Thời sự y học số 441 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ TÉLÉMÉDECINE (VIỄN Y), MỘT THỰC TẾ CỦA NGÀY MAI.
Sự kiện tiếp xúc với một thầy thuốc, dầu ở đâu trong nước Pháp có những ưu điểm.SANTE PUBLIQUE. Đó là giấc mơ của mọi thị trưởng của một commune ở vùng thôn quê : đề nghị cho các công dân của mình những thầy thuốc hay những chuyên gia mà họ cần nhưng không phải đi hàng chục km như điều diễn ra hôm nay ! Télémédecine de proximité này phải chăng sẽ trở thành hiện thực trong những năm đến ? Đối với GS Thierry Moulin, chủ tịch của viễn y Pháp (SFT : Société française de télémédecine), trưởng khoa thần kinh ở CHRU de Besançon và đã làm việc nhiều từ 16 năm nầy để thiết đặt mạng các cấp cứu thần kinh của Franche-Comté, ” tất cả các cơ sở được đặt để télémédecine trải nghiệm một phát triển quan trọng. Những liên hệ giữa thành phố và bệnh viện đã hiện hữu, với những réseaux de soins đã được đưa vào tốt. Không có khó khăn đặc biệt về mặt pháp ly vì lẽ télémédecine hưởng được một traçabilité rất tốt (những trách nhiệm bị quy kết cũng giống như khi yêu cầu một avis médical). Các kỹ sư đã có thói quen làm việc với các người điều trị để đề nghị những công cụ sử dụng đơn giản. Và sự đào tạo télémédecine phát triển nhờ sự ra đời của một văn bằng đại học được mở cho tất cả các tác nhân của télémédecine có bac 3+. Vậy đó chủ yếu là một vấn đề ý muốn chính trị.”
Tuy vậy, télémédecine không có gì liên quan với một khám bệnh hạ giá trước một ordinateur, vì thiếu một thầy thuốc bằng xương bằng thịt để thực hiện một khám lâm sàng.Télémédecine, hay khám từ xa (consultation à distance) bởi một thầy thuốc, không thể được thực hiện mà không có tính người, và ngoài ra đó không phải là một giải pháp được dự kiến bởi hiệp hội viễn y Pháp.
” Những paramédicaux có thể nhận một đào tạo đặc biệt để tham gia khám một bệnh nhân với điều kiện ta mở rộng champ de compétence của họ, theo hình ảnh của điều đã xảy ra đối với orthoptiste, từ năm 2016 được cho phép để giảm bớt công việc của các thầy thuốc nhãn khoa. Télémédecine không phải là một sự làm cho y khoa mất tính người, nhưng một cách để làm cho những bệnh nhân và người điều trị xích lại gần nhau trong khung cảnh các mạng rất được cơ cấu hóa, rất được tổ chức, với một traçabilité rất lớn. Vậy không nên thấy télémédecine này như một “ubérisation” của sức khỏe, nhưng đúng hơn như phương tiện để nhận cùng những ý kiến, cùng những theo dõi, dầu ta ở đâu ở Pháp hay ở nơi khác.Télémédecine không được xét đến nếu không có sự đồng ý của bệnh nhân, một acteur de santé tách riêng hoàn toàn.Trong những nước scandinave, ở đây télémédecine được du nhập tốt, sự điều trị các bệnh nhân thông suốt “, GS Moulin đã nhấn mạnh như vậy.Theo một đạo luật tháng mười 2010, télémédecine đã có nhiều champs d’action : téléconsultation, téléexpertise, télésurveillance và téléassistance, không quên régulation médicale mà những người sử dụng biết rõ qua thí dụ của thầy thuốc của Samu nhận en ligne vài appels đến centre 15.
” Khi một thầy thuốc cấp cứu hỏi ý kiến của một thầy thuốc chuyên khoa thần kinh ở xa, thí dụ trong trường hợp nghi ngờ về một tai biến mạch máu não, đó là téléexpertise và vì có một trao đổi thật sự giữa hai chuyên gia này, nên điều đó cũng góp phần vào sự phổ biến những kiến thức và những thực hành tốt , GS Moulen đã giải thích như vậy. Khi thầy thuốc cấp cứu nhờ giúp đỡ khi thực hiện một động tác nhằm lấy đi một cục máu đông bít một động mạch não bởi vì mỗi phút được coi trọng (hai triệu neurone chết mỗi phút), đó là téléassistance médicale. Khi nạn nhân của tai biến mạch máu não, mặc dầu đã không thể được chuyển đến trong một unité neuro-vasculaire, vẫn được giúp theo dõi bởi unité này từ khoa mà bệnh nhân được nhận vào, đó là télésurveillance. Sau cùng, khi, trở về nhà, bệnh nhân nhận một theo dõi đặc biệt nhờ sự phối hợp giữa thầy thuốc điều trị và thầy thuốc bệnh viện. Vậy có một giá trị thật sự.”
Modèle này thích ứng tốt với những vùng rất nông thôn và dĩ nhiên với tất cả những tình huống trong đó một người ở cách xa tất cả (navigateur, người thám hiểm…). ” Télémédecine cũng có thể giúp những người trong tình trạng polyhandicap, điều này làm cho sự xê dịch của họ để được một ý kiến chuyên khoa đôi khi phức tạp đến độ nhiều người từ chối điều đó “, GS Nathalie Salles, trưởng khoa gérontologie clinique ở CHU de Bordeaux và chủ tịch của SFT. ” Télémédecine thật sự cho phép làm giảm espace-temps cần thiết cho sự xử trí và giải quyết tình trạng thiếu chuyên gia. Télémédecine cũng cho phép tiêu chuẩn hóa những thực hành. Với chừng ấy những điểm dương tính, không có gì ngạc nhiên rằng khoa thần kinh, nhưng cũng những chuyên gia khác như cardiologie, néphrologie, diabétologie, dermatologie, ophtalmologie, ngoại khoa ngoại trú, sản khoa với sự theo dõi những thai nghén nguy cơ và gériatrie, càng ngày càng hướng về télémédecine, trước hết là một vấn để tổ chức”, GS Moulin và GS Salles đã nhấn mạnh như vậy.
(LE FIGARO 22/5/2017)

2/ ĐIỀU MỚI TRONG EHPAD
Từ tháng ba 2017, những Ehpad (étéblissement d’hébergement pour personnes agées dépendantes) có thể nhờ đến téléconsultation và téléexpertise. Một bước tiến lớn về phía trước nhờ rất nhiều Nathalie Salles (pole de gérontologie clinique, CHU de Bordeaux). Vào năm 2010, trong khi bà tham dự một hội nghị về bệnh ngoài da ở Phần Lan, GS Salles nhìn thấy một vidéo của một dermatologue của Helsinski đang khám cho một người sống ở Laponie : ” Thật là tuyệt vời. Tôi đã tự nhủ là cách làm này rất hợp với những bệnh nhân già của chúng tôi ở Ehpad. Thí nghiệm phát xuất từ Aquitaine. Hôm nay, 52 Ehpad đã đuổi kịp chúng tôi và chúng tôi hiện đảm nhận khoảng 65 téléconsultation mỗi tháng. Những Ehpads của những tỉnh khác theo và, với nhịp điệu này, đó có thể sẽ là toàn bộ lãnh thổ trong những năm đến !
Nếu sự thành công của télémédecine rõ rệt như the trong những Ehpads, đó không phải là một tình cờ : ” Télémédecine mang lại sự tiếp cận điều trị, trong một nơi mà rất thường thầy thuốc điều trị từ chối đòi hỏi một ý kiến chuyên khoa, hoặc bởi vì khó huy động bệnh nhân trong tình huống handicap, hoặc bởi vì bệnh nhân có những rối loạn hành vi có thể trầm trọng khi nhập viện.
” NHIỀU NGƯỜI ĐƯA TAY ĐẾN CHÚNG TÔI VÀO CUỐI TELECONSULTATION
Trên thực hành, téléconsultation có thể được thực hiện hoặc trong phòng của résident, hoặc trong một phòng dành riêng cho việc này, với sự đồng ý của bệnh nhân và sự đồng ý của thầy thuốc điều trị của mình. Dụng cụ cần thiết gồm có một caméra (dễ di chuyển) và hai écran : ” Ecran đầu tiên cho phép bệnh nhân thấy chúng tôi và thảo luận trực tiếp với thầy thuốc chuyên khoa của mình, trong khi écran kia, dành cho nhân viên điều trị, zoomer trên một thương tổn hay một điều trị…Những téléconsultation thường gặp nhất là những vết thương mãn tính, những rối loạn của hành vi, những biến dạng của dây gân, những soins palliatifs, sự theo dõi những bệnh lý mãn tính, sự phát hiện những vấn đề về răng…Bằng cớ rằng những bệnh nhân không quan tam đến sự cách xa của các thầy thuốc chuyên khoa là nhiều người chìa tay đến chúng tôi vào cuối téléconsultation ! Ngoài ra, vì ở trong môi trường của họ, với sự hiện diện của những người săn sóc mà họ biết, các bệnh nhân không bị căng thẳng và không mất định hướng”, GS Salles đã ghi nhận như vậy.
Sau cùng, lợi ích không chỉ đối với résident : ” Những người săn sóc học được nhiều điều từ những téléconsultation này. Vậy họ có thể sử dụng sự khéo léo này để giúp cho những résident khác. Họ còn có thể chia xẻ nó với những người săn sóc khác “, GS Thierry Moulin (chủ tịch Société française de télémédecine) đã nhấn mạnh như vậy. Không phải là tất cả ! ” Trong những nơi thiếu săn sóc y tế, những Ehpad connecté này có thể mở cửa cho những người không phải là résident để téléconsultation và như thế trở nên những “Ehpad centres ressources”. Trong vùng của chúng tôi, hai Ehpad đã bắt đầu cho những người bị bệnh mãn tính. Đó là điều có một không hai ở nước Pháp !”, GS Salles đã ghi nhận như vậy.
(LE FIGARO 22/5/2017)

3/ ” ĐỂ GIÚP ĐỠ TỐT HƠN BỆNH NHÂN TRONG ĐỜI SỐNG “THẬT” CỦA MÌNH.
Đối với Lydie Canipel, cựu y tá trở thành tổng thư ký của Société française de la télémédecine, cách thực hành này rất hợp với sự theo kèm điều trị những bệnh nhân bị bệnh mãn tính. Sự theo kèm này được thực hiện bởi những y tá nhiều kinh nghiệm : tối thiểu họ có 5 năm kinh nghiệm trên thực địa, trong đó 3 năm săn sóc nhưng những bệnh nhân bị một bệnh lý mãn tính, và ngoài ra theo một đào tạo đặc biệt 7 tuần.
” Thí dụ một người suy tim phải tự cân mỗi ngày trên một balance connectée (cái cân được nối với mạng) bởi vì một sự lên cân đột ngột có thể chỉ sự xuất hiện những phù nề và do đó một sự trầm trọng của bệnh suy tim. Ngày xưa, bệnh nhân này phải được nhập viện để thực hiện một bilan. Nhưng nhờ télémédecine, y tá sẽ theo dõi bệnh nhân suy tim này để kiểm tra xem có phạm phải những sai lầm vệ sinh đời sống hay khong, thậm chí tiếp xúc với thầy thuốc chuyên khoa tim để xem có phải điều chỉnh sự điều trị và giáo dục người bệnh này hay khong : được hướng dẫn như vậy, bệnh nhân này dần dần sẽ phát triển những năng lực mới khiến cho bệnh nhân tự trị hơn.Và trong trường hợp bi những khó khăn mới, bệnh nhân sẽ luôn luôn có thể tiếp xúc với y tá của mình để xin được giúp đỡ. Ngoài ra, từ nhiều năm nay, télémédecine được thực hiện cho bệnh nhân đái đường (và trong trường hợp những vết thương mãn tính) : y tá theo dõi đường huyết của bệnh nhân, kê đơn nếu cần những xét nghiệm khác và báo cho thầy thuốc chuyên bệnh đái đường trong trường hợp có những tai biến liên tiếp. Vì tất cả được thực hiện trong khung cảnh của một protocole écrit nên tất cả là an toàn và, ngoài ra y tá cũng phải tuân thủ bí mật y khoa. Télémédecine quả là một công cụ phục vụ cho người được điều trị, người săn sóc và cho thầy thuốc. Thật vậy nếu thầy thuốc phải theo dõi nhiều trăm bệnh nhân đái đường cùng một lần, ông ta không thể nhận và phân tích đường huyết của các bệnh nhân này mỗi buổi sáng trong khi các y tá theo dõi một số nhỏ các bệnh nhân đái đường có thể làm điều đó và như thế chỉ báo cho thầy thuốc chuyên khoa đái đường nếu cần. Télémédecine cuối cùng là một phương tiện tốt để giúp người bệnh trong cuộc sống “thật” của mình.
(LE FIGARO 22/5/2017)

4/ THUỐC LÁ GIA TĂNG CHỨNG XƠ CỨNG RẢI RÁC
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng chứng nghiện thuốc lá làm gia tăng mạnh (khoảng 50%) nguy cơ xuất hiện một xơ cứng rải rác. Hôm nay, các nhà nghiên cứu vừa nêu rõ rằng nó cũng có một tác dụng xấu lên tiến triển của bệnh thần kinh này, liên kết những rối loạn cảm giác, giác quan và vận động. Theo một công trình nghiên cứu, được thực hiện trong 17 năm ở 900 bệnh nhân 50 tuổi, thuộc hai giới tính, những score de sévérité có được trên các thang đánh giá handicap cao một cách đáng kể ở những người hút thuốc (3 đến 16 điều mới ngày). Sự việc đáng kể và không được nêu lên cho đến nay là những score này cao hơn ở những người hút thuốc so với những người đã từng hút thuốc, dầu cho những người này đã ngừng hút trước hay sau khi căn bệnh đã phát khởi. Sự ngừng thuốc lá vậy phải được khuyến khích ở những người bị chứng xơ cứng rải rác hay có những nguy cơ phát triển bệnh (ví dụ nguy cơ gia đình)
(SCIENCES ET AVENIR 9/2013)

5/ PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP KHÔNG ĐỂ LẠI SẸO CÓ THỂ NHÌN THẤY.
BS Dana Hartl, BS chuyên khoa TMH và ngoại khoa mặt và cổ ở Gustave-Roussy, giải thích tiến bộ này, cho phép cắt bỏ một thùy của tuyến giáp nhưng không để lại sẹo ở đáy cổ.
Hỏi : Chức năng của tuyến giáp là gì?
BS Dana Hartl. Tuyến giáp tiết những hormone cần thiết cho sự hoạt động của các tế bào. Ta không thể sống mà không có những kích thích tố tuyến giáp, chính vì vậy, khi không có tuyến giáp, ta phải cho một cách hệ thống một điều trị để thay thế chúng.
Hỏi : Những bất thường nào của tuyến giáp thường khiến bệnh nhân đi khám bệnh ?
BS Dana Hartl. Thường nhất, một mặt, những bất thường liên hệ chức năng của tuyến giáp, mặt khác sự xuất hiện của một u hiền tính hay ung thư. Về chức năng tuyến giáp, có thể đó là :
1. Một tăng năng tuyến giáp (hyperthyroidie) khi tuyến tiết quá nhiều hormone. Có thể khi đó bệnh nhân bị nóng quá mức với hồi hộp, và mồ hôi, run, rối loạn giấc ngủ…
2. Một giảm năng tuyến giáp (hypothyroidie) khi tuyến giáp không tiết đủ kích thích tố. Trong trường hợp này có sự mất năng lượng, sợ rét, mệt…Các hòn giáp (nodule thyroidien) rất thường được khám phá mot cach tình cờ, bởi vì không có triệu chứng. Phần lớn các bệnh nhân được gởi đến chúng tôi bởi thầy thuốc điều trị khi họ có một nghi ngờ sau khi ấn chẩn hay sau khi khám vì một bệnh khác. Và trong phần lớn các trường hợp, những hòn giáp này là hiền tính.
Hỏi : Làm sao xác lập chẩn đoán một cách nhanh chóng, để biết một hòn giáp là ung thư hay không ?
BS Dana Hartl. Ta bắt đầu bằng cách thực hiện một siêu âm và một định lượng TSH (kích thích tố não thùy kích thích tuyến giáp), cho phép đánh giá chức năng tuyến giáp. Khi một hòn giáp đo được dưới 1 cm, và tùy theo dạng vẻ trên những hình ảnh siêu âm, ta thực hiện một cytoponction, được hướng dẫn bởi siêu âm. Ở Gustave-Roussy, chúng tôi đã xác lập “chẩn đoán trong một ngày” : các bệnh nhân có kết quả trong ngày và, nếu cần, gặp thầy thuốc ngoại khoa trước khi trở về nhà. Sau đó sự lấy hẹn để can thiệp sẽ được ấn định.
Hỏi : Khi cần một can thiệp ngoại khoa, protocole cổ điển là gì ?
BS Dana Hartl. Ta có thể phải, hoặc là lấy đi một trong hai thùy, hoặc là toàn bộ. Thầy thuốc ngoại khoa thực hiện một đường xẻ 4-8 cm ở đáy cổ tùy theo kích thước của hòn giáp. Cuộc mổ được thực hiện với gây mê tổng quát và kéo dài khoảng 1 giờ nếu là cắt bỏ một thùy và hai giờ đối với toàn bộ tuyến giáp.
Hỏi : Không giải phẫu, những nguy cơ của một hòn giáp ung thư (nodule cancéreux) là gì ?
BS Dana Hartl. Có hai dạng của những ung thư này. 1. Những microcancer dưới 1 cm có rất ít nguy cơ tiến triển tại chỗ. 2. Những ung thư khác, nguyên tắc tiến triển chậm, tuy nhiên trong vài trường hợp có thể xâm chiếm những cơ quan lân cận (khí quản, thực quản…) và phân tán trong các hạch cổ, thậm chí những cơ quan ở xa.
Hỏi : Những kết quả của chirurgie standard này ?
BS Dana Hartl. Những kết quả rất thỏa mãn : từ 90 đến 95% những bệnh nhận được chữa lành, nhưng những vết sẹo vẫn có thể thấy được, điều này nhắc lại căn bệnh ung thư trong khi người ta muốn quên đi.
Hỏi : Để tránh di chứng sẹo ở đáy cổ này, bà sử dụng kỹ thuật mới nào ?
BS Dana Hartl. Đó là một kỹ thuật ngoại khoa được robot hỗ trợ, được phát triển ở Hoa Kỳ, trong đó ta thực hiện một đường xẻ không còn ở đáy cổ mà sau tai.Người mổ, ngồi sau một console, điều khiển những cánh tay của robot.
Những động tác do robot điều khiển chính xác hơn nhiều những động tác bằng tay của phẫu thuật viên. Người mổ có được một phẫu trường được làm lớn lên từ một caméra của robot.
Kíp của chúng tôi là kíp duy nhất ở châu Âu thực hiện kỹ thuật này để mổ tuyến giáp. Tôi đã học điều đó ở Hoa Kỳ, trong khoa của GS David Terris, chirurgien ORL. Bây giờ những đồng nghiệp có thể đến khoa chúng tôi để được đào tạo.
Hỏi : Ta được kết quả nào với chirurgie robotisée ?
BS Dana Hartl. Những kết quả thường rất tốt, như ngoại khoa cổ điển. Chúng tôi phát động một công trình nghiên cứu trong 1 năm trên 188 bệnh nhân bị một ung thư tuyến giáp (dưới 4 cm) và bị những u nghi ngờ cần lấy đi một thùy hay cả hai. Các bệnh nhân này sẽ được theo dõi trong một năm.
(LE FIGARO 9/2-15/2/2017)

6/ VIÊM TUYẾN GIÁP

Những con số
– 1 trường hợp trên 1000 : tỷ lệ mắc bệnh (thế giới) hàng năm của thyroidite de Hashimoto, thường gặp nhất
– Khoảng 8 trường hợp trên 10 xảy ra ở những phụ nữ thường trên 50 tuổi
– Những bệnh của tuyến giáp xảy ra ở hơn 15% dân Pháp

CĂN BỆNH : Thyroidite chỉ một nhóm những bệnh không đồng nhất có điểm chung là sự tấn công tuyến giáp bởi một quá trình viêm. Nhiên hậu, những thương tổn này có thể gây nên một sự kém sản xuất những kích thích tố tuyến giáp được gọi là giảm năng tuyến giáp (hypothyroidie) và ảnh hưởng lên những chức năng sinh lý của cơ thể (hồi hộp, rối loạn khí chất, lên cân).
Viêm tuyến giáp De Quervain, hiền tính và do virus, gây nên một sưng phồng đột ngột và đau của tuyến giáp (goitre). Thyroidite lymphocytaire d’Hashimoto, thường gặp và mãn tính, và viêm teo tuyến giáp (thyroidite atrophique) cả hai do tự miễn dịch, dẫn đến sự phá hủy của tuyến bởi chính hệ phòng ngự của mình. Viêm tuyến giáp hậu sản (thyroidite du post-partum), trong 8 đến 10% những trường hợp xảy ra sau khi sinh, nói chung có tính cách tạm thời. Sau cùng, thyroidite fibreuse, hiếm nhưng nghiêm trọng, sự cứng của tuyến giáp gây trở ngại cho sự nuốt và thở.
ĐIỀU TRỊ : Trong khi vài viêm tuyến giáp rất đau, những viêm khác không triệu chứng, khó chẩn đoán. Một bilan tuyến giáp có thể giúp phát hiện một giảm năng tuyến giáp (hypothyroidie). Khi đó ta quan sát một sự giảm của những nồng độ trong máu của kích thích tố tuyến giáp, T4 (thyroxine) và T3 (tri-iodothyronine) và một sự gia tăng của TSH, được sinh ra bởi não thùy để gia tăng sự sản xuất quá yếu của tuyến giáp .
Xét nghiệm máu cũng cho phép phát hiện một nguồn gốc virus (thyroidite de De Quervain), được đặc trưng bởi một nồng độ bạch cầu gia tăng, hay một nguồn gốc tự miễn dịch (thyroidite d’Hashimoto hay atrophique), bằng cách phát hiện sự hiện diện của những kháng thể chống tuyến giáp (anticorps antithyroidien).
Điều trị thay đổi tùy theo những căn nguyên này. Thyroidite de De Quervain và thyroidite du post-partum chữa lành một cách ngẫu nhiên, vậy không cần điều trị nào khác là điều trị những triệu chứng tổng quát (đau, hồi hộp). Trong những trường hợp khác, mục đích của điều trị là xử trí giảm năng tuyến giáp bằng cách cung cấp, qua đường thuốc, những kích thích tố bình thường được sản xuất bởi tuyến giáp. Sự điều chỉnh sự thiếu hụt kích thích tố cũng cho phép làm giảm kích thước của tuyến giáp.
Sự thay thế chủ yếu liên quan hormone T4 bởi một hormone de synthèse, lévothyroxine sodique. Có thể biến đổi một cách tự nhiên một phần của hormone T4 thành T3, vì vậy hiếm khi kê đơn T3 tổng hợp. Điều trị hormone, có thể tạm thời hay suốt đời, phải được đánh giá lại một cách đều đặn để tìm và gìn giữ một liều lượng đúng đắn.
Sau cùng, trong những trường hợp ngoại lệ nhưng nghiêm trọng của thyroidite fibreuse, một can thiệp ngoại khoa nhanh là cần thiết để lấy đi tuyến giáp, trở nên xơ hóa và to lớn, trước khi nó xâm chiếm những cơ quan lân cận như khí quản, thực quản và những dây thanh âm.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2015)

7/ THYROIDITE DU POST-PARTUM : NHỮNG RỐI LOẠN CƠ THỂ XUẤT HIỆN SAU KHI SINH.
Viêm tuyến giáp hậu sản là một bệnh thường không được biết, tuy vậy được quan sát ở 5-10% những phụ nữ sau khi sinh. Khi có thai, phụ nữ phát triển một dung nạp miễn dịch (tolérance immunitaire) để bảo vệ thai nhi trở thành một vật lạ. Sau khi sinh, tỷ lệ kháng thể gia tăng và vài kháng thể có thể tấn công tuyến giáp đến độ phá hủy cấu trúc của nó và phóng thích những kích thích tố vào trong tuần hoàn, gây một tăng năng tuyến giáp. Hyperthyroidie được biểu hiện bởi một tình trạng rất mệt mỏi và một sự mất cân nhanh. Tăng năng tuyến giáp được tiếp theo sau 4 hay 5 tháng, trong khi tuyến giáp khó nhọc phục hồi, bởi một giai đoạn giảm năng tuyến giáp (mệt, rối loạn kinh nguyệt, tình trạng trầm cảm nhẹ, nồng độ cholestérol tăng cao). Những dấu hiệu này thoái biến trong vài tháng, nhưng, trong 10% những trường hợp, một giảm năng tuyến giáp cặn (hypothyroidie résiduelle) cần một điều trị suốt đời.
(SCIENCES ET AVENIR 4/2015)

8/ MỘT EXOSQUELETTE CẢI TIẾN ĐỂ TRÁNH SỰ TÉ NGÃ CỦA CÁC LÃO NIÊN
Té là nguyên nhân thứ nhất gây tử vong do té ngã tai nạn ở những người trên 65 tuổi. Làm sao làm giảm những trường hợp té ngã này ? Bằng duy trì physique của các lão niên, dĩ nhiên, nhưng các nhà nghiên cứu của Scuola Sant’ Anna ở Ý và Trường bách khoa liên bang Lausanne của Thụy Sĩ đề nghị một giải pháp mới : một exosquelette.Prototype của chúng tôi, đặc biệt đổi mới, là “prototype đầu tiên được sử dụng một cách hiệp đồng với bệnh nhân để giúp thấy trước sự té ngã”, Silvestro Micera đã giải thích như vậy. Exosquelette đã được trắc nghiệm trên 8 người già. Các bệnh nhân phải theo tốc độ bước bình thường của họ trên một tapis gây những rối loạn cơ học tương tự với những trượt chân. Khi đó exosquelette có khả năng phát hiện en temps réel sự rối loạn và nhất là sinh ra những biện pháp chống lại ở háng của người sử dụng để tái lập tính vững của nó.
Vẫn còn vài cải thiện cần phải dự kiến : ” Chúng tôi sẽ làm cho thiết bị này nhẹ hơn và người già có thể mang từ nay cho đến hai hay ba năm nữa “, Silvestro Micera đã xác nhận như vậy.
(SCIENCES ET VIE 7/2017)

9/ DI CĂN ĐỐT SỐNG : KỸ THUẬT VI XÂM NHẬP MỚI
BS Bruno Pouit, neurochirurgien thuộc Centre francilien du dos ở Versailles, giải thích cách tác dụng của một thiết bị cải tiến, vũ khí mới chống những u thứ phát của cột sống.
Hỏi : Một di căn đốt sống được thể hiện như thế nào ?BS Bruno Pouit. Khối u ung thư thứ phát này, nguồn gốc của những đau đớn, có dạng vẻ của một khối nằm bên trong đốt sống mà nó đã xâm chiếm, gần tủy sống và các dây thần kinh.Một định vị rất đau bởi vì di căn này có thể tăng thể tích, đi ra khỏi đốt sống và đè ép những cấu trúc thần kinh lân cận.
Hỏi : Khi một đốt sống bị di căn, điều trị vi xâm nhập thường được áp dụng nhất là điều trị nào ?
BS Bruno Pouit. Điều trị sẽ tùy thuộc vào mỗi bệnh nhân. Một trong những điều trị là những buổi xạ trị, trong mục đích tiêu hủy những tế bào ung thư, tiếp theo sau, trong thì hai, bởi một vertébroplastie (những mũi tiêm qua da một ciment chirurgical để củng cố đốt sống) cũng sẽ làm thuyên giảm những đau xương. Trong can thiệp này, bệnh nhân đang được điều trị hóa trị nhung không ngừng chúng.
Hỏi : Ta sợ gì trước sự hiện diện của một di căn đốt sống ?
BS Bruno Pouit. Sự đè ép tủy, nguy cơ gây liệt và đau đớn dữ dội, gãy đốt sống bị di căn.
Hỏi : Với điều trị xạ trị chuẩn, tiếp theo bởi vertébroplastie, những kết quả thường là gì ?
BS Bruno Pouit. Những kết quả là tốt nhưng xạ trị không ngăn cản sự xuất hiện của một tái phát và không thể thực hiện nó lần thứ hai.
Hỏi : Kỹ thuật vi xâm nhập mới nhất để điều trị những di căn đốt sống này là gì ?
BS Bruno Pouit. Thủ thuật này, được gọi là ” OsteoCool”, được căn cứ trên nguyên tắc của tác dụng nhiệt của những sóng tần số phóng xạ (ondes de radiofréquence). Cho đến nay, chúng hiếm khi được sử dụng trên cột sống vì những nguy cơ do sự gần nhau của tuy sống và những dây thần kinh. Và những thiết bị hiện nay chỉ được chế tạo đối với gan, phổi và thận. Thiết bị mới và đặc thù này dành cho cột sống.
Hỏi : Protocole điều trị gì ?
BS Bruno Pouit. Can thiệp, dưới gây mê tại chỗ hay tổng quát, nhằm đặt qua da một hay hai kim vào trong khối u. Những chiếc kim này được nối với một máy phát sóng tần số phóng xạ. Máy này phát ra một dòng diện sinh nhiệt. Khối u sẽ bị phá hủy với một độ chính xác lớn và những cơ quan lân cận sẽ được gìn giữ. Trong cùng thì mổ (dưới 1 giờ), ta thực hiện một cắt bỏ di căn bằng nhiệt và, nếu cần một vertébroplastie. Kỹ thuật mới đối với những di căn cột sống cũng có thể được sử dụng bổ sung cho một xạ trị. OsteoCool có ưu điểm lớn là có thể lập lại.
Hỏi : Ta đã có được những kết quả nào với kỹ thuật can thiệp mới này ?
BS Bruno Pouit. Một công trình nghiên cứu của Canada đã được thực hiện ở 22 bệnh nhân trong centre d’oncologie ở Toronto. Trên bình diện đau, những kết quả cao hơn những kết quả có được với những xử trí thông thường. Những di căn đã bị phá hủy mà không có một thương tổn thần kinh nào và thời kỳ sau thủ thuật đã diễn ra không có những biến chứng.
Hỏi : Có những chống chỉ định đối với sự sử dụng của điều trị vi xâm nhập đặc thù đối với những u đốt sống này ?
BS Bruno Pouit. Vâng. Di căn không được vượt quá 3 cm và những người mang pacemaker không thể nhận điều trị này vì sự phát ra những sóng radiofréquence.
Hỏi : Giai đoạn kế tiếp là gì ?
BS Bruno Pouit. Chúng tôi hy vọng hiệu chính được một điều trị chữa lành của những ung thư xương nguyên phát của cột sống và không còn chỉ ở giai đoạn di căn nữa. Những công trình nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá một cách chính xác hơn sự phá hủy khối u với thiết bị OsteoCool de radiofréquence.
Hỏi : Hiện nay, ở đâu ta có thể nhận được điều trị mới này ?
BS Bruno Pouit. Ở Institut Curie (Paris), ở Gustave-Roussy de Villejuif, ở Centre francilien du dos ở Versailles, ở Centre Léon-Bérard de Lyon và ở CHỦ de Strasbourg.
(PARIS MATCH 27/4-3/5/2017)

10/ PHÁT HIỆN NHỮNG UNG THƯ VÚ CÓ NGUY CƠ CỰC KỲ THẤP
Trong phần lớn các ung thư vú, các tế bào ác tính được kích thích bởi các oestrogène, do đó sau khi cắt bỏ ung thư và xạ trị, thường thêm một hormonothérapie trong hai đến năm năm để phong bế tác dụng của oestrogène và hạn chế nguy cơ tái phát. Điều trị này được kèm theo nhiều tác dụng phụ và không luôn luôn được biện minh. Thật vậy, 1/4 bệnh nhân có một ung thư không đau (cancer indolent), tiến triển chậm, có nguy cơ di căn rất thấp : tỷ lệ sống còn của họ lúc 20 năm, dầu họ có nhận hormonothérapie hay không, là rất thấp (lần lượt 97% và 94%). Một trắc nghiệm di truyền (MammaPrint) nhằm phát hiện những ung thư này vừa được chấp thuận bởi giới hữu trách ở Hoa Kỳ và châu Âu. Trắc nghiệm này góp phần làm giảm số những hormonothérapie vô ích.
(PARIS MATCH 27/7-2/8/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(10/8/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s