Thời sự y học số 443 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ THĂM DÒ Ý THỨC : TỪ KHÁM PHÁ NÀY ĐẾN KHÁM PHÁ KHÁC
Làm sao biết một não bị thương tổn còn có ý thức ? Vai trò dành cho nghiên cứu.NEUROSCIENCE. ” Có nhiều ngàn người có một rối loạn cấp tính của ý thức sau một ngừng tim, một tai biến mạch máu não hay một chấn thương sọ nặng : trong số những người này, vài người sẽ hồi phục, ít nhất một phần. Những người khác sẽ chết. Sau cùng, những người khác sẽ có những rối loạn mãn tính ý thức : từ 1500 đến 3000 người Pháp bị những rối loạn này “, GS Lionel Naccache, thầy thuốc thần kinh và nhà nghiên cứu ở Viện năo và tủy sống (ICM : Institut du cerveau et de la moelle), ở CHU của bệnh viện là Pitié-Salpetrière (Paris) đã giải thích như vậy.
Mặc dầu bệnh nhân đã ra khỏi hôn mê, mặc dầu họ có những cycle de veille và do đó họ mở mắt, nhưng họ có ý thức hay không ? ” Không nhất thiết và tất cả enjeu của nghiên cứu là nhận ra những lúc tỉnh táo dao động này, dù ngắn ngủi đến đâu, bởi vì chúng dễ cho đoán thấy những tiến bộ khả dĩ. Ngoài tình trạng chết não (état de mort cérébral), trong đó ta không còn phát hiện một hoạt động nào nữa trong não, vậy tất cả sự khó khăn là phân biệt giữa hoạt động não tự động và hoạt động ý thức và tự ý “, GS Steven Laureys, thầy thuốc thần kinh, giám đốc của Coma Science Group của Centre GIGA/Cyclotron của đại học và CHU de Liège (Bỉ), tác giả của “Un si brillant cerveau”, đã nói tiếp như vậy.
Một thăm khám lâm sàng sâu theo échelle de récupération du coma révisée (CRS-R), được lặp lại nhiều lần vào những lúc khác nhau bởi vì trạng thái ý thức dao động, mang lại những chỉ dẫn đầu tiên. ” Nếu một người không thể đưa mắt nhìn theo một tấm gương đặt trước mắt mình, điều đó chứng minh rằng hành vi của người này không giới hạn ở những phản xạ phát xuất từ những vùng nằm ở thân não (dưới vỏ não) “, GS Naccache đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, thăm khám lâm sàng cần thiết này có những hạn chế của nó : thật vậy, nếu một người không siết bàn tay theo lệnh, phải chăng bởi vì người này đã không hiểu ý của câu hỏi ? Phải chăng bởi vì người này không còn nghe nữa ? Bởi vì bị bại liệt ?
Để cố trả lời cho những nghi vấn này, các thầy thuốc thần kinh có thể dựa vào IRM não và như thế phát hiện những vùng cơ thể học bị thương tổn. Họ cũng có thể dựa vào PET scan để thấy những vùng của não tiêu thụ glucose nhiều nhất và như vậy đang hoạt động. Nhưng có điều tinh tế hơn ” Để giải quyết một thiếu sót vận động trong khi ý thức được bảo tồn, test de tennis nhằm khiến bệnh nhân tưởng tượng mình đang hoạt động trên một sân chơi, trong khi một IRM fonctionnelle được thực hiện : một người ý thức nhưng hoàn toàn bị liệt như trong loscked-in-syndrome sẽ thành công trắc nghiệm này trong khi một người khác, không hiểu điều được yêu cầu, sẽ thất bại. Trắc nghiệm này chỉ được thực hiện ở 40% bệnh nhân (vài người cử động thái quá)”, GS Steven Laureys đã nói tiếp như vậy.
Một trắc nghiệm khác giàu thông tin, nhằm làm xáo trộn não với một kích thích điện từ và ghi đáp ứng điện não đồ trong những vùng khác của não : trắc nghiệm này cho phép tính PCI (Perturbational Complexity Index) và định lượng ý thức của mỗi người mà không cần đòi hỏi một sự tham dự nào. Vậy người được thăm dò có thể điếc, liệt, cấm khẩu,…, điều đó không ảnh hưởng lên những kết quả. Để thực hiện thăm dò này và phối hợp nó với PET scan và IRM, phải cần một dụng cụ rất nặng mà hiện nay ở châu Âu chỉ có trung tâm của GS Laureys là có mà thôi.
Ở Viện não và tủy sống (ICM), nghiên cứu cũng hướng về vào điện não đồ. ” Khi một người có tri giác, đó cũng như thể có một cuộc đối thoại phong phú và mạch lạc giữa những vùng trước và sau của não và chính hoạt động này mà ta tìm cách ghi. Thật vậy, nếu bệnh nhân không có ý thức, những hoạt động có thể được ghi nhận trong tất cả các vùng não, nhưng sự đối thoại mạch lạc này không hiện hữu.
Để phát hiện nó, ghi được thực hiện lúc nghỉ ngơi và trong lúc đang hoạt động, trong đó một loạt những âm thanh được phát ra : thí dụ, những loạt 5 bips y hệt nhau và thỉnh thoảng một loạt khác. Nếu ghi não cho thấy một đáp ứng đặc thù, đó đúng là bằng cờ rằng bất thường đã được phát hiện và để được điều đó bệnh nhân phải có ý thức. Ưu điểm : trắc nghiệm này không đòi hỏi dụng cụ phức tạp và có thể được thực hiện trong tất cả cơ sở điều trị.
Thật vậy, chính sự tương hợp của các kết quả với những trắc nghiệm là có giá trị nhất. Khi tất các các trắc nghiệm đi theo cùng chiều hướng, tỷ lệ sai lầm trở nên rất thấp. ” Chính vì vậy, mục tiêu ưu tiên của chúng tôi ở bệnh viện La Pitié-Salpêtrière là phát triển và hiện đại hóa đơn vị hồi sức thần kinh để cho phép chúng tôi thực hiện những thăm dò và đề nghị những điều trị mới.”
(LE FIGARO 5/10/2015)

2/ PHẢI LÀM GÌ ĐỐI VỚI NHỮNG TRẠNG THÁI Ý THỨC TỐI THIỂU (CONSCIENCE MINIMALE) ?
Mặc dầu nghiên cứu có nhiều tiến bộ, nhưng điều đó vẫn phức tạp trên thực tế. Bởi vì số giường trong các đơn vị chuyên môn đối với những tình trạng thực vật mãn tính (từ nay được gọi là “éveils non répondants”) và những tình trạng nghèo liên hệ (états pauci-relationnels) là không đủ ở Pháp, và sau đó phần lớn những người ở trạng thái ý thức tối thiểu (état de conscience minimale) không tiếp cận với những thăm dò mũi nhọn (examens pointus), như những thăm dò được đề nghị trong khung cảnh nghiên cứu. ” Chúng tôi nhận những người bị thương tổn não sau khi họ đã trải qua trung bình 12 tháng trong một centre de médecine physique et de réadaptation (MPR). Những người này được gởi đến trong những đơn vị EVC-EPR của chúng tôi và tình trạng ý thức tối thiểu của họ không tương hợp với một phục hồi chức năng cổ điển”, BS Catherine Kiefer, trưởng khoa điều trị và phục hồi chức năng cho những người bị chấn thương não ở bệnh viện Nord 92 (Villeneuve-la-Garenne), đã giải thích như vậy.
Giai đoạn đầu tiên, giai đoạn đánh giá, cần nhiều tuần. Toàn bộ nhân viên duoc huy động để tìm kiếm tất cả dấu hiệu của một trạng thái ý thức, như dùng mắt theo một người hay một đồ vật, có những hành vi cảm xúc thích ứng (thí dụ cười khi một người thân đến, có những cử động tự ý của đầu và của một chị…” Sau đó chúng tôi thử có được cử động này khi ra lệnh, rồi chúng tôi cho nó một ý nghĩa “vâng-không” thí dụ nếu người bệnh siết tay, chúng tôi yêu cầu bệnh nhân với cách này trả lời là vâng, để thiết lập sự đối thoại. Chúng tôi cũng trải qua nhiều thời gian với gia đình để biết những sở thích của bệnh nhân (âm nhạc, nấu nướng….) trước tai nạn để kích thích bệnh nhân với điều mà bệnh nhân thích, nhưng không làm quá nhiều , bởi vì bệnh nhân mệt nhanh.”
CHẤM DỨT CUỘC ĐỜI ?
Trong số những bệnh nhân được nhận vào EVC-EPR, vài người sẽ đi ra khỏi tình trạng ý thức tối thiểu này và, ngay cả nếu họ vẫn tật nguyền nặng, họ sẽ có thể trở về với gia đình hay một cơ sở y tế-xã hội thích ứng. Những bệnh nhân khác sẽ chết vì những biến chứng. Sau cùng những bệnh nhân khác sẽ vẫn trong tình trạng ý thức tối thiểu này, điều này không ngăn cản họ làm việc cho những dự định của cuộc đời : cho phép được điều trị tại nhà và nghỉ hè cùng gia đình trong khi những người thân sẽ học cách thực hiện vài săn sóc (nuôi ăn bệnh nhân với một sonde…) và được trang bị : lit médicalisé, lève-malade, xe lăn… với sự giúp đỡ của ergothérapeute và assistante sociale.
” Cho câu hỏi để biết điều đó có đáng bỏ công không, không có câu trả lời phổ quát “, GS Steven Laureys (Coma Science Group, Belgique) đã nhấn mạnh như vậy. Một công trình nghiên cứu về chất lượng sống ở những người bị locked-in-syndrome, nghĩa là bị liệt ngoại trừ vài cử động của mắt, nhưng với một tri giác bình thường, đã cho thấy rằng một số nhỏ những bệnh nhân này mong muốn kết thúc cuộc đời. Hoặc khi ta hỏi những người lành mạnh điều mà họ mong muốn đối với chính họ, nhiều người hơn trả lời rằng họ thấy chẳng thích thú gì sống trong tình trạng đó.
(LE FIGARO 5/10/2015)

3/ KHI MỘT NGƯỜI NÀO ĐÓ TRONG HÔN MÊ, NGƯỜI NÀY SỐNG LOẠI CUỘC SỐNG NÀO ?
Câu hỏi tế nhị, bởi vì những người đi ra khỏi tình trạng này không thể mô tả điều mà họ đã sống. Mặc dầu vài người kể lại những cảm giác và những xúc cảm giống với những kinh nghiệm của cái chết gần kề (EMI : expérience de mort imminente). Neurosciences, từ lâu đã xác lập rằng chỉ có 3 trạng thái của “biến đổi ý thức” (altération de conscience) : chết não (mort cérébrale) ; hôn mê (coma), đó là một thời kỳ từ một giờ đến nhiều tuần, thậm chí nhiều năm trong đó những chức năng sinh tồn (fonctions vitales) được gìn giữ, mặc dầu bệnh nhân không bị đánh thức bởi hay ý thức về môi trường của mình ; và sau cùng, tình trạng thực vật (état végétatif), trong đó người bệnh cho thấy những dấu hiệu thức tỉnh nhưng không ý thức về môi trường của mình và không thể trả lời một mệnh lệnh.
Do đó, khó biết được những cảm giác nào mà mot bệnh nhân đắm chìm trong hon mê trải nghiệm. Điều chắc chắn duy nhất : tình trạng của bệnh nhân vẫn có khả năng đảo ngược được. Trong những trường hợp tốt nhất, bệnh nhân tỉnh lại sau vài ngày. Có điều là, sự cải thiện thường tỏ ra chậm (đôi khi vài năm) và trải qua hai trạng thái biến đổi ý thức khác : tình trạng thực vật (état végétatif) và mới đây, được xác định bởi giới hữu trách quốc tế, trạng thái ý thức tối thiểu (conscience minimale). Trong trường hợp ý thức tối thiểu bệnh nhân dường như trong một trạng thái thực vật nhưng cho thấy những dấu hiệu lan tỏa và tạm thời của ý thức : bệnh nhân đôi khi trả lời vài mệnh lệnh rồi dừng lại ; khóc hay mỉm cười phản ứng lại một tình huống ; theo hình bóng phản chiếu của mình trong gương. Chính đó là trạng thái mà Vincent Lambert bị đắm chìm. Trường hợp này gây nhiều tranh luận từ năm 2008.
NHỮNG THANG ĐÁNH GIÁ
Trên thực hành, để đánh giá tình trạng của một bệnh nhân, các thầy thuốc sử dụng những thang đánh giá chuẩn quốc tế (như échelle de Glasgow). Thang đánh giá này định lượng những chức năng thính giác, thị giác, vận động và lời nói, sự truyen đạt (communication) và sự thức tỉnh (éveil) qua một loạt những trắc nghiệm. Để làm tinh tế chẩn đoán, họ có thể nhờ đến IRM để cartographier những thương tổn của não, PET-scan để đo hoạt tính chuyển hóa, và spectroscopie cérébrale và imagerie du tenseur de diffusion để phân tích khả năng sống của những neurone và nhận diện những thương tổn của các bó sợi trắng nối các tế bào thần kinh với nhau.
Một kíp của Inserm hiện phát triển những phương pháp điện não đồ để đo hoạt động điện của não đáp ứng với một kích thích âm thanh. Được xử lý bởi một algorithme mathématique, các kết quả cho biết về lượng thông tin được trao đổi giữa những vùng của não bị kích thích , và do đó cho biết về mức độ tri giác của bệnh nhân. Theo những công trình nghiên cứu của họ, những vùng não của những người ở trạng thái ý thức tối thiểu (état de conscience minimale) chia sẽ nhiều thông tin hơn những vùng của những bệnh nhân đắm chìm trong một trạng thái thực vật.
(SCIENCE ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES 4-5-6/2016)

4/ NHỮNG NEURONE MỚI ĐỂ SỬA CHỮA NHỮNG THƯƠNG TỔN NÃO
Y khoa tái sinh (médecine régénérative) có thể điều trị tai biến mạch máu não hay bệnh Parkinson bằng cách kích thích sự tạo neurone (neurogenèse). Vẫn còn một chướng ngại : dạy cho các neurone tân tạo (néoneurone) sống sót như thế nào.Thế thì nếu chúng ta sử dụng những neurone mới, những neurone mà não của chúng ta chế tạo mỗi ngày, để sửa chữa những thương tổn não do một chấn thương hay một bệnh lý thoái hóa thần kinh (Parkinson, Alzheimer…) Đó là mục tiêu của y khoa tái sinh (médecine régénérative) tương lai. Một ý tưởng khó tin nhưng làm nên sự nghiệp từ khi các nhà nghiên cứu đã khám phá neurogenèse (sản xuất những neurone mới ) ở người trưởng thành. Với những thành công đầu tiên.” Bằng cách đổi hướng những neurone tân tạo từ vùng nẩy mầm (zone germinative) của chúng về những vùng bị thương tổn, ta có thể hy vọng xây dựng những chiến lược điều trị mới “, Pierre-Marie Lledo, giám đốc của département de neurosciences thuộc Institut Pasteur de Paris đã xác nhận như vậy.
Sau một thập niên những công trình nghiên cứu, nhờ sự hiểu biết tinh tế những yếu tố phân tử cần thiết cho quá trình, những cố gắng đã được trả giá : ở chuột, các nhà nghiên cứu thành công phát hiện những neurone tân tạo quý giá này trong hang ổ của chúng, vùng dưới não thất (zone sous-ventricualire) và hippocampe. Rồi từ đó các nhà nghiên cứu làm chúng di chuyển vài centimètre đến tận võ não (cortex), lớp mô mỏng gấp nếp phủ những bán cầu đại não. Một chiến công ! Chán nản, các nhà khoa học đứng trước một vấn đề tầm cỡ : ” Một khi đến được trong vỏ não, các neurone mới không thể sống sót “, Pierre-Marie Lledo đã phàn nàn như vậy. Bởi vì vùng bị “xâm thực ” (zone colonisée) không “niềm nở tiếp đón”. ” Tại chỗ chúng không tạo được số những nối kết cần thiết. Kết quả : chúng tự hủy diệt “, nhà nghiên cứu đã giải thích như vậy. Để gia tăng tỷ lệ sống sót của những neurone mới lúc đến vỏ não đồng thời làm cho vùng vỏ não ít thù địch hơn, các nhà nghiên cứu đưa ra một chiến lược : đề nghị với những neurone tân tạo những “maitre de stage” để giúp chúng hội nhập. Những maitre de stage này có thể là những neurone được cấy in vitro, đặc hiệu vùng não bị thương tổn cần điều trị và còn khá non trẻ để có thể phát triển và ” chuẩn bị thực địa ” trước khi những neurone mới đến. ” Những neurone “được chuẩn bị” này sẽ cung cấp cho những neurone nội tại những yếu tố tăng trưởng và giúp chúng sống sót ”
(SCIENCES ET AVENIR 5/2017)

5/ HÃY TRÁNH STRESS MÃN TÍNH, KẺ GIẾT CÁC NEURONE SƠ SINH.Những tình huống gây lo âu kích hoạt trục của stress trong não (axe hypothalamo-hypophysaire). Điều này phát khởi sự tiết một kích thích tố, cortisol, bởi những tuyến thượng thận. Qua đường máu, cortisol tràn ngập não để phát khởi một phản ứng nhanh của hệ vận động và của système limbique (amygdale). Điều này gây hoảng sợ và bỏ trốn. Nếu quá trình được lập lại quá thường xuyên (stress mãn tính), các neurone nằm trong hippocampe (có nhiều thụ thể của cortisol), rất bị xáo trộn. Kết quả : sự chế tạo những neurone mới bị dừng lại, cũng như sự tăng trưởng của các neurone sống sót, bởi vì hệ miễn dịch ức chế những yếu tố tăng trưởng (BDNF, brain-derived neurotrophic factor). ” Vậy hãy tránh stress chronique, tueur de bébés neurones”, Pierre-Marie Lledo, giám đốc của département de neurosciences ở Viện Pasteur (Paris) đã khuyên như vậy. Để có được điều này, mọi người có thể thực hiện những phương pháp như yoga, thiền định (méditation) hay hoạt động vật lý, mà tac dụng lên não được xác nhận. Nhất là phải thực hiện déconnexion du monde numérique (courriels và mạng xã hội, nguồn gốc của của một loạt tới tấp những thông tin phải đối diện). Bởi vì thông tin chỉ cho chúng ta “biết”, chứ không cho chúng ta hiểu, nên điều này có hại bởi vì không kích thích não sản xuất những neurone mới. Trái lại, não bị dồn dập bởi những dữ kiện, buộc phải ở trong tình trạng thụ động và do đó âu lo. Điều cần thiết là phải chọn lọc thông tin, phân biệt cái hữu ích với cái phù phiếm, để không bị stress mãn tính.
(SCIENCES ET VENIR 5/2017)

6/ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ, CURE DE JOUVENCE ĐỐI VỚI CÁC NEURONENhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng hoạt động vật lý kích thích sự tạo thành những neurone mới. Lúc co, các cơ phóng thích nhất là những protéine (myokine). Qua trung gian của tuần hoàn máu, những protéine này kích hoạt sự phóng thích trong não những yếu tố dinh dưỡng (facteurs trophiques) như BDNF (brain-derived neurotrophic factor). Những yếu tố này kích thích sự tăng sinh của những bébé neurone và gia tăng sự sống còn của chúng. Những myokine này cũng kích hoạt hệ miễn dịch, có một tác dụng thuận lợi lên sự tạo neurone (neurogenèse). Trong thời gian ngắn hạn, hoạt động vật lý cũng biến đổi chuyển hóa của cơ thể : nhịp hô hấp và tim gia tăng, cải thượng lưu thông máu não. Kết quả : những niche de cellules souches nằm gần các vùng não giàu phân bố mạch là hoạt động hơn. ” Vậy hãy hoạt động vật lý, cure de jouvence đối với các neurone”, Pierre-Marie Lledo đã khuyên như vậy. Mặt khác, trong thời gian dài hạn, hoạt động vật lý gia tăng kích thước và số lượng của các vi huyết quản não. Điều này mang lại nhiều hơn yếu tố dinh dưỡng và oxygène, nhất là cho các tế bào gốc. Ngoài ra, các tế bào vứt bỏ tốt hơn những chất cặn bã của mình, đặc biệt là những protéine dị dạng hay những độc chất, khi tích tụ, có thể gây những bệnh thoái hóa thần kinh (Alzheimer, Parkinson). Tất cả điều đó phải chăng có lợi cho cognition ? Đối với trí nhớ, vâng. Ở chuột người ta đã chứng minh rằng hoạt động vật lý tự ý hay bắt buộc gia tăng sự tạo neurone, miễn là cường độ của hoạt động vừa phải. ” Ở người, hoạt động vật lý phải hiếu khí (aérobie), nghĩa là không giảm sút, và hơn 20 phút, gây nên một sự tăng cao nhịp tim và hô hấp (vélo, jogging, bơi lội…)
(SCIENCES ET AVENIR 5/2017)

7/ ” HÃY ĐI CHƠI, HÃY TRANH LUẬN, HÃY YÊU THƯƠNG “
Thắt nối một quan hệ xã hội có nhiều tác dụng lên não bộ. Một mặt, đó là một nguồn thông tin góp phần phá vỡ lề thói đã quen (routine), tạo điều kiện cho học tập (apprentissage) và do đó, sự sản xuất những neurone mới. Những mối liên hệ xã hội đưa ra thực hành một kích thích tố não chủ chốt (oxytocine), một chất dẫn truyền thần kinh được biết về tác dụng làm dịu của nó. Đó là giả thuyết, được nghiên cứu bởi Elizabeth Gould của đại học Princeton (Hoa Kỳ), đã chứng minh tác dụng của oxytocine lên sự tạo neurone của não chuột. Bằng cách tiêm kích thích tố vào trong não hay tuần hoàn máu, bà đã phát hiện sự tăng sinh của những neurone mới trong hippocampe. Và điều này, ngay cả nếu chuột được cho tiếp xúc với glucocorticoides (cortisol), kích thích tố của stress có hại cho sự sản xuất các neurone, hay nếu chuột bị một tình huống gây căng thẳng (bơi trong nước lạnh). Mặc dầu ocytocine được phóng thích một cách tự nhiên trong khi sinh và khi cho bú, nó cũng được phóng thích khi ta tỏ ra đồng cảm (empathie), khi chúng ta chăm lo các con của chúng ta, và cũng trong khi khoái lạc cực độ. ” Sortez, discutez, aimez”, Pierre-Marie Lledo đã khuyên như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2017)

8/ CONSULTATIONS CONNECTÉES VỚI NHỮNG MÉDECINS EN LIGNE
BS François Teboul, médecin urgentiste, directeur médical de Visionmed, giải thích sự vận hành của hệ thống viễn y mới này.
Hỏi : Ông đã tạo một plateforme médicale, MyDoc, de téléconsultations. Phải được trang bị như thế nào để tiếp cận nó ?
BS François Teboul. Với một Smartphone : chỉ cần télécharger l’application BewellConnect và cho vào đó profil của bệnh nhân (tuổi, trọng lượng, những tiền sử gia đình và y khoa…)
Hỏi : Có bao nhiêu thầy thuốc trong équipe ?
BS François Teboul. Plateforme gồm có 12 thầy thuốc đa khoa và một thầy thuốc cấp cứu.
Hỏi : Với sự thành lập hệ thống mới này, Những mục tiêu của ông là gì ?
BS François Teboul. Chúng tôi có hai mục tiêu chính. Mục tiêu đầu tiên là có thể trả lời nhanh chóng một người benh lo lắng về một triệu chứng bất thường nhưng thầy thuốc điều trị không thể liên lạc được. Can thiệp của chúng tôi cho phép tránh phải đi đến khoa cấp cứu một cách vô ích hay, ngược lại, phát hiện sớm giai đoạn đầu của một căn bệnh nặng. Có trong tay hồ sơ y khoa của người bệnh nào đó gọi anh rất là hữu ích. Mục tiêu thứ hai của chúng tôi là lấp những chỗ trống trong vài vùng, trong đó không có đủ thầy thuốc và những thời hạn chờ đợi để có được một lấy hẹn là quá dài.
Hỏi : Ta có thể đảm bảo về năng lực của những thầy thuốc trả lời ông như thế nào ?
BS François Teboul. Equipe de médecin được thành lập đã nhận sự chấp thuận của Cơ quan y tế vùng.
Hỏi : Ông hãy kể cho chúng tôi một thí dụ trọng đó plateforme MyDoc có thể rất hữu ích.
BS François Teboul : Với télésurveillance những bệnh nhân bị suy tim, plateforme được báo nếu một trong những bệnh nhân này có lên 2 hay 3 cân trong 48 giờ, điều này tương ứng với một sự ứ nước. Nếu ta không can thiệp nhanh chóng, nước này có thể lên trong phổi và gây nên trong hai đến năm ngày một détresse respiratoire. Phải thích ứng càng nhanh càng tốt điều trị với tình huống và liên lạc với thầy thuốc điều trị.
Hỏi : Phải chăng những công trình nghiên cứu đã cho thấy tính hiệu quả của những consultations connectées này ?
BS François Teboul : Công trình nghiên cứu CardiAuverge đã cho thấy một sự giảm tỷ lệ tử vong do suy tim 50% và một sự giảm 40% những trường hợp nhập viện.
Hỏi : Ông có những thí dụ khác ?
BS François Teboul : Nhất là ban đêm, nguồn của những lo âu. Như thế, một triệu chứng xuất hiện vào buổi chiều trở nên đe dọa hơn khi đêm xuống và, vào khoảng 2 giờ sáng, bệnh nhân phải đi cấp cứu, đôi khi không có gì cả. Có những consultation ” juste pour être sur ” (chỉ để được an lòng), có thể được hoãn lại và có những consultation “on verra bien” đáng được quản lý ngay. Thật ra, thật sự không có những quy tắc, mỗi trường hợp khác nhau. Thí dụ khác : một người không liên lạc được với thầy thuốc của mình và phải đi làm việc. MyDoc có thể cho phép bệnh nhân xê xích buổi lấy hẹn 12 hay 24 giờ ở thầy thuốc của mình một cách bình tâm, nếu đó là một chấn thương nhẹ.
Hỏi : Có một suivi sau consultation téléphonique không ?
BS François Teboul : Trong những trường hợp được đánh giá là nghiêm trọng, thầy thuốc, được tiếp xúc với bệnh nhân, nhắc lại điều đó và bổ sung hồ sơ y khoa của mình với những chi tiết về convalescence. Trong tất cả các trường hợp, thầy thuốc điều trị được thông báo, và chính ông ta đảm bảo sự theo dõi.
Hỏi : Bí mật y khoa của những hồ sơ này được gìn giữ như thế nào ?
BS François Teboul : Những thông tin được bảo vệ ở một HADS (hébergeur agréé de données de santé) bởi bộ y tế.
Hỏi : Khi có một cấp cứu, phải chăng ông sẽ tiếp xúc trực tiếp với khoa cấp cứu gần nơi người bệnh ở nhất ?
BS François Teboul : Application này đã không được thành lập để thay thế cho 15. Nếu ta phát hiện một vấn đề, thầy thuốc sẽ tiếp xúc với médecin régulateur của Samu Centre 15 và họ sẽ báo trước về đáp ứng tốt nhất với tình huống : pompier, ambulance, SOS médecins..
Hỏi : Các thầy thuốc có thể cấp đơn thuốc không ?
BS François Teboul : Không. Téléconsultation cũng như téléprescription bàn bạc với những cơ sở hữu trách. MyDoc là một plateforme dùng để thông tin hay định hướng bệnh nhân. Nó không thay thế một consultation với thầy thuốc của bệnh nhân.
(PARIS MATCH 10/5-17/5/2017)

9/ VIÊM ĐA KHỚP DẠNG THẤP : ĐIỀU TRỊ BẮNG KÍCH THÍCH ĐIỆN
Một thiết bị được đặt trên dây thần kinh phế vị của những bệnh nhân bị bệnh viêm đa khớp dạng thấp (poolyarthrite rhumatoide) đã cho phép làm giảm những triệu chứng của can bệnh thoái hóa này.Thế thì phải chăng vài loại thuốc là ít hiệu quả hơn một kích thích điện đơn thuần ? Đó là một câu hỏi lạ kỳ vừa được đặt ra trong trường hợp đặc biệt viêm đa khớp dạng thấp, một bệnh thoái hóa viêm do một rối loạn của hệ miễn dịch, được biểu hiện bởi một sự thoái hóa của sụn và một sự phá hủy xương.
Thật vậy, những thầy thuốc của đại học Amsterdam (Hòa Lan), liên kết với Viện Feinstein de Manhasset (Hoa Kỳ), vừa chứng minh rằng một kích thích điện cải thiện một cách đáng kể đời sống của các bệnh nhân. Những bệnh nhân này được điều trị theo phương pháp cổ điển với những thuốc chống viêm để làm giảm đau hay những thuốc làm suy giảm miễn dịch để kiểm soát viêm. Thế mà, mặc dầu những điều trị này cho phép ổn định căn bệnh, ” vài bệnh nhân không đáp ứng với chúng, và các bệnh nhân thường tái phát sau khi ngừng thuốc “, các tác giả của công trình nghiên cứu đã ghi nhận như vậy.Phương pháp này nhằm đặt một máy kích thích (stimulateur) vào dây thần kinh phế vị (nối não với nhiều cơ quan khác ) và ức chế sự sản xuất những phân tử viêm (cytokine), hiện tượng được gọi là “phản xạ viêm”. Một cách cụ thể, thiết bị giống với một pacemaker. Thử nghiệm lâm sàng được thực hiện trên 17 bệnh nhân bị viêm đa khớp dạng thấp, trong đó nhiều người bị thất bại điều trị. Kết quả sau ba tháng : sự sản xuất TNF (tumor necrosis factor), một cytokine quan trọng có liên hệ trọng phản ứng viêm, đã bị ức chế, mức độ nghiêm trọng của bệnh do đó bị giảm. Nhiều bệnh nhân đã cải thiện đáng kể và không có những tác dụng phụ nghiêm trọng. ” Đó là công trình nghiên cứu đầu tiên cho thấy rằng ta có thể điều trị viêm đa khớp dạng thấp bằng cách kích thích trực tiếp phản xạ viêm bằng cách đặt một thiết bị điện tử “, Paul Peter Tak, đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã bình phẩm như vậy.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2016)

10/ ĐIẾC, Ù TAI : PHÁT HIỆN VÀ ĐIỀU TRỊ
GS Bernard Fraysse, trưởng khoa ORL ở CHU de Toulouse, bệnh viện Purpan, chủ tịch của Société mondiale d’ORL, nói về những đổi mới và những thách thức trong ORLHỏi : Có những dạng và nguyên nhân của điếc. Đó là gì ?
GS Bernard Fraysse. Có hai dạng điếc lớn. 1. Những dạng điếc dẫn truyền (surdité de transmission) do thương tổn màng nhĩ hay những xương nhỏ (osselets). Những xương nhỏ trong tai giữa (oreille moyenne) này có tác dụng khuếch đại những rung động (vibrations). Nguyên nhân là nhiễm trùng (viêm tai mãn tính) hay di truyền (otospongiose).2. Những dạng điếc tiếp nhận (surdité de perception), thường gặp nhất, là presbyacousie (liên kết với sự lão hóa) và bệnh Ménière (do thiếu sót trong quá trình tan đi của các chất dịch lưu thông trong tai trong). Một nguyên nhân thứ ba của điếc là neurinome de l’acoustique, một u hiền tính của dây thần kinh phụ trách sự cân bằng. Thương tổn có thể xảy ra một bên hay hai bên.
Hỏi : Những rối loạn khác đi kèm chứng điếc ?
GS Bernard Fraysse. Có thể được thêm vào là những tiếng thường trực hay từng hồi, được sinh ra bởi tai trong chứ không phải từ bên ngoài : những acouphène.
Hỏi : Tần số của chứng điếc và của ù tai (acouphène) trong toàn dân ?
GS Bernard Fraysse. 6 triệu người ở Pháp bị điếc ở những mức độ khác nhau, trong đó 300.000 bị nặng với biến đổi quan trọng của sự hiểu và truyền đạt đạt, và 5 triệu bị ù tai liên kết hay không với điếc.
Hỏi : Những nguyên nhân của điếc ở trẻ em, những nguy cơ và enjeu ?
GS Bernard Fraysse. Những rối loạn thính giác có nguồn gốc di truyền hay virus (cytomégalovirus mắc phải lúc thai nghén). Một dự luật năm 2014 đã bắt buộc công tác điều tra phát hiện một chứng điếc trong tất cả các maternité của nước Pháp : 99% được hưởng sự điều tra phát hiện này. Tuy nhiên cần phải kiểm tra tính thích đáng của công tác điều tra phát hiện này, để trong trường hợp bị thương tổn, một xử trí sớm được thực hiện, bởi vì mọi sự chậm trễ có thể dẫn đến những rối loạn quan trọng của ngôn ngữ và của sự phát triển nhận thức của đứa bé.
Hỏi : Thế ở người lớn ?
GS Bernard Fraysse. Ở người lớn, nhất là những người già, có một mối liên hệ trực tiếp giữa mức độ mất thính giác và sự sa sút trí tuệ (déclin cognitif) do tình trạng cô đơn của người bệnh. Ở đây cũng phải hành động sớm.
Hỏi : Những giải pháp điều trị thường được đề nghị trong mỗi trong những bệnh lý mà chúng tôi vừa nêu lên là những giải pháp nào ?
GS Bernard Fraysse. Đối với điếc dẫn truyền (surdité de transmission), vi ngoại khoa (microchirurgie) cho phép ghép màng nhĩ hay tái tạo hệ thống dẫn truyền âm thanh. Đối với điếc tiếp nhận (surdité de perception), ta nhờ đến những prothèse thính giác, và, khi sự khuếch đại âm thanh không đủ, những implant cochléaire (những điện cực kích thích dây thần kinh thính giác), được đặt trong tai trong.
Hỏi : Còn đối với ù tai (acouphène) ?
GS Bernard Fraysse. Đối với những ù tai liên kết với điếc, prothèse thính giác đôi khi có thể làm giảm chúng. Bằng không, một máy phát tiếng động với một tần số gần với chứng ù tai cho phép che khuất nó. Trong trường hợp thất bại, những buổi thépapie comportementale cognitive là hữu ích.
Hỏi : Những đổi mới kỹ thuật và những kỹ thuật y khoa mới nhất là gì ?
GS Bernard Fraysse. Về prothèse auditive, điện tử hoc hiện nay cho phép người nghễnh ngãng(malentendant) tách lời nói được nghe khỏi một môi trường ồn ào, không còn bị khó chịu nữa, và cho phép có những connections WiFi giữa prothèse và điện thoại. Còn về những implant cochléaire, những điện cực thế hệ mới nhất có thể được đặt gần dây thần thính giác và như thế nhắm tốt hơn những vùng cần phải kích thích. Do đó một thính giác tốt hơn. Bây giờ su tiêm cấp cứu vào màng nhĩ được thực hiện ở cabinet de consultation, không đau với gây tê tại chỗ. Ta tiêm corticoide trong trường hợp điếc đột ngột hay tiêm gentamicine trong bệnh Ménière với chóng mặt cấp tính. Cùng đường tại chỗ, những thuốc mới và hứa hẹn chẳng bao lâu sẽ được cho phòng ngừa để ngăn cản hay hạn chế sự phá hủy những tế bào của thính giác.
Hỏi : Những chi phí liên quan với những kỹ thuật này có được bồi hoàn không ?
GS Bernard Fraysse. Implant và tiêm trong màng nhĩ, vâng, nhưng giá của prothèse auditive là quá cao, vấn đề quan trọng đối với nhiều người hưu trí.
(PARIS MATCH 20/7-26/7/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/9/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s