải đi khám bệnh mặc dầu người này không hay ít hút thuốc.”Semaine européenne de sensibilisation aux cancers ORL sẽ diễn ra từ 18 đến 22 tháng 9 năm nay : đó có thể là cơ hội để tìm hiểu tốt hơn và khám bệnh trong một service tham gia vào chiến dịch này. Hoặc chẩn đoán được thực hiện bằng fibroscopie (u hóa cứng được phát hiện ở các amygdale hoặc đáy lưỡi), hoặc một scanner với tiêm thuốc cản quang. Khi đó một nội soi dưới gây mê tông quát được lên chương trình để thực hiện những sinh thiết và tìm kiếm một masse khác, điều này có thể được thấy khi ung thư được liên kết với thuốc lá. Nếu sinh thiết xác nhận ung thư, sự lựa chọn điều trị tùy thuộc vào mức độ lan rộng của nó, tình trạng của người bệnh và những thói quen của kíp điều trị. Cho mãi đến nay, sự xử trí dựa trên hoặc là một radio-chimiothérapie, hoặc trên phẫu thuật tiếp theo sau bởi radiothérapie (bởi vì các khối u liên kết với papillomavirus rất nhạy cảm với tia X).
Nhưng đối với GS Garrel, ” khuynh hướng mới là giảm thang điều trị khi ung thư có tiên lượng tốt, như đó là trường hợp của những ung thư liên kết với sự hiện diện duy nhất của papillomavirus”.
(LE FIGARO 18/9/2017)

2/ UNG THƯ HỌNG : PHÒNG NGỪA VÀ PHÁT HIỆN
Ta chẩn đoán mỗi năm 15.000 trường hợp mới ung thư đầu và cổ (cancer de la tête et du cou). 3000 trường hợp ở khẩu hầu (oropharynx) và khoảng 1000 là do các papillomavirus : họ virus này bao gồm khoảng 200 souche, trong đó vài souche cũng có liên quan trong sự xuất hiện của ung thư cổ tử cung, âm đạo, âm hộ, hậu môn và dương vật. ” Tình trạng mọi người đều biết mới đây về papillomavirus không được làm quên rằng đề phòng ngừa những ung thư họng nói chung, sự ngừng thuốc lá và uống rượu quá độ là những biện pháp được trả công hơn hết “, GS Renaud Garrel (Unité de cancérologie tête et cou-laryngologie, CHRU Montpellier) đã nhắc lại như vậy.
Dẫu sao, sự phòng ngừa nhiễm trùng papillomavirus là khá phức tạp bởi vì việc nhờ đến túi dương vật (préservatif) không bảo vệ chống lại papillomavirus ở những nơi khác với dương vật. Túi dương vật chủ yếu vẫn hữu ích để bảo vệ chống lại virus của sida (một suy giảm miễn dịch gia tăng nguy cơ ung thư khẩu hầu do papillomavirus). ” Ở một người trẻ chưa bắt đầu đời sống tình dục, câu hỏi được đặt ra là việc tiêm chủng để chống lại souche 16, liên hệ trong 80% những ung thư khẩu hầu, như điều đó đã được thực hiện để phòng ngừa những ung thư cổ tử cung ở phụ nữ, có hiệu quả không. Tuy nhiên, vào lúc này, không có đủ thời gian nhìn lại để biết được biện pháp này sẽ có hiệu quả hay không ” BS Philippe Gorphe (service de chirurgie oncologique tête et cou ở Viện Gustave-Roussy) đã nói như vậy. ” Sau cùng, những người nghĩ rằng họ được bảo vệ bởi vì họ đã từng được mổ cắt bỏ amygdale lúc còn trẻ trên thực tế không lợi được bao nhiêu, bởi vì tissu lympho-épithélial đã không bao giờ được lấy đi hoàn toàn “, GS Garrel đã xác nhận như vậy.
TỰ THEO DÕI TMH
Vấn đề phòng ngừa những nhiễm trùng do papillomavirus ở những người trưởng thành vậy không hẳn đã được giải quyết. ” Những người đã mắc phải nó thường hỏi chúng tôi virus đến từ đâu. Hoặc có lẽ rằng điều đó có từ lúc đầu của đời sống tình dục của họ. Người chồng có bị những nguy cơ và có phải thay đổi pratiques sexuelles không ? Theo rất ít những dữ kiện thế giới hiện có, dường như tỷ lệ hơi gia tăng ở người chồng, nhưng chỉ nếu như đôi lứa cùng chung nhau từ khi bắt đầu nhiễm papillomavirus. Vậy việc thay đổi pratiques sexuelles khi khám phá ung thư khẩu hầu lúc 40 hay 50 tuổi không được biện minh. Tiêm chủng cũng không còn lợi ích nữa ở giai đoạn này (nó phải được thực hiện trước khi bắt đầu đời sống tình dục). Cuối cùng, chủ yếu chính sự tự theo dõi TMH là dường như hữu ích nhất để bảo vệ người chồng, với một sự lập lại của các triệu chứng khiến cần phải có một ý kiến y khoa (đau họng và/hoặc hạch dai dẳng), BS Gorphe đã giải thích như vậy.
Còn về dépistage de masse, điều đó thuộc về những enjeu của những năm đến.
(LE FIGARO 18/9/2017)

3/ NHỮNG TRẮC NGHIỆM NƯỚC DÃI ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ HỌNG
Các nhà nghiên cứu mong muốn phát triển những trắc nghiệm nước dãi (test salivaire) bằng frottis, theo điều đã được thực hiện đối với ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên sự hiện diện của virus không đồng nghĩa với ung thư. Như GS Gorphe đã giải thích, ” khoảng 5% dân số đang bị nhiễm papillomavirus. Phần lớn những người này sau đó sẽ loại bỏ hoàn toàn virus. Một tỷ lệ rất nhỏ sẽ giữ một nhiễm trùng tiềm tàng mà không phát ung thư. Và một tỷ lệ còn nhỏ hơn sẽ phát ra một ung thư, những năm về sau. Vậy để những trắc nghiệm nước dãi có một lợi ích thật sự, không chỉ tìm kiếm ADN của virus, mà đúng hơn những marqueurs de cancérogenèse”. ” Những trắc nghiệm phát hiện những tế bào ung thư lưu thông trong máu liên kết với papillomavirus này có thể trở thành một công cụ chẩn đoán từ nay đến 5 hay 10 năm nữa”, GS Garrel đã xác nhận như vậy. Nho thế có thể phát hiện ung thư họng còn tốt hơn mà sự tiến triển đã làm chảy không biết bao nhiêu là mực !
(LE FIGARO 18/9/2017)

4/ ” TÔI BỊ 15 NGÀY KHÓ KHĂN, NHƯNG SỰ KHÓ CHỊU CÓ THỂ CHỊU ĐƯỢC “
Henry Gasse, 65 tuổi (vùng Béziers), có lẽ đã không tin là một ngày nào đó sẽ bị một ung thư của amygdale và điều đó cũng dễ hiểu :
” Tôi không hút thuốc và không uống rượu. Thế thì khi người ta bảo tôi chụp X quang họng vì bị đau dai dẳng và không giải thích được và khi một masse đã được phát hiện, thì cú sốc đã hơi đột ngột đối với tôi. Khi chẩn đoán ung thư được xác nhận bằng sinh thiết, trưởng khoa đã tiếp tôi đồng thời nói với tôi rằng loại ung thư này là nhạy cảm với radiothérapie và, do đó, rằng tôi có tất cả các cơ may ung thư sẽ thoái lui. Một điều trị bằng phẫu thuật được bổ sung bởi một radiothérapie được lên chương trình. Tính khí của tôi là muốn giải quyết tất cả càng nhanh càng tốt, do đó tôi đã mau chóng đi đến quyết định. Thầy thuốc chuyên khoa TMH đã giải thích với tôi rằng ông ta sẽ can thiệp bằng một robot để đi qua đường tự nhiên và do đó tránh những di chứng nặng nề.
” Một khi ngày mổ được ấn định, tôi nhập viện hôm trước và đã được mổ vào ngày hôm sau, với gây mê tổng quát. Sau đó tôi lưu lại 3 ngày ở phòng hồi sức trước khi trở về khoa TMH. Chỉ vào ngày thứ tư, người ta đã đề nghị với tôi một pot de yaourt (cấm nuốt bất cứ thứ gì trước đó) và kỷ niệm duy nhất mà tôi có, đó là điều đó rất gây đau ! Những bữa ăn tiếp theo đều được trộn. Ngoài cái đau lúc nuốt và do đó vào những bữa ăn, sự khó chịu có thể chịu được và cuối cùng có thể chấp nhận được so với mức độ nghiêm trọng của ung thư này, nếu tôi để nó tiến triển không phản ứng.
” Tin vui, đó là tôi đã không cần ngay cả radiothérapie bổ sung như được dự kiến ban đầu, can thiệp đã cho phép lấy đi toàn bộ khối u. Thế mà tôi đã sợ điều trị tia X này, nhất là có thể gây những di chứng trong thời gian dài hạn. Từ đó, quan niệm sống của tôi đã thay đổi nhiều : tôi bị ít stress hơn nhiều bởi những điều lo lắng bé nhỏ của cuộc sống hàng ngày ! Cũng như trước đây, nhưng bây giờ tôi sống tích cực hơn. Tôi cũng nổi tiếng là homme à femmes, bởi vì, trong cùng thời kỳ diễn viên Hoa Kỳ đã tiết lộ đã mắc phải một ung thư khẩu hầu bởi vì anh ta thực hành sexe oral và có nhiều bạn đường phối ngẫu. Điều đó đúng hơn làm tôi cười, tôi để anh ta nói ! ”
(LE FIGARO 18/9/2017)

5/ SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BỆNH LÂY NHIỄM BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC
Fanny Colard, thuộc Fédération des centres de planning familial des Femmes prévoyantes, chủ trương một phòng ngừa hiệu quả, vào giờ phút mà ta chứng thực sự gia tăng của vài bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục ở Bỉ.
Hỏi : Những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục thường gặp nhất là gì ?
Fanny Colard : Ngoài VIH/sida, ba bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục (IST) thường được chẩn đoán nhất ở Bỉ, như phần còn lại của châu Âu, là chlamydia, bệnh lậu (gonorrhée) và bệnh giang mai. Chúng được điều trị bằng kháng sinh, nhưng điều quan trọng là phát hiện chúng càng nhanh càng tốt và do đó đi khám bệnh càng nhanh càng tốt sau một giao hợp có nguy cơ. Những triệu chứng không xuất hiện tức thời và, trong vài trường hợp, như đối với chlamydia, đôi khi gần như không thấy.
Hỏi : Để phòng khỏi bị lây nhiễm, mang túi dương vật phải chăng là cách tránh duy nhất có hiệu quả ?
Fanny Colard : Vâng. Chỉ những túi dương vật ngoài (préservatif externe) (được gọi là “nam giới”) và trong (interne) (được gọi là “nữ giới”) là những cách bảo vệ hiệu quả chống bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục. Sự phối hợp lý tưởng cho một một hoạt động tình dục không ngần ngại là điều mà ta gọi là ” quy tắc 2 C ” : capote (túi dương vật) và contraceptif (thuốc ngừa thai). Những tuần qua truyền thông đã giới thiệu một cách bảo vệ mới : autocollant (sticker) đối với dương vật. Trái với một túi dương vật ngoài cổ điển, sticker không phủ tất cả dương vật, nhưng chỉ phủ kín đầu mút niệu đạo, qua đó người đàn ông phóng tinh. Nó được trình bày như là mang lại những cảm giác tự nhiên hơn khi giao hợp. Trái lại, mức độ tin cậy của sự bảo vệ, chống lại bệnh lây nhiễm đường sinh dục cũng như có thai ngoài ý muốn không được bảo đảm. Các nhà chế tạo không che dấu điều đó, nhưng thông báo sai về chủ đề có thể có những hậu quả nặng nề lên những người sử dụng sticker này.
Hỏi : Những pratique sexuelle đã tiến triển trong xã hội của chúng ta. Những pratique này có đóng một vai trò tích cực trong sự truyền những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục ?
Fanny Colard : Một cách gián tiếp, vâng. Sự khó mặt khắp nơi của nhục dục (sexualité) (quảng cáo, internet, sự tiếp cận dễ dàng với pornographie) làm nổi bật vài hành vi có nguy cơ. Với một sự thiếu thông tin hay những điều chỉ dẫn không đúng, dân chúng nói chung và những người trẻ nói riêng có thể nhận nhiều nguy cơ hơn và không có một bảo vệ lý tưởng hay ít nhất một cách không hệ thống hóa. Những cách truyền của những bệnh lây nhiễm đường sinh dục khác nhau còn không được biết rõ.
Hỏi : Làm sao trách nhiệm hóa một người bị bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục ?
Fanny Colard : Một “sự kiện linh tinh” đã là thời sự ở Pháp cách nay vài tuần : một người đã cố ý làm lây nhiễm virus HIV người bạn gái của mình, vì sợ cô ta bỏ anh ta…Nếu điều đó vẫn (chúng ta hy vọng điều đó) ít xảy ra, những trường hợp lây nhiễm không tự ý, ví dụ do không được phát hiện hay do một sự phát hiện quá muộn, phải được phát hiện. Điều quan trọng là cần nhắc lại cho tất cả mọi người rằng một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục có liên quan không những người bị bệnh mà còn cho người bạn đường phối ngẫu. Vậy một sự phát hiện, một sự điều trị và một sự phòng ngừa là có lợi đối với tất cả những bạn đường phối ngẫu, chứ không chỉ đối với người bị bệnh. Trong trường hợp này, chẩn đoán là chủ yếu. Về tình dục, cũng như trong tất cả những lãnh vực của đời sống hàng ngày, mỗi người cần đóng một vai trò : hai bạn đường phối ngẫu không những có liên quan trong việc bảo vệ chống lại những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục mà còn trong việc chống lại những thai nghén ngoài ý muốn.
(PARIS MATCH 21/9-27/9/2017)

6/ BỆNH LÂY NHIỄM BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC : HÃY BẢO VỆ LẤY MÌNH !
Những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục được truyền khi giao hợp không bảo vệ và/hoặc bằng đường máu (thí dụ qua những ống tiêm bị ô nhiễm), thậm chí bằng dụng cụ không được khử trùng tốt (soins dentaires, nội soi…). Để truyền qua đường sinh dục, chỉ cần các niêm mạc của các cơ quan sinh dục bị tiếp xúc là đủ để mắc bệnh, dầu đó là bằng đường âm đạo, hậu môn hay miệng. Trong tất cả các trường hợp, nguy cơ truyền bệnh rất là cao. Vài bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục được truyền chỉ do tiếp xúc mà không nhất thiết phải có giao hợp : đó là trường hợp của các verrues génitales. Những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục làm yếu các niêm mạc, vậy cũng có nhiều nguy cơ hơn truyền bệnh sida.
NHỮNG TRIỆU CHỨNG.
Những triệu chứng của các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục hoặc là rất kín đáo (và do đó không dễ nhận diện), hoặc có thể thấy được. Những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục gây những nhiễm trùng ở những cơ quan sinh sản cũng như trên da quanh âm đạo, dương vật hay hậu môn. Vài bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục gây những triệu chứng toàn thân, tạo những vấn đề trong những phần khác của cơ thể. Vậy ta có thể có một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục mà không có những hậu quả có thể nhìn thấy và truyền bệnh mà không biết điều đó. Nếu bạn nhận xét những chất dịch bất thường chảy ra từ dương vật hay từ âm đạo ; những cảm giác rát lúc đi tiểu ; những vết thương bất thường và hoặc ngứa ngáy, chủ yếu ở những cơ quan sinh dục , đau ở các cơ quan sinh dục và/hoặc đau bụng ; sau cùng, đối với các phụ nữ, đau trong khi giao hợp, bạn phải đi khám bệnh và một thầy thuốc sẽ tiến hành một trắc nghiệm phát hiện bệnh (test de dépistage).
(PARIS MATCH 21/9-27/9/2017)

7/ SỨC KHỎE SINH DỤC BẢO VỆ ĐỜI SỐNG ?

Docteur Antoine Faix
Urologue et sexologue (Montpellier)
Responsable du Comité d’andrologie et
de médecine sexuelle de l’Association française d’urologie

Trong médecine sexuelle, điều quan trọng là cần phải xét đến những nhu cầu và những chờ mong của bệnh nhân, và nhất là của đôi lứa. Từ nay ta biết rằng những bệnh tim mạch (đau thắt ngực, cao huyết áp, tăng cholestérol huyết, nhồi máu cơ tim, đái đường) chịu trách nhiệm những rối loạn sinh dục (trouble sexuel) ở đàn ông (những rối loạn cương) nhưng cũng ở phụ nữ (những rối loạn bôi trơn âm đạo với rối loạn nhục dục và khoái lạc cực độ).
Do đó, xử trí những rối loạn sinh dục dĩ nhiên là phải cải thiện chất lượng của đời sống sinh dục (vie sexuelle) của bệnh nhân, nhưng cũng điều trị và xử trí những yếu tố nguy cơ tim mạch của những bệnh nhân của chúng ta (điều trị cao huyết áp và mọi vấn đề tim, phát hiện và cân bằng bệnh đái đường, điều trị một hyperlipidémie, cai thuốc lá hay rượu, kiểm soát trọng lượng, tái tục hoạt động thể thao).
Thật vậy, đã được chứng minh trên phương diện y khoa rằng những tai biến tim nặng thường được đi trước bởi những rối loạn sinh dục và, nhất là đối với người đàn ông, loạn năng cương (dysfonction érectile). Hệ luận là, các bệnh nhân, nhưng cũng các thầy thuốc, phải chú ý đến tình dục (sexualité) ; như thế sự loạn năng cương của người đàn ông trên 50 tuổi với những yếu tố nguy cơ tim mạch có thể là một triệu chứng tiền tiêu (symptôme sentinelle) cần phải xét đến, mặc dầu cũng có những nguyên nhân kích thích tố, tiền liệt tuyến, thần kinh, thậm chí do điều trị (sử dụng vài loại thuốc hay những can thiệp ngoại khoa nhằm vào vùng chậu).
Ý niệm đôi lứa cũng có thể có tính chất bảo vệ, bởi vì các phụ nữ có culture de dépistage hơn, nhất là bằng sự theo dõi phụ khoa, và có thể khiến chồng đi khám bệnh và trình bày vấn đề của mình, thường quan trọng và bị che dấu, sau một rối loạn cương, với những yếu tố quan hệ và tâm lý (nhất là dépression), thứ phát phản ứng stress, sinh ra bởi sự thất bại rồi bởi sự sợ thất bại !
ĐIỀU TRỊ KÍCH THÍCH TỐ
Vậy sự xử trí một rối loạn cương phải luôn luôn toàn bộ, và cố nhận diện những nguyên nhân và nếu có thể, điều trị chúng hay cải thiện chúng, dầu chúng là y khoa, tâm lý hay do thuốc, cùng với médecin référent và, nếu cần tùy theo tình huống, cũng bởi một hay nhiều thầy thuốc chuyên khoa (sexologue, nieu khoa, tâm thần, nội tiết học, tâm lý học, thần kinh học..). Một vấn chẩn cẩn thận, một thăm khám lâm sàng chăm chú và những thăm dò phụ là cần thiết trước khi điều trị.
Một khi được điều trị, bối cảnh toàn bộ của bệnh nhân (kiểm soát những yếu tố nguy cơ tim mạch, thay đổi hay hủy bỏ những điều trị thuốc, theo kèm tâm lý bệnh nhân), những chất ức chế phosphodiestérase 5 (Viagra, Levitra, Cialis, Spedra) thường là điều trị de première intention, với vài khác biệt trong tính chất nhanh chóng, sự xuất hiện khả dĩ của những tác dụng phụ hiền tính và thời gian hiệu quả tùy theo bệnh nhân và các loại thuốc. Tính hiệu quả trung bình là 75% với một thời gian điều trị rất thay đổi, tùy thuộc vào contexte médical và psychologique.
Trong trường hợp không hiệu quả hay trong trường hợp bệnh nhân ưa thích hơn, những điều trị tại chỗ sẽ được xét đến với prostaglandine El urétrale (Vitaros, Muse), vacuum (hệ thống gây giảm áp âm để cho phép cương cũng bằng hút máu tĩnh mạch) và những mũi tiêm prostaglandine El urétrale vào trong caverne (Edex, Caverjet) ; để thực hiện những mũi tiêm này cần một trắc nghiệm lúc khám bệnh và bệnh nhân học cách thực hiện ở nhà trước khi bắt đầu điều trị. Trong trường hợp thiếu hụt kích thích tố, một điều trị thay thế sẽ được xét đến.
Tất cả những điều trị này cần một sự theo dõi để thích ứng chúng, thay đổi chúng nếu cần, luôn luôn với ý nghĩ về thời gian điều trị đối với bệnh nhân. Trong những trường hợp loạn năng cương do nguyên nhân thực thể, nhất là ở bệnh nhân đái đường thâm niên, sau điều trị một ung thư tuyến tiền liệt hay trong trường hợp những bệnh tim mạch quan trọng, thường có một sự thay đổi dần dần của những điều trị về hướng hiệu quả hơn vì nhu cầu điều trị ; khi những mũi tiêm vào thể hang (injections intracaverneuses) không hay không còn hiệu quả nữa, cần bàn bạc với thầy thuộc về khả năng thực hiện một implant pénien. Đó là bằng phẫu thuật đưa vào bên trong những cylindre có thể bơm phồng.
Can thiệp này sẽ phục hồi sự cương cứng với hơn 4 đàn ông trên 5 thỏa mãn và khá năng khoái lạc đối với bệnh nhân và bạn đường phối ngẫu. Cái khó đối với thầy thuốc là tìm những chữ để làm chấp nhận một can thiệp ngoại khoa chỉ mang lại một sexualité hài hòa cho bệnh nhân và đối với bệnh nhân, cái khó là tìm kíp mổ được huấn luyện loại can thiệp này.
Trong tương lai gần, những điều trị mới sẽ được phát triển, nhất là với những onde de choc đang được nghiên cứu, nhưng cũng thérapie cellulaire nhằm tiêm những tế bào gốc được gọi là “sửa chữa” (cellules souches répératrices)”. Vậy tương lai là quang đãng với một palette de traitements kể cả ngoại khoa, cũng như sự điều trị toàn bộ trên bình diện y khoa và tâm lý.
(LE FIGARO 18/9/2017)

8/ MỘT VI KHUẨN ĐÚNG LÀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG
” Streptococcus gallolyticus” có tính chất độc nhất vô nhị là kích hoạt sự phát triển của những ung thư đại tràng.Tội phạm ! Các nhà nghiên cứu của đại học Texas (Hoa kỳ) đã bắt quả tang một vi khuẩn đang khích động sự tăng sinh của các tế bào của ung thư đại tràng, ung thư đứng thứ hai về mặt tỷ lệ tử vong trong các nước phát triển sau ung thư phổi. Từ hơn 40 năm nay, Streptococcus Gallolyticus làm cho giới nghiên cứu y học phải suy nghĩ, bởi vì thường hiện diện trong máu hay tim của những bệnh nhân bị ung thư đại tràng. Tuy vậy, phần lớn các bệnh nhân dường như không bị nhiễm bởi vi khuẩn này. Vào năm 2010, những nghi ngờ đã siết chặt lại khi vi khuẩn này được tìm thấy trong những ung thư đang tạo biểu mô ruột.
Cùng năm, séquençage génome của vi khuẩn đã cho phép rút ra từ nó những thông tin chủ yếu : vi khuẩn được trang bị bởi những gène cho phép nó dính và luồn lách trong các mô… điều này giải thích sự hiện diện của nó trong các mô ruột và đôi khi năng lực xâm thực tim của nó.Ngoài ra vi khuẩn này càng hiện diện trong những ung thư đại trực tràng khi những ung thư này ở một giai đoạn tiến triển. Phải chăng tác nhân gây bệnh này đúng là có một sự ưa thích hơn đối với mọi trường đặc biệt này, trong đó nó đóng một vai trò tích cực hơn trong sự tiến triển của ung thư ?
Từ này các nhà nghiên cứu của Texas có câu trả lời : trong tạp chí PLoS pathogens họ cho thấy rằng vi khuẩn có tính chất duy nhất kích động sự phát triển của các ung thư đại tràng ! Như thế nào ? Trước hết bằng cách kích thích sự tăng sinh của các dòng ung thư người in vitro. Để làm được điều đó, nó phát khởi những tín hiệu trong tế bào để hướng định những tế bào ruột trên đường ung thư. Sau đó, nó gia tăng số lượng và kích thước của các khối u khi nó được hấp thụ đều đặn ! Điều này đã được chứng minh trên chuột bị một ung thư đại tràng. Khi các nhà nghiên cứu chuyển về các bệnh nhân, phần lớn những bệnh nhân này có đúng loại vi khuẩn hiện diện trong các ung thư ruột. Nhưng trái với Fuseibacterium nucleatum có một thời bị nghi ngờ, Streptococcus gallolyticus chỉ làm tăng sinh môi trường khối u : nó tạo môi trường đồng thời gia tăng sự tiến triển của mô ung thư !
NHỮNG KHÁNG SINH ĐỂ TIỆT TRỪ STREPTOCOQUE
Nếu giả thuyết về một vai trò quan trọng của tác nhân gây bệnh này trong ung thư đại trực tràng được xác nhận, đó sẽ là một thí dụ thứ hai về ung thư được gây nên bởi một vi khuẩn sau ung thư dạ dày do Helicobacter pylori. Nhiều axe de lutte khi đó có thể được xét đến để làm giảm tần số của ung thư đại tràng, như điều đó đã được thực hiện thành cộng với ung thư dạ dày. Những kháng sinh có thể tiệt trừ một cách đặc hiệu streptocoque này, hiện diện một cách tự nhiên trong microbioté của khoảng 10% dân số. Một test de dépistage trong các sinh thiết và ngay cả máu cũng sẽ cho phép hướng định sớm hơn cuộc đấu tranh chống lại ung thư này.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2017)

9/ UNG THƯ, DO TÌNH CỜ CỦA CÁC BIẾN DỊ
Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã đánh giá phần”tình cờ” trong sự xuất hiện những ung thư. 2/3 sẽ do những biến dị di truyền. Một giả thuyết gây tranh cãi.
Bị ung thư là lỗi…của sự không có may mắn ! Ít nhất, nếu ta tin những tác giả của một công trình nghiên cứu được công bố bởi tạp chí Science vì lẽ họ đã đưa ra giả thuyết rất được tranh cãi này năm 2015. Nếu lần này lời nói được đắn đo hơn, kết quả vẫn như thế : 14 triệu ung thư được khai báo mỗi năm trên thế giới trong đó 2/3 là do những biến dị di truyền…trong khi đó nói chung công tác nghiên cứu lại tập trung vào những yếu tố môi trường hay di truyền. Thế mà kíp nghiên cứu của đại học John Hopkins của Baltimore (Hoa kỳ) đã đánh cuộc khi tính phần tình cờ này. Để đi đến kết luận rằng nó chịu trách nhiệm 66%.Ảnh hưởng của môi trường (thuốc lá, rượu, nhiễm trùng…) chỉ đóng một vai trò trong 29% những trường hợp, trong khi di truyền (hérédité) chỉ “cân nặng” 5%. Chú ý ! ” Điều đó không có nghĩa rằng 2/3 những ung thư là do một sự không may mắn (malchance) mà con người không có ảnh hưởng nào “, tuy nhiên các tác giả đã xác nhận như vậy, cẩn thận hơn so với những lời nói trước đây
Để hiểu những con số này, phải trở lại những nguồn gốc sinh học của ung thư : tại sao một tế bào lành mạnh biến đổi thành một tế bào ung thư (carcinogenèse) ? Đối với những người theo piste génétique, điều đó chủ yếu là do những biến dị xảy ra trong tế bào và khiến tế bào tăng sinh một cách vô tổ chức. ” Trung bình cần có 3 đến 8 biến dị di truyền để phát khởi một quá trình ung thư “, BS Charles Ferté, thầy thuốc ung thư và nhà nghiên cứu ở Viện Gustave-Roussy ở Villejuif (Val-de-Marne) đã xác nhận như vậy. Ông nói rằng ” vài vùng của génome sinh ung thư (oncogène) hơn những vùng khác “. Như thế nguy cơ lớn hơn khi gène hay những gène biến dị tham gia vào sự kiểm soát của tăng trưởng tế bào. Những biến dị này có thể được thừa kế, được phát khởi bởi một yếu tố môi trường, hay can thiệp vào sự đổi mới của những tế bào bởi cơ thể. Bởi vì những tế bào này, với số lượng 100.000 tỷ của 250 loại khác nhau (phổi, máu…) trong thân thể con người, phải giải quyết 20 tỷ tế bào bị mất mỗi ngày. Để đảm bảo sự thay thế này, mỗi cơ quan hay mô có những tế bào gốc hoạt động bằng phân chia, mục đích là sao chép y hệt . Nhưng có thể lẩn vào trong cơ chế này những “sai lầm” (những biến dị di truyền) đó tình cờ, thêm vào đó là những yếu tố di truyền (tiếp xúc với tia tử ngoại, với thuốc lá…), tạo điều kiện cho những bất thường này. Đó là không kể ta cũng có thể sinh ra với những biến dị nguy cơ (mutations à risque) được nhận diện rõ như là những biến dị xảy ra trên những gène BRCA 1 và 2, những yếu tố nguy cơ di truyền quan trọng của những ung thư vú và buồng trứng.
KẾT QUẢ ĐƯỢC CĂN CỨ TRÊN MỘT MODELE THỐNG KÊ
Một cách cụ thể, các tác giả của công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng nguy cơ ung thư trong một cơ quan nhất định tương quan mạnh với số phân chia tế bào trong cơ quan đó. Để chứng minh điều đó, họ đã thu thập những dữ kiện của 17 loại ung thư trong 69 nước (trong đó có nước Pháp) cũng như những dữ kiện về tần số đổi mới của những tế bào trong các mô bị ảnh hưởng. Và đó là một modèle thống kê, được xây dựng tu tổng của những dữ kiện này, đã cho phép họ xác lập rằng 2/3 những biến dị có liên quan trong các ung thư là do sự đối mới tự nhiên của các tế bào. Hoặc gần cùng kết quả được công bố năm 2015.
Công trình nghiên cứu đầu tiên năm 2015 đã rất bị chỉ trích, nhất là đối với những vấn đề méthodologie : các tác giả đã chỉ thu thập những dữ kiện ở Hoa Kỳ, đồng thời loại trừ những ung thư thường gặp nhất (vú và tiền liệt tuyến). Lần này sự không chính xác được sửa chữa. Nhất là tài liệu xuất bản sử dụng expression “malchance” (bad luck), khiến hiểu rằng sự phòng ngừa chống lại những yếu tố nguy cơ được biết không có ảnh hưởng lên phần lớn các ung thư. ” Thế mà điều đó là sai, Charles Ferté đã nhắc lại như thế. Bởi vì nếu 5 biến dị nguy cơ là do những sai lầm trong sao chép ADN, sự kiện tránh biến dị thứ 6, gây nên bởi thuốc lá và những tia tử ngoại, thí dụ, đúng là cho phép không bị ung thư ! ”
Do đó lần này các tác giả Hoa Kỳ đã cẩn thận định rõ rằng 89% những ung thư phổi đáng lý ra có thể tránh được nếu các bệnh nhân đã không bị tiếp xúc thuốc lá. Nhưng những tác giả này vẫn cho rằng những biến dị liên quan trong các ung thư não, tiền liệt tuyến hay xương 95% là do những sai lầm trong sao chép. Tỷ lệ này đạt 77% trong ung thư tụy tạng, chỉ 18% những biến dị liên quan là liên kết với những yếu tố như thuốc lá hay rượu và 5% với di truyền.
MỘT CÁI NHÌN RẤT CƠ HỌC VỀ SINH UNG THƯ.
Phần “loterie génétique” này không làm ngạc nhiên BS Catherine Hill, phụ trách khoa dịch tễ học và phòng ngừa ở Gustave-Roussy : ” Thí dụ chúng tôi chẩn đoán ung thư đại tràng 20 lần nhieu hơn ung thư ruột. Thế mà, ung thư đại tràng có các tế bào goc hại lần nhiều hơn ung thư ruột non.” Tuy nhiên nhà dịch tễ học tỏ ra dè dặt về công trình nghiên cứu Hoa Kỳ. ” Công trình này phát xuất từ một cái nhìn rất cơ học về sự phát sinh ung thư, đi từ nguyên tắc rằng quá trình bắt đầu sau hai hay ba biến dị. Thế mà một biến dị nguy cơ rất có thể được điều chỉnh trước khi một biến dị khác xuất hiện “, nhà chuyên gia đã giải thích như vậy. Bà nhắc lại rằng để được điều đó, génome có những “công cụ” tự điều chỉnh. Đối với Pascal Pujol, trưởng khoa oncogénétique của CHỦ đề Montpellier, ” công trình nghiên cứu đáng quan tâm, bởi vì câu hỏi “tại sao” có ở tất cả các bệnh nhân. Thế mà đôi khi khó giải thích rằng một ung thư có thể xuất hiện ngoài mọi yếu tố nguy cơ được biết.”
Nhưng đối với Charles Ferté, sự đo lường thống kê quên một điều quan trọng : ” Có lẽ một ngày nào đó chúng ta sẽ khám phá rằng sự tình cờ này không phải là một.” Tình cờ thường chỉ là một danh từ để chỉ sự không biết…
(SCIENCES ET AVENIR 5/2017)

10/ 27,7 % NHỮNG THẦY THUỐC TRẺ CỦA PHÁP BỊ TRẦM CẢM
Psychiatrie. Công trình nghiên cứu được yêu cầu bởi 4 nghiệp đoàn sinh viên được thực hiện trên 22.000 thầy thuốc thực hành trẻ, từ externat đến clinicat. 66,2% khai bị lo âu (anxiété) và 23,7% đã từng có những ý nghĩ tự tử (idées suicidaires). Cần ghi nhận rằng 54,7% những người được hỏi đã không bao giờ đi khám thầy thuốc lao động (médecin du travail).
(SCIENCES ET AVENIR 7/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/10/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 446 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 533 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s