Xử trí sớm bệnh nhân chấn thương nặng (Chương 2, Phần 1) – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHƯƠNG II
NHỮNG CƠ CHẾ CHẤN THƯƠNG
(MÉCANISMES LÉSIONNELS)

Dr. Jean-Marie Jacques
Service de Urgences
CH Hornu-Frameries, Hornu
Belgique

PHẦN I

A. NHẬP ĐỀ
Mỗi chấn thương có những đặc điểm riêng và độc nhất, với những hậu quả đặc biệt đối với bệnh nhân. Mỗi chấn thương theo định nghĩa là độc nhất. Tuy nhiên, có những loại cổ điển chấn thương tùy theo cơ chế đã gây tai nạn. Chính vì thế điều luôn luôn thiết yếu là tìm kiếm những thông tin khả dĩ liên quan đến tai nạn. Đó là một giai đoạn không thể tránh được và thiết yếu. Khi có thể được, những hình ảnh chụp tại nơi tai nạn, trong trường hợp tốt nhất sẽ cho phép kíp bệnh viện hiểu cơ chế của tai nạn, tầm quan trọng của nó và những thương tổn có thể thấy ngay tại chỗ.
Khi có được một thông tin hoàn toàn và chính xác của cơ chế thương tổn, kíp y khoa có thể tiên đoán những thương tổn mà bệnh nhân có khả năng bị, đôi khi ngay trước khi chúng được biểu hiện hay trước khi chẩn đoán chúng.
Sự hiểu biết cơ chế thương tổn cho phép tiên đoán đến 90% những thương tổn của bệnh nhân.

Điều thiết yếu là lấy tối đa các thông tin về tai nạn ở kíp tiền viện.
Điều thiết yếu là có thể biết :
– những thông tin về giai đoạn đã đi trước tai nạn : uống rượu hay các độc chất, đau ngực, động kinh, mất tri giác trước khi va chạm,…
– loại chấn thương : sự đụng nhau giữa hai chiếc xe, té ngã, vết thương xuyên.
– một ước tính về lượng năng lượng được trao đổi lúc chấn thương : tốc độ của xe lúc va chạm, độ cao của té, cỡ và kích thước của hỏa khí…
– loại va chạm mà bệnh nhân chịu : một sự đụng nhau giữa hai xe hơi, đụng vào một cây, một nhát dao…
Những mô sinh học chỉ có thể chịu một mức độ nào đó của stress vật lý, môi trường hay sinh lý. Một thương tổn xuất hiện khi năng lượng mà một mô chịu vượt quá ngưỡng thương tổn hay ngưỡng chịu được đối với mô này. Năng lượng có thể được gây nên bởi những nguồn gốc khác nhau :
– Energie cinétique (động năng)
– Energie thermique (nhiệt năng)
– Energie électrique (điện năng)
– Energie chimique (hóa năng)
– Energie nucléaire (năng lượng nguyên tử)
Khả năng chịu được của một mô nào đó tùy thuộc những yếu tố khác nhau như bản chất của mô bị thương tổn cũng như tuổi tác và sức khỏe vật lý của bệnh nhân. Vậy ta có thể hiểu rằng cơ chế thương tổn có hai thành phần :
– Vật lý liên kết với sự chuyển năng lượng (bị ảnh hưởng bởi loại và quy mô của năng lượng cũng như thời gian tiếp xúc với năng lượng này)
– Sự đáp ứng sinh học của cơ thể chịu năng lượng này (bị ảnh hưởng bởi khả năng chịu được của các mô, các cơ quan hay những cấu trúc bị thương tổn)

B. NHỮNG CHẤN THƯƠNG BỞI ĐỘNG NĂNG
I. NHỮNG NGUYÊN TẮC VẬT LÝ
Động năng (énergie cinétique) là năng lượng liên kết với chuyển động và là cơ chế thường thấy nhất dẫn đến chấn thương. Cơ chế thương tổn này được tìm thấy trong trường hợp tai nạn lưu thông, chấn thương xuyên (traumatisme pénétrant), té ngã hay những thương tổn do ép (lésions de compressions).
Để hiểu rõ ý niệm động học hay cơ học của tai nạn và của chấn thương, phải nhớ vài quy tắc vật lý.
+ Định luật Newton thứ nhất
Một vật lúc nghỉ vẫn ở trạng thái nghỉ và một vật chuyển động vẫn ở trạng thái chuyển động, cùng tốc độ và trong cùng chiều, lâu chừng chừng nào một lực không còn tác động lên vật này.
Từ điều này, ta kết luận rằng ” năng lượng không biến mất và nó cũng không được tạo ra ; năng lượng chỉ thay đổi hình thái.+ Động năng (hay năng lượng chuyển động)= Ec
Ec = 1/2 MV2
Trong công thức này, ta phải ghi nhớ rằng tốc độ có một ảnh hưởng quan trọng hơn trọng lượng trong khi tính năng lượng. Nếu khối lượng gấp đôi, năng lượng sẽ gấp đôi ; nếu tốc độ gấp đôi, năng lượng sẽ gấp 4.
Điều phải nhớ để hiểu rõ ý niệm về cinétique của những chấn thương là năng lượng ban đầu bị biến hóa. Động năng (énergie cinétique) có thể được biến hóa thành năng lượng :
– nhiệt
– điện
– hóa học
– bức xạ (radiante)
– cơ học
Loại năng lượng mà chúng tôi quan tâm nhất ở đây là cơ năng (énergie mécanique).
+ Lực bằng khối lượng x giảm tốc.
F = M x (V1-V2)
Điều quan trọng là cần ghi nhớ trong đầu ý niệm giảm tốc bởi vì ý niệm này có một tác động quan trọng lên mức độ nghiêm trọng của những vết thương. Sự thay đổi tốc độ được thực hiện trong 0,1 giây hay trong 20 giây ?
Sự giảm tốc thường được liên kết với loại bề mặt va chạm (mur de ciment vs banc de neige ?)
Những vết thương của bệnh nhân sau đó được gây nên bởi sự chuyển năng lượng lên cơ thể. Chúng liên quan trực tiếp với lực được truyền và cách mà nó được truyền lên bệnh nhân.
II. ĐỘNG HỌC ÁP DỤNG CHO BỆNH NHÂN HAY TIÊN ĐOÁN CÁC VẾT THƯƠNG.
Khi một nạn nhân chấn thương được chuyển đến bệnh viện, điều quan trọng là dùng thời gian để hỏi kỹ bệnh nhân (nếu có thể), những nhân chứng, các cảnh sát viên hay những người can thiệp đầu tiên. Họ là những người có thể giúp chúng ta tạo lại tai nạn.

Kiến thức về động học của tai nạn cho những chỉ dấu có thể cho phép nhận diện 90% những vết thương của bệnh nhân.

1. PHÂN TÍCH ĐỘNG HỌCTrong phân tích của sự va chạm, phải hệ thống hóa.
– Thứ nhất, phải có một ý tưởng về động năng ban đầu ; trước hết phải có được những thông tin về tốc độ rồi sau đó về khối lượng. Xe chạy với tốc độ nào ? Loại xe nào (xe hơi gọn so với camion 18 tấn)
– Trong thì hai, phải đánh giá sự chuyển năng lượng đã xảy ra như thế nào. Giảm tốc (décélération) loại nào : va chạm trên một tường ciment ? Phanh xe trước khi va chạm (điều làm thay đổi động năng ban đầu) ? Va chạm trên một lan can trên một khoảng cách xa 60 m ?
– Sau cùng, phải xác lập cơ chế chuyển năng lượng lên hành khách : va chạm trực tiếp (nếu có trên phần nào của cơ thể), những vết thương do giảm tốc, do ép theo trục (compression axiale)… Mọi tai nạn là độc nhất và phải được đánh giá tùy theo cá thể.2. NHỮNG LOẠI CƠ CHẾ THƯƠNG TỔN
Những loại cơ chế chấn thương được xếp theo những loại khác nhau :
– chấn thương kín
– chấn thương hở
– chấn thương nhiệt
– blast
Vài tai nạn có thể có nhiều loại xảy ra đồng thời.
Tầm quan trọng luôn luôn tùy thuộc vào lượng năng lượng mà cơ quan đã chịu lúc xảy ra tai nạn.
Loại vết thương là quan trọng cần phải xác định. Những vết thương kín (không xuyên hay blunt) thường khó nhận diện hơn. Khi va chạm, một xoang tạm thời (cavité temporaire) được tạo thành, thí dụ bởi một cú đấm vào bụng, nhưng tính đàn hồi của các mô cho phép chúng lấy lại vị trí ban đầu, không nhất thiết để lại dấu vết bên ngoài có thể thấy được của chấn thương này.Trái lại, khi là một vết thương xuyên (blessure pénétrante), một xoang thường trực (cavité permanente) vẫn tồn tại. Do đó xác suất bỏ lỡ chấn thương sẽ thấp hơn. Trong trường hợp chấn thương này, một xoang tạm thời cũng hiện hữu và điều quan trọng là phải có quan niệm về nó khi đánh giá bệnh nhân.Những chấn thương khác nhau thường gặp sẽ được duyệt xét để phân tích những thương tổn thường được gặp.

Reference : Prise en charge précoce du traumatisé grave. ARAMU

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(26/6/2017)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chấn thương, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s