Thời sự y học số 444 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ NHỮNG RỐI LOẠN KHỨU GIÁC : ĐỪNG DO DỰ ĐI KHÁM BỆNH.
Có hơn 60 nguyên nhân khả dĩ của căn bệnh rất phế tật này.
ODEURS. Có gì bình thường hơn khi đi khám bệnh vì giảm thị lực hay vì tai nghe kém…? Tuy vậy, không là như thế đối với mất khứu giác hay vị giác. Vả lại không có công trình nghiên cứu nào cho phép biết tỷ lệ mắc bệnh thật sự. Thế mà ta ước tính rằng 10% những người trưởng thành bị liên hệ bởi một giảm khứu giác (hyposmie) hay mất khứu giác (anosmie). Hoặc khoảng 5 triệu người ở Pháp.Sự tri giác mùi là một bộ máy phức tạp. Những thành phần bay hơi (molécules odorantes) được phóng thích trong không khí sẽ kích thích những thụ thể (cellules détectrices) của biểu mô khứu giác (épithélium olfactif), trong phần cao của các hố mũi (fosses nasales), nối với hành khứu (bulbe olfactif), ở đáy não, và với những vùng não khác có liên quan trong trí nhớ và những xúc cảm.
Nhưng khứu giác cũng góp phần cho vị giác. Theo nghĩa hẹp, vị giác tùy thuộc các gai vị giác (papilles gustatives), ở phía sau lưỡi, chỉ nhận biết 5 vị khác nhau : đường (sucré), mặn (salé), ngọt (doux), đắng (amer) và unami (sauce soja). Một thụ thể thứ 6, đối với mỡ, còn được bàn cãi. Những cam giác tinh tế hơn, như “vị giác” fraises, thật ra phát xuất từ những flaveur do sự phóng thích trong miệng những hợp chất bay hơi (composés volatils), lên phía sau của màng hầu (voile du palais) kích thích những thụ thể khứu giác (récepteurs olfactifs). Như thế, trong phần lớn các trường hợp, sự mất khứu giác được kèm theo một sự mất vị giác. Những thương tổn vị giác đơn độc hiếm khi xảy ra.
Khám Tai Mũi Họng, thăm dò mũi bằng nội soi mềm có thể hướng về nguồn gốc của thương tổn. Sự đánh giá mất khứu giác bằng những trắc nghiệm mùi (test d’odeurs) cho phép xác lập ngưỡng tri giác (seuil de perception), khả năng nhận diện chúng và phân biệt chúng.” Mặc dầu rất hữu ích cho chẩn đoán và theo dõi, nhưng chúng chỉ được thực hiện trong vài khoa chuyên môn “, GS Roger Jankowski, chirurgien ORL (CHU Nancy) đã giải thích như vậy.
Trong số 60 nguyên nhân khả dĩ, 4 giải thích 90% những trường hợp mất khứu giác. Thường gặp nhất là mất khứu giác sau viêm mũi do virus. ” Vài trong số nhiều virus của cúm có một tropisme đối với các neurone và có thể phá hủy cơ quan khứu giác trong giai đoạn cấp tính của nhiễm trùng. Sau cúm, tất cả trở lại bình thường, ngoại trừ khứu giác, nhưng người ta nghĩ rằng đó là điều tạm thời và thường đi khám bệnh rất muốn”, GS Pierre Bonfils, chirurgien ORL (HEGP, Paris) đã giải thích như vậy.
Nhưng mất khứu giác sau viêm mũi do virus xảy ra trong 60 % những trường hợp của những phụ nữ từ 50 đến 65 tuổi. Một nửa là giảm khứu giác (hyposmie) và nửa kia là mất khứu giác (anosmie). ” Không có điều trị. Trong trường hợp giảm khứu giác, khứu giác thường trở lại bình thường trong 12 đến 36 tháng bởi vì biểu mô khứu giác sẽ đổi mới.” Sự kích thích khứu giác do nhận biết mùi dường như làm dễ sự tái sinh này. ” Nhưng một nửa những trường hợp mất khứu giác là vĩnh viễn và đó đó kèm theo một sự mất gần như hoàn toàn của vị giác. Tác động tâm lý của mất khứu giác là quan trọng : 50% những bệnh nhân này bị trầm cảm “, thầy thuốc ngoại khoa đã chỉ như vậy.
Nguyên nhân khác của mất khứu giác, polypose nasale, sự ứ tiết của các hố mũi bởi những polypes, gây bệnh cho 3-4% những người trưởng thành. ” Các corticoides oraux với liều trong một tuần làm tan những polype này và thường phục hồi khứu giác. Nhưng không nên vượt quá 2-3 cure mỗi năm vì những tác dụng phụ của các corticoide. Dùng dài lâu corticoides locaux và rửa các hố mũi phải bổ sung những cure này, nếu không những polype sẽ mọc trở lại, GS Bonfils đã chỉ như vậy. Nếu điều đó không đủ, một chirurgie endonasale có thể làm giảm thể tích của các polype.” Sau can thiệp, 30% bệnh nhân tìm thấy lại một khứu giác chất lượng, 30% với một khứu giác dao động và 30% vẫn mất khứu giác.
” Trên quan điểm tiến hóa, mũi là một tập hợp của 3 cơ quan : một mũi khứu giác, một mũi hô hấp và những xoang quanh mũi, GS Jankowski đã nhắc lại như vậy. Từ đó tầm quan trọng của một chẩn đoán chính xác trên mỗi trong 3 cơ quan này.”
Sự lão hóa cũng gây nên một cách không tránh được một giảm khứu giác rồi một mất khứu giác.” Ở những người rất già, 70 đến 80% những neurone của dây thần kinh và của hành khứu giác biến mất : 75% những người trên 80 tuổi không còn có khứu giác nữa. Nhưng sự mất này, cũng như đối với thính giác, diễn ra dần dần và không được nhận biết “, GS Bonfils đã nhấn mạnh như vậy. ” Presbyosmie” này có lẽ có liên quan trong mất cảm giác ngon miệng và tình trạng kém dinh dưỡng của những người già.
Trong trường hợp chấn thương sọ, nhưng rối loạn khứu giác do một máu tụ có thể biến mất trong 3-4 tháng. Nhưng trong 5-15% những chấn thương này, sự cắt của các tận cùng thần kinh ở xương sàng (ethmoide) gây một mất khứu giác vĩnh viễn.
” Những mất khứu giác này có thể có những nguyên nhân khác : suy thận hay gan, tiếp xúc nghề nghiệp, u não hiền tính,…Nhưng 20% những mất khứu giác vẫn không nhận diện được nguyên nhân. Từ đó tầm quan trọng của việc làm tiến triển thêm nữa những công cụ chẩn đoán của chúng ta”, GS Philippe Rombaux (UC Louvain, Bỉ) đã đánh giá như vậy.
(LE FIGARO 26/6/2017)

2/ HIỂU TỐT HƠN VÀ CHẨN ĐOÁN TỐT HƠN
Các mùi, các nước hoa có một âm vang xúc cảm mạnh, được thể hiện rộng rãi trong văn chương. Điều đó được giải thích một phần lớn bởi sự che phủ, ở não, của những vùng xử lý những thông tin khứu giác với những vùng chi phối những quá trình của trí nhớ và của những cảm xúc, như système limbique. Vậy, sự nhận biết, màu sắc tình cảm của các mũi và tình trạng tâm lý liên kết chặt chẽ với nhau.
Nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh trạng thái trầm cảm của nhiều người mất khứu giác (anosmique). ” Ngược lại, chúng tôi đã phát hiện rằng những người trầm cảm tri giác những mùi ít dễ chịu hơn so với những người chứng không trầm cảm, và phân biệt nhưng mùi khó chịu tốt hơn những mùi dễ chịu. Sau điều trị bệnh trầm cảm, sự phục hồi trước hết nhằm vào những mùi có thành phần hoang lạc (hédonique) mạnh”, Boriana Atanasova, nhà nghiên cứu neurosciences (đại học Tours) đã giải thích như vậy. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành trong rối loạn lưỡng cực. ” Chúng tôi cũng tìm cách nhận diện những chỉ dấu phân biệt giữa trầm cảm và giai đoạn sớm của bệnh Alzheimer, cưỡi lên nhau. Trong bệnh Alzheimer, những khác nhau dường như hướng về sự ghi nhớ những mùi mới, vậy mémoire de travail, trong khi ở những người trầm cảm, trí nhớ về những mùi xưa cũ bị ảnh hưởng hơn.”
CÁC ĐIỆN CỰC TRÊN SỌ
Những tiến bộ trong xử trí những rối loạn khứu giác cũng tùy thuộc vào những tiến bộ của các công cụ chẩn đoán. Nếu những trắc nghiệm tâm-vật lý để nhận biết các mùi và, khi cần thiết, scanner hay IRM thường cho phép nhận diện nguyên nhân của chúng, nguyên nhân vẫn không được tìm thấy trong 20% anosmie. ” Chính trong những tình huống ấy mà kỹ thuật potentiel évoqué olfactif có thể hữu ích”, GS Philippe Rombaux, mà khoa TMH ở Louvain của ông là một trong kha hiếm trên thế giới có công cụ này, đã giải thích như vậy. Máy phát ra ở mũi của bệnh nhân những mùi nhất định, và những phản ứng của vỏ não được theo dõi nhờ những điện cực đặt trên sọ.” Ta có thể làm trắc nghiệm này với những mùi sẽ kích thích một cách chọn lọc hành khứu (bulbe olfactif), hay những mùi khác đi qua một đường thần kinh khác, con đường của dây thần kinh tam thoa (nerf trijumeau). Trắc nghiệm này rất hữu ích, thí dụ trong trường hợp chấn thương, nhưng nó cũng có một giá trị tiên lượng, vì lẽ nhưng cơ may phục hồi tùy thuộc vào sự hiện hữu của một đáp ứng não.”
” Chúng tôi đang hiệu chính những máy đơn giản hơn, cho phép phổ biến kỹ thuật này.” Một thăm dò khác, bằng cộng hưởng từ hạt nhân, cũng cho phép đánh giá tiên lượng phục hồi bằng cách đo thể tích của hành khứu.
(LE FIGARO 26/6/2017)

3/ CAROLINE : ” NHƯ THỂ TÔI KHÔNG HOÀN TOÀN…”
Ở tuổi 53, Caroline không thể nào quên được sự đột ngột khi cô biết rằng mình đã đánh mất khứu giác và vị giác. ” Điều đó xảy ra cách nay 4 năm. Tôi đã bị cúm. Tôi thường có thói quen uống trà, luôn luôn cùng một loại. Một hôm, tôi chuẩn bị một tách trà, tôi uống…Trà có một vị cỏ khô, hôi thối.Tôi bắt đầu pha trà lại…Cũng tương tự. Từ giờ này qua giờ khác tôi đã đánh mất vị giác và khứu giác. Tôi đi khám bệnh. Thầy thuốc bảo tôi rằng điều đó sẽ trở lại…”
Vài tuần sau,Tai mũi họng kê đơn cho tôi một thăm dò để loại bỏ những bệnh khác và rửa xoang nhưng không hiệu quả. ” Người ta đã không bao giờ nói rằng tôi bị mất khứu giác”. Tôi tự chẩn đoán lấy, và có vẻ tôi không phải là người duy nhất…”
” MỘT HƯ VÔ BUỒN CHÁN ” (UN NEANT D’ENNUI)
Hết sức không may, Caroline lại tiếp tục nghề làm bếp trước đây, với người bạn, traiteur (người bán đồ ăn đất trước). Cô phụ trách về quản lý, nhưng cũng giúp sản xuất. ” Thật là kinh khủng. Tôi biết rõ nghề nghiệp, nhưng tôi buộc làm việc gần như mù, mặc dầu bạn tôi kiểm soát tất cả. Do đó tôi bị stress vật lý và tâm lý kinh khủng…” Cô ta quyết định nghỉ việc. Không tính đến những bữa ăn gia đình, nghề nghiệp, đè nặng khủng khiếp. ” Ta muốn trốn chúng. Ta chỉ có một thèm muốn, rời bàn càng nhanh càng tốt. Ta không cảm thấy là chính mình, do đó ta không cảm thấy thoải mái. Mùi của người bạn của tôi, của con tôi thiếu ở nơi tôi đến độ tôi khóc vì điều đó. Đó như thể người ta đã lấy ở nơi tôi cái gì đó, như thể tôi không được hoàn toàn. Tất cả đời sống xã hội tràn đầy các mùi mà ta không còn cảm thấy nữa. Đó là một hư vô buồn chán. Tôi ăn quá nhiều đường, nhiều muối vì lẽ đó là tất cả những gì tôi còn cảm nhận. Như thể một người bị cắt cụt chi chỉ còn có hai ngón tay, tôi dùng chút ít còn lại nơi tôi…”
Caroline đã trải qua những giai đoạn trầm cảm. ” Biển không có mùi biển, rừng không có mùi rừng, không khí không có mùi không khí, người ta không có mùi của người ta…” Theo yêu cầu của cô, Caroline đã có thể làm cho người ta công nhận tình trạng phế tật của mình.” Tôi đã phải chuyển đổi vào quản lý…Hôm nay tôi làm việc trong một nhà trường…dĩ nhiên không có mùi nhà trường…”
(LE FIGARO 26/6/2017)

4/ MỘT MÙI NƯỚC HOA CÓ THỂ KHƠI LẠI MỘT KỶ NIỆM ?
Các mùi và những kỷ niệm được xử lý bởi những vùng não rất gần nhau. ” Entrée olfactive, trong các lỗ mũi, chỉ cách amygdale hai neurone, và hippocampe ba neurone, những vùng thiết yếu cho những cảm xúc và trí nhớ “, Jean-Pierre Royet, của laboratoire Neurosciences et systèmes sensoriels ở CHRS (Lyon) đã giải thích như vậy. Chính vì vậy các mùi có một tác động xúc cảm mạnh hơn, và chính vì vậy trí nhớ về chúng được tiếng là tốt hơn trí nhớ về những giác quan khác. Trong sự tiến triển của loài người, các mùi đã đóng một vai trò chủ yếu trong sự phát hiện một con mồi, một con vat an moi (prédateur) hay một đồ ăn độc : những tình huống ghi dấu ấn lâu dài trong trí nhớ, vì sự sống còn.
(SCIENCES ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES 7-8-9/2015)

5/ MỘT NGƯỜI PHÁP TRÊN MƯỜI KHÔNG CÒN CÓ KHỨU GIÁC NỮA.
Giác quan này, cũng như những giác quan khác, có thể là nạn nhân của những thương tổn hay những chấn thương và cũng chịu những tật nguyền lúc già nua.OLFACTION. ” Tôi buồn là không có thể chụp anh các mùi, hôm qua tôi muốn chụp anh những mùi của armoire à épicerie của bà nội.” Cũng như nhiếp ảnh gia Jean-Henri Lartigue, tất cả chúng tôi đều mơ có thể bắt được kỷ niệm về các hương thơm, những mùi nước hoa và những hương vị khác như chúng tôi giữ kỷ niệm về một hình ảnh được chụp hay một giọng nói được ghi…
Nếu điều đó khả dĩ, khi đó chúng tôi sẽ khám phá rằng đối với vài trong chúng tôi các mùi không còn hiện hữu nữa. Thật vậy, gần 10% những người Pháp bị những rối loạn khứu giác, như vừa được tiết lộ những kết quả đầu tiên của một công trình nghiên cứu dịch tễ học rộng lớn, được tiến hành ở 4500 người ở Pháp. ” Và 1/3 trong số những người này bị một thiếu sót nghiêm trọng, mà ta cũng gọi là mất khứu giác (anosmie)”, Moustafa Bensafi, giám đốc nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu về neurosciences đã giải thích như vậy.
Bài học khác từ công trình nghiên cứu : những rối loạn khứu giác này gia tăng sau 50 tuổi để đạt 20% dân số sau 65 tuổi…” Tất cả các hệ giác quan bị thoái hóa với tuổi. Nhưng sự mất khứu giác xảy ra dần dần và vì khứu giác ít bị thôi thúc trong những quan hệ giữa người với người như thính giác hay thị giác, nên tất cả những người mất khứu giác không nhất thiết ý thức về điều đó”, BS Basile Landis, người phụ trách consultation d’olfactologie thuộc bệnh viện Genève, đã giải thích như vậy.
Ngoài tuổi tác, hơn 50 nguyên nhân có thể gây mất khứu giác. ” Nhưng tổng cộng, 90% những trường hợp mất khứu giác là do 4 nguyên nhân chính, trong đó sự lão hóa”, GS Pierre Bonfils, ORL ở Bệnh viện châu Âu Georges-Pompidou đã xác nhận như vậy. Một cảm cúm (rhume) đơn giản hay một bệnh cúm (grippe) có thể gây nên một mất khứu giác. Một khi mũi được khai thông, khứu giác không trở lại, virus tấn công vào những tận cùng thần kinh hiện diện trong mũi. ” Trong 70% các trường hợp, chính những phụ nữ ở lứa tuổi mãn kinh bị bệnh “, Pierre Bonfils đã xác nhận như vậy. 3/4 những bệnh nhân này sẽ tìm lại được khứu giác, nhưng họ phải kiên nhẫn một hay hai năm..
Nguyên nhân khác thường gặp của những rối loạn khứu giác : polypose naso-sinusienne mà 5% dân Pháp mắc phải. Đó là nguyên nhân duy nhất có thể được chữa lành bằng một điều trị thích đáng. ” Chính vì vậy những người bị mất khứu giác và có mũi bị bít hay chảy thường trực không được chờ đợi để thực hiện một bilan ORL”, Pierre Bonfils đã định rõ như vậy.
Sau cùng, mọi chấn thương sọ có thể gây nên mất khứu giác. Bất cứ va chạm nào cũng có thể nhổ những sợi nhỏ thần kinh khứu giác nối mũi với não bộ. Khoảng 15% những người rơi vào hôn mê bị mất khứu giác nhưng cũng xảy ra ở 5% những người bị chấn thương sọ không hôn mê.
Thế thì chắc chắn rằng mất khứu giác không có tính chất sinh tử đối với con người như điều đó đối với vài động vật. Như BS Basile Landis đã nhấn mạnh, ” nếu anh không có khứu giác cuộc sống của anh không luôn luôn bị xáo trộn “. Giác quan này, mặc dầu ít quan trọng hơn thị giác và thính giác, tuy vậy đóng một vai trò hàng đầu trong việc phát hiện những độc chất như khí, khói… Vậy những người không khứu giác thường là nạn nhân hơn của những tai nạn trong gia đình. ” Chúng tôi đã theo dõi khoảng 50 trong số những bệnh nhân của chúng tôi và đã chứng thực rằng một nửa trong số họ đã là nạn nhân của ngộ độc thức ăn hay đã để các nồi xon quá lâu trên lửa”, GS Pierre Bonfils đã kể lại như vậy.
Và nhất là, khứu giác tương tác với vị giác (ngọt, mặn, đắng, acide) để giúp chúng ta nhận diện và đánh giá những thức ăn. Không khứu giác, một phần của những khoái lạc của bữa ăn biến mất. ” 90% của “vị giác”, đó là khứu giác. Phần lớn những bệnh nhân đã đánh mất khứu giác nhận thấy những gì mà họ ăn là tẻ nhạt, họ nói có cảm tưởng như nuốt carton”, Pierre Bonfils đã xác nhận như vậy.
Tuy nhiên, cho đến nay, các công trình nghiên cứu đã không cho thấy mối liên hệ giữa sự mất khứu giác và những hậu quả lên thể trọng. ” Những người không khứu giác không to béo hơn hay kém mập hơn phần lớn những người khác “, Basile Landis đã chứng thực như vậy. Ngược lại chất lượng sống có thể bị xáo động. Đối với vài người, việc mất hương thơm của chocolat sẽ không lấy đi ở họ khoái lạc liên kết với vị giác dường. Đối với những người khác, đó sẽ là một thảm trạng…” Những người này không đi restaurant nữa…Theo một công trình nghiên cứu được thực hiện bởi khoa chúng tôi, 60% những người mất khứu giác bị trầm cảm nặng”, Pierre Bonfils đã giải thích như vậy.
Để chữa sự mất hoan lạc này, các chuyên gia khuyên bệnh nhân biến đổi cách nấu ăn, dành một phần lớn hơn vào những gai vị giác (papilles guastatives). Thí dụ theo món ăn Á châu, dành nhiều cho hơn cho vị đắng và cho acidité. Bởi vì một khi sự mất khứu giác thành hình, không có điều trị nữa. Vậy phải thích nghi.
(LE FIGARO 5/10/2015)

6/ MŨI PHÂN BIỆT 1000 TỶ MÙI.
Từ năm 1927, người ta chấp nhận, lầm, rằng con người có thể nhận biết chỉ 10.000 mùi nước hoa khác nhau.
NEUROSCIENCES. Một biên giới mới vừa thất thủ đối với con người : biên giới của các mùi. Mũi là tinh tế hơn nhiều so với mắt hay tại. Mũi có thể phân biệt ít nhất 1000 tỷ mùi khác nhau, thay vì 10.000, con số được chấp nhận từ 1927. Trong do khi mắt có thể phân biệt từ 2,3 đến 7,5 triệu màu sắc và tai khoảng 340.000 giọng điệu khác nhau.Đó là kết luận của thí nghiệm được công bố, 20 tháng 3 năm 2014, trong tạp chí Science. Andreas Keller, nhà nghiên cứu ở laboratoire de neurogénétique du comportement, đại học Rockefeller (Nữu Ước), đã đưa ra một phương pháp độc đáo để đánh tan những định kiến.
Với 128 phân tử có mùi, được trộn thành những lô 10, 20 hay 30 hợp chất, 260 dung dịch được tạo thành. Rồi, 28 người đã phân biệt những hỗn dịch khác nhau này bằng một trắc nghiệm đơn giản. Đối với mỗi hỗn dịch, họ phải “ngửi ở phòng thí nghiệm 3 lọ thủy tinh : hai lọ chứa cùng hỗn hợp và lọ thứ ba một hỗn hợp khác. Mỗi người phải nhận biết những lọ có cùng mùi”, Caroline Bushdid, sinh viên master de chimie ở Đại học Pierre-et-Marie-Curie, người đã thực hiện thí nghiệm này ở Hoa Kỳ, đã nhắc lại như vậy.
Như thế, bằng sự “phân biệt mùi ” này, ông ta đã có thể suy diễn số lượng lý thuyết những hỗn hợp có thể được tạo nên. Bằng một tính toán thống kê, các nhà nghiên cứu đã đánh giá ít nhất 1000 tỷ số những kích thích khác nhau được nhận biết bởi một người có một khứu giác trung bình.
” Công trình nghiên cứu là tài tinh và có lẽ cho một số lượng về các mùi gần hơn nhiều so với thực tế “, BS Jean-Pierre Royet của trung tâm nghiên cứu neurosciences, thuộc đại học Lyon-I, d đánh giá như vậy.Người đồng nghiệp của ông Moustafa Bensafi nói thêm : ” Tôi hoàn toàn đồng ý với Andreas Keller. Số lượng các mùi là quan trọng hơn nhiều số lượng trong tư liệu về neurosciences và vẫn được ước tính là 10.000 từ năm 1927″.
Vào thời kỳ đó, hai nhà khoa học đã đảm bảo, một cách thường nghiệm, rằng tất cả các mùi có thể được xếp loại theo 4 cảm giác khứu giác (hoa, cháy, động vật và acide), mỗi cảm giác có một cường độ nằm giữa 0 và 8. Do đó một số phối hợp khả dĩ bằng 6561, đã được làm tròn thành 10.000. Thực tế phức tạp hơn. Chỉ một mình mùi của hoa hồng bao gồm hơn 275 phân tử khác nhau. ” Chỉ riêng năm 2012, 1200 loại nước hoa mới và khác nhau đã được xuất hiện trên thế giới “, Caroline Bushdid đã nói như vậy. Sau cùng không gian hóa học, bao gồm những phân tử cho mùi và không cho mùi, có thể được ước tính tổng cộng là khoảng 10 lũy thừa 60, theo một thông báo cá nhân của BS Jérome Golebiowski thuộc Viện hóa học Nice, Moustafa Bansafi đã xác nhận như vậy.
350 THỤ THỂ ĐẶC HIỆU.
” Số lượng 1000 tỷ của chúng tôi là bảo thủ “, Andreas Keller đã nói như vậy. Sự tri giác mùi làm ông say mê từ nhiều năm nay, bởi vì ” khứu giác người là đơn giản và nguyên thủy hơn nhiều so với thị giác và thính giác và tôi nghĩ rằng nghiên cứu những hệ đơn giản làm cho sự khám phá những nguyên tắc cơ bản có thể thực hiện”.
Chức năng của mũi luôn luôn gây tranh cãi. Những hướng nghiên cứu được vạch ra. Người có 350 thụ thể đặc hiệu đối với khứu giác. ” Trong khi đó hệ thị giác chỉ cần 3 gène để phát hiện phổ các màu “, Jean-Pierre Royet đã nói thêm như vậy, xác nhận rằng ” những thụ thể khứu giác, nằm trong mũi, là những loại thụ thể duy nhất tiếp xúc với môi trường bên ngoài. những thụ thể thị giác được bảo vệ với môi trường bên ngoài bởi giác mạc, những thụ thể thính giác bởi màng nhĩ. Điều đó giải thích tại sao tần số thay thế những thụ thể khứu giác là rất cao. Chúng được thay thế gần như mỗi tháng.
(LE FIGARO 21/3/2014)

7/ CACOSMIE (CHỨNG NGỬI THỐI), PAROSMIE (CHỨNG LOẠN KHỨU) VÀ NHỮNG PHANTOSMIE KHÁC.
Khứu giác và vị giác có thể biến mất. Chúng cũng có thể bị biến đổi. Sự tri giác những mùi thối của chính cơ thể mình, hay cacosmie, có thể là do những nhiễm trùng răng, của các xoang, của các amygdales cryptiques…Trong chứng loạn khứu (parosmie), mũi tri giác, thay vì những mùi quen thuộc, những mùi hôi giả, thí dụ cà phê có mùi cao su cháy và có vị dầu hỏa. Những rối loạn này được nhận thấy trong những chấn thương cắt đứt những nối kết giữa cơ quan khứu giác và hành khứu, và trong những trường hợp mất khứu giấc sau viêm mũi đó virus (anosmie post-rhinite virale).” Nhiều loại thuốc cũng có thể biến đổi vị giác. Đó cũng là trường hợp của những bệnh lý ung thư khác nhau, trong đó các ung thư, do tác dụng trực tiếp của bệnh hay tác dụng của những điều trị, với một nguy cơ suy dinh dưỡng cần phải xet đến để thích ứng tốt hơn chế độ ăn uống của các bệnh nhân”, GS Laurent Blondel (đại học và CHU de Dijon) đã nhấn mạnh như vậy.
Những phantosmie là những ảo giác khứu giác, rất hiếm nhưng rất nghiêm trọng, do những u não hay, trong tâm thần học, do bệnh tâm thần phân liệt.
(LE FIGARO 26/6/2017)

8/ NHỮNG LIỆU PHÁP VI XÂM NHẬP CHO NHỮNG DI CĂN GAN
Gan là một trong những vị trí chính của các ung thư thứ phát sau một ung thư nguyên phát, và những di căn này nói chung được xem như không thể chữa lành.Tuy vậy, vài phương pháp điều trị ít xâm nhập cho thấy khả năng làm ngừng tiến triển của những di căn gan (métastases hépatiques) khi chúng không vượt quá 4cm. Trước hết, radiothérapie stéréotaxique d’ablation, một radiothérapie externe được hướng dẫn bởi chụp hình ảnh trong mục đích ” bẽ gãy ” ADN của những tế bào ung thư bằng những liều tia X rất mạnh trong một thời gian rất ngắn. Sự cắt bỏ bằng radiofréquence, được gọi là thermoablation, nhằm phá huy những tế bào ung thư bằng một dòng điện có tần số cao, phát sinh những nhiệt độ tại chỗ hơn 60 độ C. Còn về électroporation không thể đảo ngược, nó cho phép bẽ gãy các màng của những tế bào bệnh bằng cách thực hiện một điện trường có cường độ mạnh. Những liệu pháp này cho phép đảm bảo kiểm soát tại chỗ những khối u này trong 60 đến 95% những trường hợp trong 12 đến 18 tháng.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2015)

9/ NHỮNG KỸ THUẬT CẢI TIẾN LÀM GIẢM NHỮNG DI CHỨNG CỦA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO.
Thrombectomie (cắt bỏ cục nghẽn mạch) là thủ thuật nhằm đi tìm kiếm trực tiếp trong não của bệnh nhân cục máu đông chịu trách nhiệm tai biến mạch máu não.Có lẽ chúng ta đang ở trong buổi bình minh của một cuộc cách mạng trong điều trị những tai biến mạch máu não. Thật vậy, một công trình nghiên cứu được công bố vào tháng 12 năm 2015 trong New England Journal of Medicine vừa xác nhận những kết quả rất tốt của thrombectomie mécanique. Xuất hiện năm 2004, kỹ thuật này chỉ được sử dụng một cách hạn chế bởi vài đơn vị mạch máu thần kinh chuyên môn. Nó nhằm đi tìm kiếm một cách trực tiếp trong não của bệnh nhân cục máu đông chịu trách nhiệm tai biến mạch máu não. Thật vậy, trong 80 đến 85% các trường hợp, tai biến mạch máu não là do sự bít của một mạch máu tưới máu não. Bị tước mất oxygène, các mô nằm sau ” cái nút nghẽn” (bouchon) này bị hoại tử. Và nếu tuần hoàn máu không được nhanh chóng tái lập, những di chứng có thể không đảo ngược.
Hiện nay, điều trị lựa chọn là thrombolyse : một loại thuốc làm tan rã cục máu đông. Nhưng chiến lược này, phải được thực hiện trong 4 giờ rưỡi sau những triệu chứng đầu tiên, thường không đủ để tránh những di chứng nặng nề.
Can thiệp bằng thrombectomie mécanique có thể được thực hiện trong vòng 6 giờ.Thủ thuật nhằm cho một microcathéter đi qua trong động mạch bị bít, đến tận cục máu đông. Cục máu này được lấy đi hoặc bằng hút qua một cathéter, hoặc bằng một stent, khi được mở ra quanh cục máu đông, bắt cái khối nhầy này. Như thế tuần hoàn máu được tái lập.
CHO PHÉP TÌM LẠI MỘT AUTONOMIE THỎA MÃN
Công trình nghiên cứu trên 500 người ở Hòa Lan đã cho thấy rằng 3 tháng sau một tai biến mạch máu não nặng (chiếm 5 đến 10% của 130.000 nhồi máu não xảy ra mỗi năm ở Pháp), thrombectomie đã cho phép 30% những bệnh nhân tìm thấy lại một autonomie thỏa mãn. Tỷ lệ này chỉ là 16% những bệnh nhân chỉ được điều trị bằng thuốc. ” Đó là lần đầu tiên mà người ta chứng minh một cách rõ ràng rằng kỹ thuật này cho phép làm giả những di chứng “, BS Bertrand Lapergue đã theo kỹ thuật này ở bệnh viện Foch de Suresnes (Hauts-de-Seine) cách nay 4 năm, đã lấy làm phấn khởi. ” Những công trình nghiên cứu khác cùng loại sẽ được công bố và xác nhận những kết quả tốt này “, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã nói như vậy. Nhưng yếu tố quyết định vẫn là tính chất nhanh chóng của can thiệp. ” 70% các trường hợp được xử trí quá muộn, nghĩa là hơn 6 giờ sau sự xuất hiện của những triệu chứng đầu tiên”, BS Lapergue đã phản nàn như vậy. Cuộc chạy đua với thời gian trong tương lai sẽ có nhiều cơ may thắng cuộc hơn.
(SCIENCES ET AVENIR 2/2015)

10/ STRESS ĐƯỢC TRUYỀN CHO HẬU DUỆ
Stress được truyền cho nhiều thế hệ…ít nhất điều đó đã được chứng minh trên thỏ rừng (lièvre) : một con thỏ mẹ bị stress mãn tính cho ít thỏ rừng con hơn. Ngoài ra những con thở con này ốm yếu gầy còm hơn và sinh sản ít tốt hơn. Và cứ như thế cho đến 6 thế hệ, theo một công trình nghiên cứu của đại học Pensylvanie (Hoa Kỳ). Thủ phạm : cortisol, kích thích tố của stress. Vì sự sản xuất của cortisol được kích thích bởi sự sợ hãi (của một con vật ăn mồi), nên trong tử cung các thỏ con tắm mình trong sự sợ hãi này và có sau đó những nồng độ cortisol rất cao ở tuổi trưởng thành. Nguy cơ lối sống ăn mồi càng nặng, tác dụng càng lâu dài. Và ngay cả khi nguồn của stress biến mất, chữ ký của nó vẫn còn tồn tại. ” Một động vật có thể không biết điều đã xảy đến cho ông bà nội của nó, nhưng lịch sử của những tiền bối này được ghi, bằng một cách nào đó, trong cơ thể của nó “, chuyên gia về sinh thái học Michael Sheriff đã phân tích như vậy. Chưa có công trình nghiên cứu có thể sánh được ở người.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(11/9/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s