Thời sự y học số 438 – BS Nguyễn Văn Thịnh

1/ LÀM SAO TÌM LẠI THỊ GIÁC NHỜ MỘT CHIẾC RĂNG
Kỹ thuật này có nguy cơ những còn có thể được cải thiện.CHIRURGIE. ” Chúng tôi cắm (implanter) trong mắt một mảnh răng dùng làm giá đỡ cho một lentille bằng Plexiglas, GS Louis Hoffart, trưởng service d’ophtalmologie của bệnh viện Timone, Marseille, đã giải thích như vậy.Một cuộc mổ như thế, vô cùng hiếm, được thực hiện ở những bệnh nhân bị mù cả hai mắt. Những bệnh nhân này đã theo một chặng đường dài trước khi đến chúng tôi.”
Khi đó ostéo-odonto-kérato-prothèse khôi phục lại cặp giác mạc-thủy tinh thể (couple cornée-cristallin), có khả năng điều tiêu (focaliser) lại những hình ảnh lên võng mạc của bệnh nhân, tuy nhiên với một thị lực, trong đa số các trường hợp, chỉ đạt 1/10. ” Đối với những bệnh nhân này, vốn đã mất hoàn toàn thị giác, và đôi khi tất cả hy vọng thấy lại, vài 1/10 này cho phép lấy lại một autonomie quý giá, GS Hoffart đã nhấn mạnh như vậy. Đôi khi, kết quả thật đáng ngạc nhiên. Một trong những bệnh nhân của tôi đã tìm thấy lại một việc làm ở Bộ Tài chanh, cô ta chơi ski và đi xe đạp ! ”
Được hiệu chính trong những năm 1960 bởi Benedetto Strampelli, một thầy thuốc ngoại khoa Y, kỹ thuật lạ thuong và xuất sắc này đã rất ít tiến triển nhưng tiếp tục được sử dụng bởi vì nó có hiệu quả. Mỗi năm ở Pháp kỹ thuật này chỉ được thực hiện ở khoảng 10 người, tất cả được mổ ở bệnh viện Timone bởi kíp phẫu thuật mắt của GS Hoffart, được phối hợp với kíp ngoại khoa hàm-mặt do GS Laurent Guyot điều khiển. Ngoài ra, hiện nay trên thế giới, chỉ có khoảng 50 thầy thuốc ngoại khoa thực hành kỹ thuật này : thời gian học kỹ thuật dài và những bệnh nhân liên hệ là một điều trị nặng nề.
Viec nhờ đến kỹ thuật này cũng gần giống như một phẫu thuật của cơ may cuối cùng (chirurgie để là dernière chance), khi đã không có một điều trị nào khác hiệu quả hay có thể thực hiện, kể cả ghép giác mạc, đối với những bệnh nhân đã đánh mất thị giác của cả hai mắt sau những chấn thương, tai nạn hóa học hay những bệnh tự miễn dịch. Những kỹ thuật khác đang được phát triển để điều trị nhưng ngăn khác nhau của mắt (võng mạc nhân tạo…), nhưng trong chỉ định này, ostéo-odonto-kérato-prothèse vẫn có nguy cơ và ta chỉ có thể xét đến khi có thể hy vọng một lợi ích.
” Trước hết phải kiểm tra rằng đáy mắt (fond d’oeil) luôn luôn hoạt động và rằng bệnh nhân cảm nhận ánh sáng, bằng không prothèse chẳng mang lại kết quả nào “, GS Hoffart đã nhắc lại như vậy. Siêu âm và nhung thăm dò điện-sinh lý (examen électro-physiologique) cho phép kiểm tra rằng võng mạc và dây thần kinh thị giác có khả năng nhận và chuyển đến não những thông tin được cảm nhận bởi lentille optique mới. Cấu trúc của mắt phải khá vững chắc để chịu được cuộc mổ và gắn prothèse.
Yếu tố cần thiết khác : răng, thường là một răng cấm (canine), phải ở trong tình trạng khá tốt để có thể lấy một lamelle chất lượng tốt và đâm thủng ở đó một lỗ trong đó lentille en Plexiglas sẽ đến nằm ở đó. Một khi được lấy bởi équipe của GS Guyot, nó được đặt trong má của bệnh nhân trong 3 tháng. Mảnh xương này sẽ dần dần được xâm thực bởi những tế bào riêng của nó và, được”conditionnée” như thế, sau đó nó sẽ được đặt dễ dàng hơn trong các mô của mắt mà nó sẽ đến gặp sau đó.
Bên cạnh những yếu tố “kỹ thuật” này, phải đảm bảo rằng bệnh nhân không có những mong chờ cao hơn điều mà can thiệp có thể mang lại : thị lực được phục hồi thường kém và với prothèse của nó, dạng vẻ thẩm mỹ của mặt vẫn là lạ thường, mặc dầu được cải thiện bởi một cái vỏ che phủ kín.Sau cùng phải đảm bảo rằng bệnh nhân sẽ tuân thủ một theo dõi nhãn khoa đều đặn, điều này đôi khi loại bỏ những bệnh nhân ở quá xa một trung tâm y tế có năng lực.
Sự sử dụng một chiếc răng và ngà răng (dentine) của nó (xương dần dần bị tan và những vật liệu tổng hợp bị thải bỏ) cho phép duy trì tại chỗ lentille một cách dài lâu, đôi khi đến 20 năm. Răng, dầu vững và chắc chắn thế nào đi nữa, vẫn có thể bị xuống cấp và phải được theo dõi đều đặn, nếu cần phải thay thế. “Đó là điều đã khiến chúng tôi, với GS Guyot, phải đi tìm một vật liệu thỏa mãn hơn, GS Hoffart đã chỉ rõ như vậy. Do đó chúng tôi đã phát động những thử nghiệm với một mảnh sụn lấy trong tai, mà kết quả sẽ được công bố trong những ngày rất gần đây.”
Tất cả những bệnh nhân đã được mổ năm 2016, ở bệnh viện la Timone đã được mổ với kỹ thuật mới này, dường như rất đầy hứa hẹn. Lấy sụn là một cuộc mổ ngắn hơn, đơn giản hơn phẫu thuật nặng nề cần thiết để lấy một chiếc răng và một phần xương bao quanh nó. Ngoài ra, sụn dường như không tiêu đi và như thế prothèse sẽ còn bền hơn.
(LE FIGARO 27/3/2017)

2/ ROTATIONPLASTIE : BIẾN ĐỔI MỘT MẮT CÁ CHÂN THÀNH ĐẦU GỐI.” ROTATIONPLASTIE là một phẫu thuật dương tính, ngay cả khi nó bao gồm một cắt đoạn chi (amputation)”, Federico Canavese, giáo sư ngoại nhi đồng ở CHU de Clermont-Ferrand đã nhấn mạnh như vậy. Thật vậy phẫu thuật nhằm cắt cụt cẳng chân trên đầu gối trước khi ghép vào đó mắt cá chân (cheville) của bệnh nhân với bàn chân hướng về phía sau, để tái tạo khớp gối. Được trang bi bởi một prothèse đặc biệt, bệnh nhân có thể lấy lại một cẳng chân hoạt động một cách hoàn hảo, như mới đây Gabi Shull đă chứng tỏ điều đó.Gabi là một cô gái Mỹ được mổ năm 2011, và hôm nay thực hành danse classsique sur pointes.
Kỹ thuật mổ, được hiệu chính trong những năm 1920 để điều trị lao xương, đã không thay đổi nhưng vẫn hiếm hoi vì lẽ nó chỉ được đề nghị cho khoảng 30 bệnh nhân mỗi năm trên thế giới. Đối với lao, như trong trường hợp của Gaby Shull, kỹ thuật này được xét đến khi một khối u cần một phẫu thuật cắt cụt trên gối. Nó cũng được đề nghị ở những trẻ em được sinh ra với những dị tật bẩm sinh của cẳng chân, với điều kiện chúng có một háng vững, cần thiết để cho phép bước với prothèse, và một pied fonctionnel, ít nhất 4 ngón chân và một mắt cá vững.
” CHỨC NĂNG HƠN CHIRURGIE D’ALLONGEMENT”
Đối với những trẻ em này, phương pháp khác là một loạt dài những can thiệp ngoại khoa trong những năm đầu để điều chỉnh những dị tật này với những nguy cơ mổ gia tăng và những thời gian nằm viện cản trở việc đi học bình thường. ” Những công trình nghiên cứu đã chứng mình rõ ràng rằng những kết quả chức năng của rotaionplastie là tốt hơn so với chirurgie d’allongement “, GS Canavese, đã thực hiện 12 rotationplastie suốt trong sự nghiệp quốc tế của ông ở Hoa Kỳ và Canada, trước khi đến Pháp, đã nhấn mạnh như vậy. ” Điều mà tôi muốn mang lại, đó là khả năng, mặc dầu phẫu thuật dường như có tính chất phá hủy, một kết quả chức năng hơn chirurgie d’allongement.
Nếu can thiệp không được liên kết với một khối u, gia đình không phải quyết định nhanh chóng. Để cuộc mổ thành công, điều quan trọng là những người thân cận bệnh nhân phải được thuyết phục về lợi ích của nó.
Can thiệp có thể được thực hiện ở những trẻ em rất trẻ, ngay khi não bộ có thể điều khiển bước và háng đã vững. Phẫu thuật sẽ tính đến sự tăng trưởng sẽ xảy ra trong chi bị cắt cụt nhưng nhất là ở chi kia. Các prothèse cũng sẽ tiến triển cùng với đứa trẻ, để thích ứng với sự tăng trưởng và những hoạt động của nó. ” Các kết quả tùy thuộc 80% prothèse và sự phục hồi chức năng, đã tiến bộ nhiều trong những năm qua, GS Canavese đã chỉ rõ như vậy. Chính vì vậy tôi thích theo dõi các bệnh nhân của tôi càng lâu càng tốt.”
(LE FIGARO 27/3/2017)

3/ SỐNG VỚI NỬA NÃO
” Trong vài trường hợp, hémisphérectomie (cắt bỏ nửa bán cầu não) cho phép chấm dứt những cơn động kinh, BS Christine Bulteau-Peyrie, neuropédiatre của Fondation Rothchild (Paris) đã nhấn mạnh như vậy. Đó là một cuộc mổ hiếm, tốt hơn được thực hiện trên trẻ em bởi vì não bộ của chúng có một khả năng thích ứng và phục hồi to lớn.”
Thật vậy, có thể sống với một bán cầu não duy nhất, nửa não còn lại phải học thực hiện một phần những công việc mà nửa kia không làm nữa, mặc dầu không thể hoàn toàn thay thế nó. Vậy luôn luôn còn lại những di chứng của một hémisphérectomie, nhưng đối với 80% những bệnh nhân bị cắt bỏ nửa bán cầu não, những cơn động kinh gây phế tật biến mất và lợi ích là rõ ràng. Can thiệp ngoại khoa cực kỳ này chỉ được thực hiện ở khoảng 1000 bệnh nhân mỗi năm trên thế giới.
NHỮNG TRẺ LỚN HƠN.
Kỹ thuật này, được hiệu chính trong những năm 1930, đã tiến triển nhiều vì lẽ, cho mãi đến những năm 1990 nếu một nửa não thật sự được lấy đi, hôm nay những thầy thuốc ngoại khoa thích cô lập một nửa não nơi phát xuất của những cơn động kinh hơn, bằng cách déconnecter những liên lạc thần kinh giữa hai bán cầu não bằng vi ngoại khoa. Nó cũng cho phép can thiệp trên những trẻ em nhỏ hơn mà não vẫn còn có thể bù còn tốt hơn bán cầu não bị mất.
Vậy hầu hết những hémisphérectomie được thực hiện ở những trẻ bị những di tật của một bán cầu não, có thể thấy ngay khi sinh, những encéphalite de Rasmussen, hội chứng Sturge-Weber, hay những tai biến mạch máu não. Nó chỉ được xét đến khi những cơn động kinh xảy ra quá nhiều, không đáp ứng với điều trị thuốc và khi chúng có một nguồn gốc trong một bán cầu não duy nhất.
Những kỹ thuật chụp hình ảnh hiện nay cho phép nhận diện một cách chính xác những vùng phát khởi các con động kinh. ” Phải tính đến sự kiện là ta đi từ một căn bệnh, bệnh động kinh, sang một quy chế phế tật, cần một theo dõi khác “, BS Bulteau-Peyrie đã chỉ rõ như vậy. Những hiệp hội các bệnh nhân Hémisphérectomie France cũng hữu ích để theo kèm bệnh nhân và gia đình của họ.
(LE FIGARO 27/3/2017)

4/ MẤT NGỦ KINH NIÊN VÀ ĐE DỌA ĐỐI VỚI CÁC ĐỘNG MẠCH
Các nhà nghiên cứu Trung Hoa đã thực hiện một méta-analyse của 15 công trình nghiên cứu (160.867 người). Tùy theo mức độ ngủ kém, đi từ đêm ngủ chập chờn đến mất ngủ hoàn toàn, nguy cơ bệnh tim mạch (thương tổn các động mạch vành) và tai biến mạch máu não gia tăng 11 đến 27%.
(PARIS MATCH 4/5-9/5/2017)

5/ RƯỢU VÀ CAO HUYẾT ÁP : NGUY HIỂM ĐƯỢC XÁC NHẬN !
Cao huyết áp được định nghĩa bởi sự duy trì huyết áp thu tâm (tối đa) trên 140 mmHg và trương tâm (tối thiểu) trên 90. Nó có thể là nguồn gốc của những biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Năm 200, sự đánh giá quy mô lớn gần đây cho thấy một mối liên hệ giữa sự tiêu thụ rượu và sự gia tăng của huyết áp. Những thầy thuốc Canada đã muốn minh định lại vấn đề này. Những công trình nghiên cứu, được công bố trong tạp chí Anh “The Lancet”, đã xét đến 36 công trình nghiên cứu quy tụ 2.464 đàn ông và 401 phụ nữ : những kết quả xác nhận những kết qua năm 2001. Trên 3 ly mỗi ngày đúng là hiện hữu một sự liên hệ mạnh giữa lượng rượu uống và cao huyết áp. Trong trường giảm quan trọng sự tiêu thụ mỗi ngày, HA thu tâm giảm 30 mmHg trong vòng một tháng và HA trương tâm 20 mmHg.
(PARIS MATCH 4/5-9/5/2017)

6/ UNG THƯ : HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ, MỘT VŨ KHÍ HIỆU QUẢ.
BS Thierry Bouillet, cancérologue của bệnh viện Avicenne, Bobigny, chủ tịch Fédération nationale Campi Sport & cancer, bình luận một báo cáo gần đây về những lợi ích của tập thể dục chống ung thư.
Hỏi : Ông có bằng cớ nào cho rằng một hoạt động vật lý đều đặn (APR : activité physique régulière) cho phép phòng ngừa sự xuất hiện của nhiều ung thư ?
BS Thierry Bouillet : Chúng tôi có nhiều chục công trình nghiên cứu quốc tế và những thống kê định kỳ của Cơ quan quốc tế Nghiên cứu về ung thư (IARC : InternationalAgency for Research on Cancer), có căn cứ ở Lyon, chứng minh rằng 1/3 của toàn thể những ung thư có thể tránh được bằng một lối sống liên kết hoạt động vật lý đều đặn (APR : activité physique régulière), chế độ ăn uống tốt và không hút thuốc. Đối với APR đơn độc, một sự giảm 40% nguy cơ bị những ung thư đại tràng, vú, tử cung và sự xuất hiện của những thể nặng của ung thư tiền liệt tuyến, được quan sát khi những khuyến nghị châu Âu được tuân thủ (thực hiện ít nhất 150 phút bước nhanh, hay tương đương, 3 lần mỗi tuần). Công trình nghiên cứu khổng lồ của National Cancer Institute (Bethesda, Hoa Kỳ) trên 1,44 triệu người được theo dõi trong 12 năm đã cho thấy một tác dụng phòng ngừa quan trọng của APR đối với 13 loại ung thư khác nhau.
Hỏi : APR dường như cũng có lợi cho những người bị một ung thư…
BS Thierry Bouillet : Viện ung thư quốc gia (Inca : Institut national du cancer) đã công bố một báo cáo cho thấy rằng APR cải thiện rất nhiều 4 thành phần chính của chất lượng sống : sự thoải mái vật lý (ít mệt hơn) và tâm lý (tinh thần và giấc ngủ tốt hơn), một đời sống xã hội tích cực (reprise du tra vail), sự phóng rọi chính mình vào tương lai, vun đắp hy vọng. Nhưng chúng ta chủ yếu đã quan sát một sự giảm những thất bại điều trị và tỷ lệ tử vong.
Hỏi : Những công trình nghiên cứu quan trọng nào đã chứng minh tác động của APR lên tiến triển của những u ác tính và tỷ lệ tử vong.
BS Thierry Bouillet : Một phân tích, bởi équipe của BS Christine Friedenreich ở Canada, của tất cả những công trình nghiên cứu, được công bố trên thế giới ở những người bị ba loại ung thư thường gặp nhất (vú, đại tràng, tuyến tiền liệt) đã cho thấy rằng APR làm giảm 47% toàn bố tỷ lệ tử vong và 45% nguy cơ tái phát tại chỗ và/hoặc di căn !
Hỏi : Bằng những cơ chế nào, APR là có lợi ?
BS Thierry Bouillet : Hôm nay ta biết rằng insuline, cho phép glucose đi vào trong các tế bào và làm dễ sự tăng trưởng của chúng, lúc thặng dư, cũng có thể kích động sự tăng sinh của những tế bào ác tính. Thế mà APR tiêu thụ năng lượng, vậy tiêu thụ glucose, điều này làm giảm nồng độ insuline và, do đó, làm giảm nguy cơ này. APR cũng làm hạ nồng độ của vài hormone, như những oestrogène, kích thích tố này tạo điều kiện cho ung thư vú và đại tràng. Mới gần đây, ta đã khám phá rằng cố gắng vật lý kích thích mạnh những tế bào lympho miễn dịch được gọi là NK (Natural Killers), mà vài trò là giết những tế bào ung thư.
Hỏi : Để có lợi, APR phải đạt mức độ nào và những hoạt động nào được khuyến nghị ?
BS Thierry Bouillet : Nếu cơ bản tối thiểu là 3 hay 4 lần 150 phút hoạt động vật lý mỗi tuần, 5 lần mỗi tuần lại còn tốt hơn bởi vì có một hiệu quả tùy theo liều lượng (effet-dose). Hoạt động vật lý càng kéo dài và càng mạnh thì tác động lên sự chữa lành càng quan trọng. Nên phối hợp một hoạt động hiếu khí (activité aérobie) (jogging, vélo, marche nordique, tennis…) với một hoạt động cơ (gymnastique đều đặn, gainage bụng và lưng).
Hỏi : Một đạo luật từ nay khuyến khích sự kê đơn y khoa APR trong những bệnh có thời gian kéo dài, trong đó ung thư. Đó là gì vậy ?
BS Thierry Bouillet : Đạo luật mới này khiến chuyển thể thao và thể dục từ quy chế không chống chỉ định (non contre-indiqué) và có thể sang quy chế được chỉ định (indiqué) và cần thiết. Tuy nhiên chúng ta tiếc rằng thiếu những phương tiện tài chánh để làm cho áp dụng này có thể bồi hoàn và dễ dàng khắp nơi, điều này sẽ giảm những chi phí y tế đó những tái phát, mà phí tổn cao hơn nhiều.
Hỏi : Sự thực hiện APR chỉ được áp dụng ở bệnh viện hay cá nhân ? Có một mạng ngoài bệnh viện không ?
BS Thierry Bouillet : Liên đoàn của chúng tôi đã thành lập 74 cơ cấu, nhưng cần phải nhiều cơ cấu khác. Chúng phải tôn trọng những tiêu chuẩn tuyệt đối về an toàn, phải chăm chút để các APR tôn trọng mức tối thiểu cần đạt được, không bỏ qua sự tìm kiếm vui thú trong gắng sức. Do đó cần những éducateur médical và các vận động viên thể thao được đào tạo cho công tác này.
(PARIS MATCH 22/6-28/6/2017)

7/ TỶ LỆ TỬ VONG : NHỮNG CƠN SỐ CỦA OMS
Những con số được công bố mới đây thuộc năm 2015. Những căn bệnh không lây truyền đã là nguyên nhân của 40 triệu trường hợp tử vong trên thế giới trên một tổng cộng 54 triệu trường hợp. Đứng đầu : những bệnh tim-mach (18 triệu trường hợp tử vong), ung thư (8,8 triệu), những bệnh hô hấp mãn tính (3,9 triệu), bệnh đái đường (1,6 triệu).Tổ chức y tế thế giới gọi những bệnh lý này là ” 4 cavaliers để l’Apocalypse”. Tỷ lệ tử vong của người mẹ đó những biến chứng của thai nghén hay sinh đẻ vẫn đáng kể (830 tử vong mỗi ngày, hoặc 216 trường hợp đối với 100.000 lần sinh).Tỷ lệ tử vong sơ sinh (19 trường hợp đối với 100.000) đã hạ 37% từ năm 2000 và tỷ lệ tử vong của các trẻ em dưới 5 năm (43 trường hợp đối với 100.000) giảm 44%. Những con số liên kết với những trường hợp chết do hung bạo được xác lập như sau : 468.000 vụ giết người, 800.000 trường hợp tự tử, 1,25 triệu chết trên đường !
(PARIS MATCH 22/6-28/6/2017)

8/ BỘ PHẬN LỌC CỦA ĐIẾU THUỐC LÁ : NGUY HIỂM !
Theo một công trình nghiên cứu của đại học Ohio (Hoa Kỳ), những bộ phận lọc (filtre) được đâm thủng lỗ, được sử dụng từ 50 năm qua, làm hít vào nhiều khói thuốc hơn và gia tăng lượng các chất gây ung thư đến những phần sâu nhất của phổi dưới dạng những hạt nhỏ. Điều này giải thích sự gia tăng những trường hợp ung thư phổi mặc dầu số người hút thuốc giảm.
(PARIS MATCH /8/6-14/6/2017)

9/ PHẢI CHĂNG PHẢI NGỪNG ĂN THỊT ?
Câu hỏi được đặt ra trong tạp chí uy tín ” British Medical Journal”. Theo những công trình nghiên cứu mới đây của Viện y tế quốc gia của Hoa Kỳ, tỷ tử vong toàn bộ gia tăng với sự tiêu thụ thịt. Sự theo dõi 7,5 triệu người chỉ rõ rằng những thịt đỏ và trắng được chế biến, chứ không phải thịt cá hay gia cầm, làm gia tăng tỷ lệ tử vong do các bệnh tim-mạch, thận, hô hấp, ung thư và đái đường. Nguyên nhân : sự thặng dư của sắt trong thịt đỏ, của những dẫn xuất nitré trong thịt trắng được chế biến, một sự quá mức của các acide béo bảo hòa và những tác nhân gây ung thư trong hai trường hợp. Chúng ta đang tiêu thụ thịt 10 đến 20 lần nhiều hơn so với tiền nhân của chúng ta ! Thêm nữa, những khí được sản xuất (méthane, oxyde nitreux) bởi chăn nuôi đại trà gia súc là một nguyên nhân quan trọng của tác dụng sưởi ấm toàn cầu (effet de serre et du réchauffement de la planète).
(PARIS MATCH 15/6-21/6/2017)

10/ MỘT CHEWING-GUM ĐỂ PHÁT HIỆN UNG THƯ
Ý tưởng đến từ một công ty Hoa Kỳ (Volatile Analysis Corp, ở Alabama) : vài tong số những thành phần hữu cơ bay hơi (COV : composé organique volatile) ứ đọng trong nước dãi chỉ hiện hữu trong trường hợp ung thư. Chúng khác nhau ngay cả từ ung thư này đến ung thư khác. Một chewing-gum nhai trong 15 phút cô đặc chúng một cách dễ dàng. Để phân tích trong phòng thí nghiệm, ta có thể sử dụng những con chó được huấn luyện trong mục đích này, nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng khứu giác của chó phát hiện những COV của một ung thư ngay ở giai đoạn đầu với một độ tin cậy 99%. Cũng có máy, an toàn 90%. Bột nhai của chewing-gum được hiệu chính có hiệu quả để phát hiện những ung thư phổi, tụy tạng và vú. Sự thương mãi nó, được dự kiến năm 2018, có thể cho phép làm giảm số những sinh thiết và xét nghiệm máu nhằm mục đích chẩn đoán.
(PARIS MATCH 8/6-14/6/2017)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(30/6/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s