Thời sự y học số 437 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ BỆNH TÂM THẦN
PHẦN III

1/ HỘI CHỨNG ASPERGER : BÙNG NỔ CHẨN ĐOÁN, NHƯNG KHÔNG CÓ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ ĐIỀU TRỊ
Nghiên cứu bi đình trệ vì thiếu ngân sách và thời gian lấy hẹn kéo dài : những centre expert rung chuông báo động.SANTE MENTALE. Theo những ước tính của các nước anglo-saxon, cứ 1700 đứa trẻ thì có một sinh ra đời với hội chứng Asperger hay ” Trouble du spectre autistique (TSA) cấp độ cao “. Vì đó không phải là một rối loạn của trí thông mình nhưng là một rối loạn giải mã thế giới (trouble du décodage du monde) bao quanh chúng, nên các trẻ em và người lớn co thể phát triển bình thường với điều kiện được chẩn đoán sớm và nhận một phục hồi tâm lý-xã hội (réhabilitation psychosociale), nhất là sự phục hồi này đã mang lại những bằng cớ về tính hiệu quả của nó.
Điều đó không phải là không có hậu quả : ” Khi không được điều trị, những người bị một TSA cấp độ cao (4-5 lần thường gặp ở con trai hơn con gái) có nguy cơ nằm ở ngoài lề xã hội hay phát triển những rối loạn lo âu, trầm cảm hay nghiện ngập. Điều đó được giải thích bởi sự kiện là người bệnh cảm thấy khó giải thích và hội nhập những code social, đặc biệt là sự hóm hỉnh (humour), second degré, tính cố ý (intentionalité), cũng như thích ứng với những thay đổi. Vì đôi khi những người bệnh khó diễn tả cảm xúc của mình và/hoặc tự đặt mình vào vị trí của những kẻ khác, nên những người thân cận trách họ là thiếu sự đồng cảm (empathie). Và vì vài người bệnh (nhưng không phải là tất cả) có một mémoire photographique tuyệt hảo hay những năng lực đặc biệt trong vài lãnh vực mà họ yêu quý và làm chủ một cách hoàn hảo, nên cliché của người với một hội chứng Asperger là một loại thiên tài bé nhỏ với một nhân cách giá lạnh (personalité glaciale)”, BS Julien Dubreucq (Centre expert FondaMental Asperger, Grenoble) đã nhận xét như vậy. Tuy vậy đó là một hình ảnh cách xa nhiều với thực tế.
Thật vậy, nhờ óc quan sát sắc bén của chúng, vài “Aspies”, như chúng thường tự gọi mình một cách triều mến, học diễn tả điều mà chúng cảm nhận đồng thời bắt chước những kẻ khác và thành công đánh lừa. ” Chính vì vậy ý tưởng theo đó chúng không có khả năng nhìn thẳng cào mặt người nào đó và/hoặc diễn tả một cảm xúc nào đó, có một giọng nói đều đều, là hoàn toàn đã lỗi thời. Tuy nhiên, nếu chúng đánh lừa được, đó luôn luôn với một cái giá to lớn và nhiên hậu một nguy cơ thật sự suy kiệt tinh thần “, BS Elisabeth Giraud-Baro (Centre expert FondaMental Asperger, Grenoble) đã nhấn mạnh như vậy.
” Dầu là trong thời kỳ thơ ấu hay ở tuổi trưởng thành, đặt một chẩn đoán như vậy đòi hỏi phân tích những compétence cognitive et verbale của một người, phát hiện những khó khăn và những chiến lược được thiết đặt để giải quyết những yếu kém của mình (bắt chước, tránh…), cùng những bệnh kèm theo. Chính vì vậy cần 2 ngày để thực hiện một bilan trong một Centre expert. Ở trẻ em, chính bắt đầu từ 7 tuổi mà vấn đề thực hiện bilan có thể được đặt ra bởi vì khi đó những khó khăn trong quan hệ nằm ở hàng đầu : thật vậy, những đứa trẻ này không nói dối và không thể tưởng tượng rằng những người khác làm như thế. Chúng không láu cá và không hiểu second degré. Tất cả điều gì ra ngoài thường quy làm chúng căng thẳng. Vì những tính đặc biệt này, chúng rất thường là nạn nhân của sự quấy nhiễu học đường”, GS Manuel Bouvard, khoa tâm thần của trẻ em và thiếu niên, Centre expert Fonda-Mental pour les TSA de haut niveau, CHU Bordeaux), đã phàn nàn như vậy.
Một khi chẩn đoán được xác lập, vấn đề xử trí được đặt ra. Đặc điểm của nó là không dựa trên một loại thuốc (trừ khi phải điều trị song hành một trầm cảm…). Sự điều trị dựa vào học những quy tắc xã hội (codes sociaux) thích hợp, điều này cũng đòi hỏi học giải mã điều được thấy, nghe và cảm nhận. ” Trong khi một người “neuropathique” (không phai TSA) không cần suy nghĩ để biết khi nào phải nảy lên trong một cuộc đàm thoại, làm sao phản ứng trước một người thân sau khi đã nhận một tin tức, nhận biết một lời nói đùa, nhận diện một mệnh lệnh ngầm hay ra khỏi một tình huống bất ngờ như một chuyến xe lửa bị hủy vào giờ phút cuối, tất cả điều đó có thể làm một người bị TSA cấp độ cao bối rối, đối với người này những quy tắc xã hội của chúng ta và những việc bất ngờ là một điều khó hiểu và gây lo lắng “, các BS Dubreucq và Giraud-Baro đã nói tiếp như vậy.
” Chính vì vậy, người bị một TSA cấp độ cao sẽ phải hoc su kheo leo xa hoi (habileté sociale) của mình. Ở Grenoble, Trung tâm phục hồi tâm-xã hội (Centre de rehabilitation psychosociale) của chúng tôi cố ý nằm ngoài những bức tường bệnh viện, trong thành phố. Mỗi tuần nhiều buổi được dự kiến về những đề tài khác nhau của đời sống hàng ngày. Những người thân cũng được mời tham dự vào những atelier để học trao doi càng ro ràng càng tốt : thí dụ, tốt hơn là nói ” chúng ta sẽ gặp nhau trong một giờ ” hơn là ” chốc nữa ” quá mơ hồ. Chặng đường phục hồi này trung bình kéo dài từ 6 tháng đến hai năm rưỡi: những kết quả là dương tính. Sau cùng sự phát triển trên bình diện cá nhân và nghề nghiệp có thể đạt được.
(LE FIGARO 4/4/2017)

2/ NHỮNG CON ĐƯỜNG THÔNG TIN CỦA NÃO KHÔNG CHÍNH XÁC.“Những trouble du spectre autistique (TSA) là do những bất thường phát triển của vài vùng của não bộ và tất cả thách thức hiện nay là nhận diện những nguyên nhân của chúng. Nhiều gène de vulnérabilité đã được tìm thấy, nhất là trong số những gène có liên hệ trong sự thiết đặt những synapse giữa các neurone hay trong sự kiểm soát hệ miễn dịch. Ngoài ra ta tìm thấy một tỷ lệ tăng cao của những bệnh tự miễn dịch ở những parents de premier degré của một người bị một TSA de haut niveau”, GS Marion Leboyer (khoa tâm thần CHU Créteil) đã ghi nhận như vậy. “Những gène de vulnérabilité này chỉ biểu hiện khi chúng đứng trước vài yếu tố môi trường. Nhiều hướng nghiên cứu đã được gợi lên, trong số đó vai trò của những produit phytosanitaire trong trường hợp bị tiếp xúc trong thời kỳ thai nghén”, GS Manuel Bouvard (centre Asperger FondaMental, CHU Bordeaux) đã nhận xét như vậy.
Hiểu tốt hơn những hậu quả của chúng là một trục nghiên cứu khác. ” Hôm nay, nhờ chụp hình ảnh não ta biết rằng vài cấu trúc rất có can dự trong xử lý thông tin xã hội. Đó đặc biệt là trường hợp của khu vực của rảnh thái dương trên (sillon temporal supérieur) của thủy trán (bloc temporal). Đến đó là những thông tin phát xuất từ thị giác, thính giác, tri giác không gian (perception spatiale)…Thế mà, ở những người bị một TSA de haut niveau, những cấu trúc này ít phát triển hơn và/hoặc ít hoạt động hơn. Từ lâu người ta đã nghĩ rằng điều đó là do một sự thiếu các neurone, nhưng, trên thực tế, dường như đúng hơn đó là điều ngược lại. Dân số neurone trở nên quan trọng hơn, có lẽ bởi vì những mạng neurone không còn dùng vào việc gì nữa đã không bị hủy bỏ trong khi phát triển, như đó là điều xảy ra trong trường hợp bình thường. Và khi một mạng neurone phát triển tách biệt với phần còn lại của não bộ, điều đó có thể được biểu hiện trên phương diện lâm sàng bởi một năng lực ngoại hạn (une compétence hors norme), như một mémoire photographique tuyệt vời. Nhưng điều đó gây nên sự tắc nghẽn của vài đường thông tin và được biểu hiện bởi những khó khăn trong xử lý thông tin xã hội “, GS Bouvard đã giải thích như vậy.
Các nhà tâm thần học dĩ nhiên đã tự hỏi không biết một apprentissage structuré có cho phép phát triển những chiến lược bù (stratégie de compensation) có thể có một hiệu quả lên sự phát triển não bộ hay không và câu trả lời là vâng : có một tác động có thể định lượng được : ” Đo lường tính hiệu quả của apprentissage này lên đời sống hàng ngày và lên sự phát triển của cho phép chúng ta chứng tỏ rằng hành động như thế là có lợi ích. Khẩn trương truyền bá thông tin này đến tất cả những người hành nghề y tế và giũ bỏ những niềm tin theo đó tất cả lỗi đều được quy cho cha mẹ vì đã không biết thiết lập một quan hệ có chất lượng với con mình”, GS Bouvard đã kết luận như vậy.
(LE FIGARO 4/4/2016)

3/ “TÔI KHÔNG CÓ CHÚT NÀO HÌNH ẢNH TỰ KỶ ĐÓ”
Đối với Mathilda Iris, chẩn đoán bệnh tự kỷ (autisme) được xác định lúc 31 tuổi. ” Lúc còn bé, tôi đã luôn luôn khép kín và cô đơn, nhưng tôi quy điều đó cho tính tình của tôi. Ngoài ra, tôi đã biết nói khá sớm và một khi đã hiểu điều mà người ta trông đợi tôi ở trường, tôi đã là một học sinh ngoan và chuyên cần. Lúc 23 tuổi, trong khi tôi là sinh viên khoa Sử, tôi đã làm những nghiên cứu với người sau này sẽ trở thành chồng của tôi. Anh ta nhận thấy tôi ít bặt thiệp và đôi khi cứng ngắt trong những thói quen của tôi, nhưng bởi vì tôi đã làm nhiều cố gắng (không thấy được) trong đời sống hàng ngày, nên điều đó diễn ra tốt đẹp. Sau đó, tôi đã tìm ra một việc làm trong một văn phòng, điều này làm tôi vui lòng và lại nữa tôi đã có thể lừa phỉnh. Chỉ khi nhận một thay đổi nghề nghiệp cần ở tôi những thích nghi to lon mà tôi bị suy sup. Tôi kiệt sức. Sau vài tháng nghỉ ngơi, tôi đã tái phát và thầy thuốc đã chẩn đoán đó là một trầm cảm không điển hình (dépression atypique). Ông ta đã gởi tôi đến CHU de Grenoble để xin một ý kiến chuyên khoa hơn và lần đầu tiên trong đời tôi, tôi đã nghe nói đến ” Troubles du spectre autistique (TSA) cấp độ cao “. Điều đó là một cú sốc to lớn bởi vì hình ảnh duy nhất mà tôi từng có về những bệnh nhân tự kỷ là những trẻ em bị phế tật tâm thần nặng. Cuộc gặp gỡ với những “Aspies” khác đã làm tôi hiểu rằng không một ai trong chúng tôi có toàn bộ những rối loạn được mô tả. Và mặc dầu tôi đã phải cần thời gian để chấp nhận chẩn đoán, nhưng cuối cùng tôi đã cảm thấy nhẹ nhõm. Sau cùng tôi đoán thấy một lời giải thích cho những khó khăn thường kỳ trong quan hệ của tôi. Đó là cách nay hai năm rưỡi. Sau một thời gian ngạc nhiên lúc chẩn đoán được loan báo, cha mẹ tôi và chị tôi đã chấp nhận tham gia những atelier để biết ácch hỗ trợ tôi như thế nào. Những thành viên khác của gia đình tôi đã không tin điều đó. Sau một thời gian thích ứng, chồng tôi cuối cùng cũng đến trong những atelier này. Tôi đã ý thức rằng tôi không chỉ được xác định bởi hội chứng Asperger. Trước hết tôi là một con người, với tính tình và lịch sử của nó.
(LE FIGARO 4/4/2016)

4/ BỆNH TỰ KỶ (AUTISME)
Ở Pháp
Những ước tính thay đổi từ 1 đối với 2000 và 1 đối với 150
Đó là gì ?
Mặc dầu, khi gợi lên bệnh tự kỷ, nhiều người nghĩ đến Dustin Hoffman trong Rain Man, một thiên tài toán học, nhưng bệnh lý này với những triệu chứng đầu tiên xuất hiện trước 3 tuổi, cũng bao gồm những người có QI rất cao cũng như những người khác với chậm phát triển trí tuệ. Chẩn đoán dựa vào 3 loại rối loạn : sự xã hội hóa (socialisation) (tính tình cô độc và không diễn cảm, ít tiếp xúc tình cảm) ; sự trao đổi (communication) (absence de langage hay không tìm đối thoại) ; sự thích ứng (adaptation) (những cơn lo âu hay tính hung hãn; gây nên bởi sự thay đổi, những hoạt động liên tiếp, những centre d’intéret hạn hẹp…)
Nguyên nhân
Nào của những trẻ em tự kỷ có những bất thường ở thùy trán, có liên quan trong sự tổ chức những kích thích cần cho đời sống xã hội. Nguồn gốc thần kinh-sinh học của bệnh này vẫn còn cần phải xác định. Nhưng một bất thường trong sự tạo thành và sự trưởng thành của các synapse (vùng trong đó thông tin được truyền giữa các neurone) có thể có liên hệ. Hướng nghiên cứu khác : những rối loạn của khuẩn chí ruột (flore intestinale). Ở những con chuột có những triệu chứng của bệnh tự kỷ, các nhà nghiên cứu đã chứng thực một sự mất quân bình của microbiome (vài vi khuẩn ruột hiện diện với số lượng nhiều hơn hay ít hơn). Bằng cách tái cân bằng khuẩn chí ruột của chúng, tình trạng lo âu và những khuynh hướng có những hành vi lập lại (comporements répétitifs) đã biến mất.
Điều trị
Hiện nay, không có một điều trị nào hiện hữu. Ngược lại, một sự xử trí (giáo dục, hành vi và tâm lý) trong những cơ sở y tế, ngay từ tuổi ấu thơ và trong suốt cuộc đời, gia tăng những khả năng tương tác xã hội và giao tiếp,cũng như mức độ tự trị.
(SCIENCE & VIE : LE GENIE ET SES MYSTERES)

5/ NƯỚC PHÁP LUÔN LUÔN CHẬM TRỄ TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN TỰ KỶ.
” Nước Pháp, bên cạnh vài nước Châu Mỹ latin, duoc xem nhu là cậu học trò kém trên thế giới, với một sự xử trí bệnh tự kỷ đã không tiến triển từ 40 năm”, Gloria Laxer, giảng viên đại học Lyon-II đã lấy làm tiếc như vậy. Trong một ý kiến được đưa ra năm 2007, Conseil consultatif national d’éthique đã nhấn mạnh tình hình bi đát của các gia đình mặc dầu nhiều báo cáo, khuyến nghị, thông tư và đạo luật đã xuất hiện từ 10 năm. Những cuộc tranh cãi của các trường học vẫn còn dữ dội và làm chậm lại sự áp dụng của những văn bản này.Từ những năm 1980, những hội chứng tự kỷ (syndrome autistique) được xếp loại như những rối loạn xâm chiếm của sự phát triển (trouble envahissant du développement), điều này loại bỏ một cách xác định ý niệm bệnh loạn thần tự kỷ (psychose autistique). Nhưng ở Pháp, lý thuyết phân tâm học (théorie psychanalytique) vẫn còn được bảo vệ một cách rộng rãi và sự điều trị thường dựa trên một điều trị thuần tâm thần.
Từ những năm 1970, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh lợi ích của một phương pháp giáo dục và hành vi (approche éducative et comportementale), cho tất cả các lứa tuổi. Sự cản lại của corps médico-social français còn gây nên nhiều sai lầm chẩn đoán, sự nhờ đến quá thường xuyên bệnh viện tâm thần và sự khai trừ hoàn toàn khỏi xã hội ở tuổi trưởng thành.
Công nhận rằng bệnh tự kỷ là một rối loạn phát triển (trouble du développement) điều này nhấn mạnh vào tầm quan trọng của một chẩn đoán đúng và sớm, cho phép cải thiện tính hiệu quả của những can thiệp. Trong những nước anglo-saxon và scandinave, đi trước rất nhiều, chẩn đoán được xét đến ngay lúc 18 tháng. Ở Pháp, hôm nay sự nhất trí được xác lập lúc 3 tuổi, nhưng những chẩn đoán sai lầm vẫn còn thường gặp.“Ngoài những thầy thuốc tâm thần vẫn còn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt hay bệnh loạn thần, thường một bệnh khác, như trisomie hay điếc che dấu bệnh tự kỷ. Khi đó các trẻ có thể chìm vào trong bệnh tự kỷ của chúng hay chịu những tác dụng phụ của những điều trị thuốc”, Mireille Lemahieu, chủ tịch của Hiệp hội bệnh tự kỷ Pháp đã nhấn mạnh như vậy.
Một khi chẩn đoán đúng được xác lập, các gia đình phải đấu tranh để các con của mình được chấp nhận ở trường và tiếp cận nhung phương pháp apprentissage cần thiết cho một socialisation tốt hơn, cho đến tuổi trưởng thành.
Luật Handicap tháng hai năm 2005 và thông tư liên bộ tháng ba năm 2005, đặc biệt tập trung vào bệnh tự kỷ, đã chưa có hiệu quả đủ. Conseil de l’Europe, sau khi đã lên án Pháp năm 2004, cuối năm 2008 đã nhắc lại rằng nước Phap không luôn luôn theo đúng hiến chương xã hội châu Âu về sự tiếp cận bình đẳng trong giảng dạy những người tự kỷ.
Từ nay các hiệp hội đặt tất cả hy vọng vào plan autiste 2008-2010 ; hứa hẹn một lần nữa cải thiện nhưng cơ sở điều trị những người tự kỷ và nhấn mạnh một cách rõ ràng vào sự dào tạo liên tục những thầy thuốc thần kinh.
(LE FIGARO 8//2/2010)

6/ NGHIÊN CỨU BỆNH TỰ KỶ : NHỮNG THUỐC HỨA HẸN ĐANG ĐƯỢC THỬ NGHIỆM
Nhờ, phần lớn, công trình của các nhà nghiên cứu Pháp, vài cơ chế của bệnh tự kỷ bắt đầu được hé lộ. Về phía di truyền, tất cả bắt đầu năm 2003 với sự nhận diện bởi kíp của Thomas Bourgeron ở Viện Pasteur, một gène de susceptibilité đầu tiên trong một gia đình, trong đó một trẻ bị bệnh tự kỷ nặng (autisme profond) và trẻ khác bị bệnh Asperger. Đó là gène của neuroligine, một protéine can thiệp trong những synapse. Khám phá này đã dùng làm đường dẫn để tìm kiếm những gène và protéine khác.
” Tất cả những protéine này tương tác với nhau trong synapse, như thể autisme có thể là do những biến dị khác nhau trong cùng một đường sinh học quan trọng để thiết đặt hệ thần kinh trung ương”, GS Marion Leboyer, partenaire của Thomas Bourgeron trong mạng FondaMental, một cơ quan hợp tác khoa học được thành lấp bởi Bộ Nghiên Cứu để xích lại gần nhau những kíp y khoa và khoa học nghiên cứu về bệnh autisme.
Thomas Bourgeron cũng thăm dò một hướng khác. ” Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng thực ở những bệnh nhân tự kỷ một nồng độ thấp mélatonine. Chất neuro-hormone này, được tiết vào ban đêm, có lẽ chịu trách nhiệm sự điều chỉnh của đồng hồ sinh học. Thế mà, 60% những bệnh nhân tự kỷ bị nhưng rối loạn quan trọng của giấc ngủ. Năm 2008, chúng tôi đã nhận diện một biến dị chịu trách nhiệm một sự thiếu hụt mélatonine ở những trẻ em tự kỷ.”
Những ảnh hưởng của những công trình này là rõ ràng. ” Tất cả những công trình nghiên cứu cho thấy rằng khi ta cho những trẻ em này mélatonine, giấc ngủ của chúng được cải thiện, tình trạng lo âu và tính hung dữ của chúng giảm, đến độ vài trẻ có thể trở về sống trong gia đình”, nhà nghiên cứu nói thêm như vậy.
Một hormone khác, ocytocine, có lẽ đóng một vai trò trong tương lai. Hormone này, được biết làm dễ sự sinh đẻ và sự lên sửa, theo vài công trình nghiên cứu, cũng làm giảm, tính hung dữ và có lẽ làm dễ sociabilité. Do đó người ta có ý tưởng đánh giá những tác dụng của oxytocine trong tự kỷ. Vài công trình đang được tiến hành, trong đó một ở Pháp, được thực hiện bởi Angela Sirigu, thuốc centre de recherches cognitives của CNRS Lyon.
Chụp hình ảnh não là một lãnh vực mũi nhọn khác của nghiên cứu Pháp, nhất là với những kíp của Inserm và của CEA ở khoa bệnh viện Frédéric-Joliot d’Orsay. Sự hiểu những bất thường não trong bệnh tự kỷ đã tiến bộ nhiều từ khi xuất hiện IRM và chụp hình ảnh chức năng. Một vùng nằm mỗi bên não, sillon temporal supérieur, ngã tư hội nhập những thông tin giác quan và giải mã những âm thanh, tác dụng khác nhau lúc nghi ngơi và lúc hoạt động, ở những trẻ tự kỷ và những trẻ khác. Thế mà bệnh tự kỷ được đặc trưng bởi những rối loạn của những cảm nhận giác quan cho phép giao tiếp xã hội. “Có mối liên hệ nào giữa những biến dị di truyền và những rối loạn của sự vận hành chức năng não ? Đó là một trong những câu hỏi lớn cần phải giải quyết “, Marion Leboyer đã chỉ rõ như vậy.
(LE FIGARO 8//2/2010)

7/ CÓ PHẢI ĐIÊN MỚI LÀ THIÊN TÀI ?
Michel-Ange, Hugo, Mozart, Nietzche, Einstein…biết bao nhân vật, từng làm đảo lộn thế giới quan của những người cùng thời họ, đã đến gần vực thẳm của sự điên rồ ? Rối loạn trí tuệ và thiên tài thường được liên kết đến độ đôi khi ta tự hỏi không biết cái này có giống cái kia không, cái đau khổ tâm thần (souffrance psychique) có phải là cái giá phải trả để có một định mệnh đặc biệt. Giả thuyết này không phải mới hôm qua. Vào thế kỷ XIX, người ta đã truy nã người bệnh ẩn dấu trong nhà sáng tạo, sự thoái hóa trong kiệt tác : Chateaubriand được chẩn đoán “épuisé précoce”, Musset “dégénéré supérieur”, Balzac “maniaque ambulatoire” và Flaubert “hystéro-épileptique”. Nhiều phán đoán mà những dữ kiện khoa học hôm nay diễn đạt tính vi : ” Bị những rối loạn tình cảm (trouble affectif) không đủ để là thiên tài, mà còn phải có những aptitude cognitive và những tư tưởng ngoại hạng, thầy thuốc tâm thần Jean Coctaux, đã giải thích như vậy. Và nếu quả đúng là sự phân tích định mệnh của những người sáng tạo lớn thường làm xuất hiện một mối liên hệ rõ ràng với những rối loạn tình cảm, nhưng ta không thể giải thích một tác phẩm độc đáo chỉ bởi căn bệnh tâm thần của tác giả, cũng như không thể giải thích thiên tài bởi bệnh thần kinh.
Trong số những bệnh lý tâm thần mà những nhà sáng tạo thiên tài bị, một bệnh tâm thần nguồn gốc di truyền đặc biệt được sự chú ý của các chuyên gia : rối loạn lưỡng cực của khí chất (trouble bipolaire de l’humeur), mà ngoài những người khác ra, Napoléon, Hemingway hay Dostoievski…đã từng bị. Những người bị bệnh này luân phiên giữa những “thăng” và “trầm” : những đợt hưng phấn và những cơn u sầu trầm cảm sâu. Trong giai đoạn hưng phấn, nhu cầu ngủ giảm, những liên kết ý tưởng dễ dàng, độc đáo, thiện cảm. Sự tiếp cận rất nhanh chóng với cảm hứng là một lợi điểm đáng kể đối với những nghệ sĩ. Jean
Cocteau đã so sánh những đợt cuồng nhiệt sáng tạo (frénésie créatrice) này với “một con ngựa lồng lên thắng cuộc chạy đua”. “Quá trình sáng tạo của Schumann, nhạc sĩ rất dễ xúc cảm, duy tâm, hào hiệp, là điển hình lưỡng cực, thầy thuốc tâm thần kinh Marc-Louis Bourgeois đã đảm bảo như vậy. Sự sáng tác các tác phẩm cua ông xảy ra theo chu kỳ, với một sự luân phiên của những thời kỳ nhiệt tình sáng tạo và những thời kỳ trầm cảm, hoàn toàn không sản xuất “.
VAI TRÒ SÁNG TẠO CỦA DOPAMINE.
Ngoài bệnh lưỡng cực (bipolarité), một cuộc điều tra của đại học Baltimore (Hoa Kỳ) đã quan tâm đến những trouble affectif ở khoảng 50 nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và những nghệ sĩ người Anh khác, tất cả đã nhận một giải thuong có uy tín. Kết quả : 38% trong số họ đã được điều trị vì nhưng rối loạn khí chất (trouble de l’humeur) và 3/4 đã được nhập viện và được điều trị với lithium, thậm chí những sốc điện !
Nếu điều chứng thực là thế đó, vấn đề còn lại là hiểu nhưng cơ sở sinh học của mối liên hệ giữa thiên tài và những rối loạn tâm thần. Vào năm 2010, những nhà nghiên cứu Thụy Điển và Hoa Kỳ đã mở đường bằng cách sử dụng chụp hình ảnh não để thăm dò não của 14 người đã trải qua không khó khăn gì những trắc nghiệm về khả năng sáng tạo. Người ta đã xác nhận rằng vùng đồi thị (thalamus) của họ có một nồng độ thấp những thụ thể dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh có liên quan trọng nhiều chức năng, như sự chú ý, motivation, cognition. Công trình nghiên cứu này, mặc dầu rất sơ bộ, gợi ý rằng những thụ thể dopamine đóng một vai trò trong những năng lực sáng tạo. Thế mà, ta biết rằng chính những thụ thể này đúng là có liên quan trong những triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt và những rối loạn cảm xúc.
(SCIENCES ET VIE. LE GENIE ET SES MYSTERES)

8/ BỆNH LƯỠNG CỰC (BIPOLARITE)
Ở Pháp
Bệnh liên quan đến 1-7% những người Pháp, nếu ta tính đến những dạng nhẹ của nó.
Rối loạn lưỡng cực là gì ?
Tất cả chúng ta từng trải qua những thăng và trầm…Ngoại trừ trong trường hợp của những người lưỡng cực, đó là nhiều đỉnh cao hơn, tiếp theo bởi những vực thẳm khó dò. Họ trải nghiệm những giai đoạn euphorie, được đặc trưng bởi một mégalomanie, một sự giảm ngủ, những nhu cầu giao tiếp gia tăng, những ý tưởng nhanh như chớp (idées fulgurantes), một sự tăng hoạt động (suractivité), sự tìm kiếm những hoạt động nguy hiểm… Những triệu chứng này đôi khi được kèm theo bởi mê sảng, ảo giác và paranoia. Rồi tiếp theo một giai đoạn trầm cảm mạnh, trong đó bệnh nhân khó có thể đi ra khỏi nhà mình.
Nguyên nhân
Dầu đó là những giai đoạn hưng phấn hay trầm cảm chế ngự, những thay đổi khí chất luôn luôn xảy đến không báo trước. Đối với các thầy thuốc, chúng không được liên kết với những biến cố khởi phát nhưng phát xuất từ chính cơ thể. Thật vậy, những rối loạn lưỡng cực chủ yếu nguồn gốc di truyền. Gène Clock, có can dự trong sự kiểm soát nhịp ngày đêm (veille-sommeil, appétit..) đặc biệt có liên quan : tóm lại, bệnh lưỡng cực phát xuất từ một rối loạn của đồng hồ sinh học ! Hướng thăm dò khác, hướng của một sự loạn năng của các ty lạp thể, sản xuất năng lượng cần thiết cho sự vận hành tốt của các tế bào.
Điều trị
Hôm nay, điều trị tốt nhất trong số những điều trị là biết rõ căn bệnh của mình và nhận diên những dấu hiệu báo trước của một sự thay đổi khí chất (irritabilité), để thích ứng vệ sinh đời sống và điều trị thuốc của mình. Thuốc dùng chủ yếu là những chất điều hòa khí chất, như lithium. Một sản phẩm được sử dụng từ thế kỷ XIX những liều được sử dụng hôm nay được tinh tế để hạn chế những tác dụng phụ (lên cân, giảm libido, rụng tóc…)
(SCIENCES ET VIE. LE GENIE ET SES MYSTERES)

9/ NHỮNG THIÊN TÀI LƯỠNG CỰC
ERNEST HEMINGWAY
Nhà văn Hoa Kỳ, giải Nobel văn học, bị nhốt hai lần theo yêu cầu của ông ở clinique de Mayo trong Minnesota để điều trị bệnh rối loạn lưỡng cực.Người ta thực hiện ở ông những sốc điện và cho ông những thuốc an thần mạnh nhưng không có tác dụng chữa lành nhiều. Ông đã tự tử, như cha, anh và chị em của ông.
VINCENT VAN GOGH
Theo một kíp của đại học Lausane (Thụy Sĩ), họa sĩ người Hoà Lan này luân phiên giữa ” những phase hypomaniaque, những đợt loạn thần, những ảo giác và những lúc mất tiếp xúc với thực tại “. Một rối loạn lưỡng cực đã dẫn ông đến tự tử. Và gây cảm hứng nơi ông những táo bạo trong hội họa.
CHARLES DICKENS
Không nghi ngờ gì nữa đối với nhà viết tiểu sử của ông, Simon Callow, nhà viết tiểu thuyết vĩ đại người Anh “hôm nay được chẩn đoán lưỡng cực (bipolaire).” Tác giả của “Olivier Twist” tung bị “mất thang bằng, ông tìm thấy một trợ lực lớn trong những nhân vật của ông, mà ông nói đến như thế họ có thật. Ông đã không bao giờ nguôi lòng từ khi cha ông bị bỏ tù.
NAPOLEON
Khí chất thường hưng phấn, nhà thiên tài quân sự biểu hiện hai triệu chứng của một rối loạn khí chất dai dẳng : một sự luân phiên của gầy ốm và béo phì cũng như không biết mệt. Với khả năng thiếu ngủ kéo dài, hoàng đế đã trải quá nhiều giờ trên lưng ngựa mà không cảm thấy cần phải nghỉ ngơi.
ISAAC NEWTON
Nhà vật lý, nhà toán học và nhà thiên văn học người Anh đã không bao giờ bình phục sau hai chấn thương : cái chết của người mẹ và sự phá hủy do tai nạn phòng thí nghiệm của ông. Bị một trầm cảm nặng, giam ông trong ba năm, ông vẫn bị những thay đổi mạnh của khí chất và là nạn nhân của những crise paranoiaque.
(LE POINT 14/11/2013)

10/ NHỮNG THIÊN TÀI NÀY BỊ BỆNH TÂM THẦN GÌ ?
MICHEL-ANGE
Sau khi đã tìm tòi nhân cách của nhà họa sĩ, các thầy thuốc tâm thần Michael Fitzgerald và Muhamed Arshad gợi ý rằng Michel Ange bị hội chứng Asperger, một dạng của bệnh tự kỷ cấp độ cao. Trí nhớ phi thường của nhà thiên tài thời Phục Hưng, thói quen ám ảnh làm việc, lối sống khác thường, năng lực giao tiep tầm thường và khuynh hướng muốn kiểm soát mọi chuyện dường như là những đặc điểm của những người bị Asperger.
NIETZCHE.
Cuộc đời và sự nghiệp của nhà triết học được “nhịp theo bởi những quay ngoặt không ngừng của khí chất, sức khỏe và năng lực sáng tạo của ông, cho đến năm 1888, năm cuối của cuộc đời khi ông còn minh mẫn, đánh dấu một sự gia tốc khả năng sáng tạo một cách đàng ngạc nhiên”, Sebastian Dieguez, thầy thuốc tâm-thần kinh đã giải thích như vậy. Theo ông, Nietzsche có lẽ bị bệnh lưỡng cực. Trong 8 tháng, từ tháng năm đến tháng 12 năm 1888, Nietzsche đã viết Le Cas Wagner, Le Crépuscule des idoles, L’Antéchrist…! Những giai đoạn cuồng nhiệt sáng tạo (frénésie créative) mà nhà triết học mô tả như là những “ivresse” (say rượu). Vào năm 1889, Nietzsche bị một cơn sa sút trí tuệ (crise de démence) ở ngay tại thành phố Turin. Cho đến khi qua đời, 11 năm sau, ông không bao giờ tỉnh trí trở lại. Một sự “suy sụp” mà các nhà khoa học đã không bao giờ làm sáng tỏ nguyên nhân.
FRANCIS SCOTT FITZGERALD
Vào năm 1935, tạp chí Esquire đòi hỏi nhà văn Hoa Kỳ, bị làm suy mòn bởi bệnh trầm cảm (và rượu), trao lại một bản thảo mà ông đã nhận một số tiền ứng trước. Vì vậy Fitzgerald viết một truyện ngắn, The Crack-Up (La felure). Kiệt tác này, theo ông, ” viết tất cả những gì tôi có thể viết về sự kiện là tôi không thể viết”..Mặc dầu chứng trầm cảm thường ức chế mọi năng lực sáng tạo, nhưng Fitzgerald đã lấy cảm hứng từ đó, mô tả một cách lạnh lùng và mỉa mai, như thế thành công biến đổi quá trình phá hủy thành quá trình sáng tạo.
(SCIENCE ET VIE : LE GENIE & SES MYSTERES)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(22/6/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 437 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 492 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s