Thời sự y học số 430 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ UNG THƯ
PHẦN III

1/ UNG THƯ VÚ

Những con số
– 5 đến 10% những ung thư này có một nguồn gốc di truyền
– 49.000 trường hợp mới được phát hiện ở Pháp năm 2012
– 11.900 trường hợp tử vong năm 2012
– Tỷ lệ sống còn lúc 5 năm là 84%
– Một phụ nữ trên 8 phát triển một ung thư vú trong cuộc đời mình

CĂN BỆNH :
Đó là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ.Nhờ dépistage organisé giữa 50 và 74 tuổi, nó thường được phát hiện sớm. Những adénocarcinome, loại thường gặp nhất, phát triển từ những tế bào của những ống dẫn sữa (canaux lactifères) và, hiếm hơn, từ những tế bào của những tiểu thùy (lobules) (tiết sữa trong lúc cho bú). Ung thư được gởi là “in situ” khi những tế bào ung thư bị giam hãm bên trong những ống dẫn sữa hay những tiểu thùy tiết sữa và được gọi là “carcinome infiltrant” khi chúng xâm nhập các mô bao quanh chúng. Trong trường hợp này, nguy cơ chính là sự lan tràn của những tế bào ung thư về phía những hạch nách hay những phần khác của có thể. Cần ghi nhận rằng 0,5% những trường hợp liên quan đến đàn ông.
ĐIỀU TRỊ :
Sự điều trị dựa vào cắt bỏ tuyến vú một phần hay hoàn toàn (mastectomie partielle ou totale). Phẫu thuật nhằm lấy đi một phần hay toàn thể tuyến vú. Chính gián đoạn tiến triển của khối u quyết định quy mô của can thiệp và sự cần thiết loại bỏ những hạch nằm dưới nách. Trong vài trường hợp, một sự tái tạo tuyến vú (reconstruction mammaire) có thể được thực hiện.
Một khi khối u được lấy ra, có thể cho những điều trị bổ sung để phá hủy những tế bào ung thư còn hiện diện trong cơ thể. Thường nhất, đó là xạ trị (radiothérapie), điều trị vùng ung thư bằng những tia X. Trong vài trường hợp, hóa trị (chimiothérapie) có thể can thiệp trước phẫu thuật, để làm giảm kích thước của khối u và làm dễ sự cắt bỏ nó (chimiothérapie néoadjuvante). Những hóa trị thường nhất được sử dụng sau ngoại khoa, để làm giảm nguy cơ tái phát (chimiothérapie adjuvante).
Một kích thích tố liệu pháp (hormonothérapie) được đề nghị khi khối u có những thụ thể kích thích tố (récepteurs hormonaux) (tumeur hormonosansible). Điều trị này dựa trên những thuốc có tác dụng phong bế tác dụng kích thích của những kích thích tố nữ lên sự tăng trưởng của những tế bào ung thư.
Vài hóa trị mang tên liệu pháp nhắm đích (thérapie ciblée) : đó là những kháng thể chống lại nhưng cơ chế đặc thù đối với những tế bào ung thư. Dưới dạng thuốc viên, chúng có thể được sử dụng, liên kết với hormonothérapie, trong trường hợp ung thư với di căn.
Sự lựa chọn điều trị tùy thuộc loại ung thư, sự lan rộng, độ ác tính của nó, và sự biểu hiện của vài thụ thể, nhưng cũng tùy thuộc sự kiện là người phụ nữ bị mãn kinh hay không và tình trạng tổng quát của bệnh nhân.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2014)

2/ 10 695 UNG THƯ VÚ Ở BỈ
Với 10.695 trường hợp mới mỗi năm, ung thư vú là ung thư thường gặp nhất ở các phụ nữ (35% của tất cả các ung thư) và tỷ lệ ở Bỉ nằm trên mức trung bình châu Âu. Năm 2012, ung thư vú đã gây 2312 trường hợp tử vong. Tỷ lệ ổn định ở những phụ nữ dưới 50 tuổi (số trường hợp 4 lần ít hơn so với những phụ nữ lớn tuổi hơn). Ngược lại, số những trường hợp mới gia tăng 2% mỗi năm ở những phụ nữ 70 tuổi và hơn. 10 năm qua tỷ lệ tử vong đã giảm 2% mỗi năm.
(PARIS MATCH 16/2-22/2/2017)

3/ UNG THƯ VÚ : MỘT CHẨN ĐOÁN TRONG 6 GIỜ
Từ chụp tuyến vú (mammographie) đến sinh thiết, Viện Gustave-Roussy, gần Paris, cho phép các phụ nữ lo lắng trải qua trong một ngày tất cả những xét nghiệm cần thiết.
Mỗi thứ hai, ở Viện Gustave-Roussy, khoảng 30 phụ nữ, một mình hay được đi kèm bởi một cô con gái, một người bạn gái, một người chồng, đến consultation ” Diagnostic en un jour ” để đặt một tên cho một cục được phát hiện khi consultation médicale hay một hình ảnh khả nghi được phát hiện bởi chụp tuyến vú. Consultation có hai mục tiêu : trấn an những phụ nữ có một thương tổn vú hiền tính và không làm những phụ nữ bị một ung thư mất thời gian.
3 BỆNH NHÂN TRÊN 4 RA VỀ VỚI KẾT QUẢ.
” Sau khi bệnh nhân được trình bày ở phòng tiếp đón, một chặng đường phải theo được chỉ rõ.Tùy theo những đặc điểm của thương tổn được phát hiện, bệnh nhân qua một khám lâm sàng đầu tiên với một thầy thuốc ngoại khoa, một thầy thuốc chuyên ung thư hay một thầy thuốc quang tuyến, Isabelle, một trong những y tá phụ trách phòng tiếp đón sáng nay đã giải thích như vậy. Cuộc nói chuyện được tiếp theo bởi 4 thăm dò chẩn đoán : chụp tuyến vú (mammographie), siêu âm, cytoponction và sinh thiết.”” Những thăm dò khác nhau này, sự giao nhau của các ý kiến, cũng như chất lượng của dụng cụ mà chúng ta nhận, làm giảm những nguy cơ sai lầm, BS Suzette Delaloge, thầy thuốc chuyên khoa ung thư, người sáng lập khoa tiền phong này cách nay 10 năm, được dùng làm modèle cho một chục những cơ quan tương tự ở Pháp, đã nhấn mạnh như vậy. Nhờ những sản phẩm mới như Kalinox, một khí gây mê được sử dụng để thực hiện vài xét nghiệm, những mức độ đau đớn được cảm nhận bởi những bệnh nhân rất thấp.” Nếu cục u hiền tính, benh nhận ra về cảm thấy nhẹ nhõm bởi vì ” trong đại đa số cá trường hợp đó không phải là một báo động, cũng không phải một bẩm chất ung thư (prédisposition cancéreuse) “, BS Delaloge đã nói tiếp như vậy. Nếu khối u là ung thư (trong 35-40% những trường hợp), bệnh nhân được thông báo nhân một cuộc nói chuyện nhằm vạch rõ protocole de soins phải theo, với lấy hẹn để mổ nếu cần.
CHÚ Ý VÀ DỊU DÀNG
Kết quả : dầu có ung thư hay không, 3 bệnh nhân trên 4 nhận kết quả trong ngày sau một parcours khoảng 6 giờ. Trong những trường hợp khác, khi những hình ảnh bất thường cho thấy những vôi hóa rất nhỏ (microcalcifications)và khi một sinh thiết là cần thiết, bilan được thông báo trong một thời hạn tối đa 10 ngày.Suốt trong parcours de soins, y tá hướng dẫn và giúp đỡ các bệnh nhân. Các bệnh nhân được giúp đỡ trong công tác này bởi những người thiện nguyện của hiệp hội Les Blouses roses : khoảng hai chục phụ nữ thay phiên nhau để mời nước nóng và những hoạt động thủ công, thời gian để nghĩ đến chuyện khác. Colette, đã về hưu, “Blouse rose” từ 23 năm nay, làm chứng : ” Ngày dài và làm lo lắng đối với những phụ nữ này. Mọi người cần được sự chú ý và sự dịu dàng, nhất là những phụ nữ đến một mình để không báo động những người thân.” ” Tôi không chờ đợi một lòng nhân từ như thế, một bệnh nhân đã tâm sự như vậy. Tôi đã đến đây bởi vì hồ sơ của tôi được giải quyết ở một nơi duy nhất và tôi nhận câu trả lời vào cuối ngày. Sự tiếp đón, đó là bonus !” Theo một công trình nghiên cứu được thực hiện trong đơn vị, tỷ lệ thỏa mãn đối với chất lượng của parcours de soins được đề nghị đạt 80%, và ngay cả 90% đối với công tác của các y tá và các ” Blouses roses”.
(SCIENCES ET AVENIR 3/2014)

4/ PHẪU THUẬT TÁI TẠO VÚ NHỮNG CHỈ ĐỊNH.
Được sống như một sự cắt xéo bởi nhiều phụ nữ, mastectomie, phẫu thuật nhằm lấy đi toàn bộ hay một phần của vú, thường cần nhờ đến một sự tái tạo (reconstruction). Ngoài tính chất thẩm mỹ, chính ảnh hưởng lên nữ tính (féminité) cũng như sự khó chấp nhận một cơ thể trở nên xa lạ, khiến phần lớn các phụ nữ liên hệ buộc phải bước thêm một bước. Nhưng đó là một lựa chọn rất cá nhân, vài người không cảm thấy điều đó. Sự tái tạo vú là một bộ phận của điều trị ung thư vú, và nó được bồi hoàn 100% trong khung cảnh của bệnh có thời gian dài hạn, trên cơ sở tarif của Assurance maladie.
KỸ THUẬT
Nhiều giải pháp được đề nghị với thầy thuốc ngoại khoa : hoặc là tái tạo tức thời, sau khi cắt bỏ vú một phần hay hoàn toàn ; hoặc một tái tạo trì hoãn, thí dụ trong trường hợp của một xạ trị hậu phẫu, nhưng cũng nếu như bệnh nhân mong muốn. Quá trình có thể tiến triển thành từng đợt : modelage thể tích và hình dạng của vú, sữa nhằm một sự đối xứng hài hòa, tái tạo quầng và núm vú. Những phương pháp khác nhau có thể được xét đến tùy theo mức độ lan rộng của mastectomie, tình trạng của các mô sau cắt bỏ và xạ trị, hình dạng của vú. Phương pháp thường được sử dụng nhất là đưa vào sau cơ ngực một prothèse (được làm đầy bởi gel de silicone hay huyết thanh sinh lý). Một biến thể là trước hết đặt một prothèse d’expansion để kéo căng da dần dần trước khi đặt implant vĩnh viễn. Kỹ thuật khác : lấy một mẫu cơ (lambeau musculaire) ở bụng (“Tram” : Transverse Rectus Abdominis Muscle Flap) hay ở lưng (grand dorsal). Nó cho phép tái tạo vú với các mô của chính bệnh nhân, bằng cách sử dụng da, cơ và mỡ. Nhưng để thêm thể tích, có thể đặt một prothèse sau lambeau. Các thầy thuốc ngoại khoa đôi khi cũng nhờ đến một autogreffe mô mỡ, được lấy bằng liposuccion để tạo hình vú. Sau cùng, từ 15 năm nay, một phương pháp, tôn trọng thành bụng hơn kỹ thuật Tram, sử dụng một lambeau da-mỡ (da và mô nhưng không phải cơ) được lấy ở bụng. Đó là phương thức “Deep” (Deep Inferior Epigastric Perforator Flap), được phát minh bởi GS Laurent Lantieri (Bệnh viện Georges-Pompidou, Paris).
(SCIENCES ET AVENIR 3/2014)

5/ SỰ TÁI TẠO VÚ: KỸ THUẬT MỚI ĐƯỢC ROBOT HỖ TRỢ
Dr Benjamin Sarfati, chirurgien spécialiste en chirurgie plastique esthétique et reconstructive ở bệnh viện Gustave-Roussy (Villejuif), giải thích thủ thuật ngoại khoa cho phép một kết quả không có sẹo có thể thấy được.
Hỏi : Số lượng những ung thư vú, mỗi năm ở Pháp, cần phải cắt bỏ hoàn toàn ?
Dr Benjamin Sarfati. Ung thư này rất thương gặp và xảy ra ở khoảng 1 phụ nữ trên 9. Trung bình ta tính được 20.000 trường hợp cắt bỏ vú mỗi năm.
Hỏi : Trong những trường hợp nào sự cắt bỏ vú hoàn toàn là cần thiết ?
Dr Benjamin Sarfati.
1. Khi có nhiều khối u nằm cách xa nhau trong cùng một vú.
2. Trong trường hợp ung thư viêm (cancer inflammatoire).
3. Khi khối u quá quan trọng và khi một hóa trị trước mổ không thể thực hiện để thu giảm thể tích của nó.
Hỏi : Ở Pháp, cũng như ở Hoa Kỳ, phải chăng ta thực hiện cắt bỏ hai vú đ ể phòng ngừa ?
Dr Benjamin Sarfati. Hôm nay, trong trường hợp có tiền sử gia đình bị ung thư vú, có thể thực hiện một test génétique để phát hiện một gène prédisposant. Có nhiều loại gène, trong đó các gène BRCA1 và BRCA2. Chính thầy thuốc hướng bệnh nhân đến một chuyên gia di truyền (généticien) để thực hiện trắc nghiệm này. Nếu một bất thường được phát hiện, bệnh nhân sẽ biết rằng nguy cơ phát triển một ung thư gia tăng.
Hỏi : Ta có thể đề nghị gì cho một phụ nữ khám phá nguy cơ này ?
Dr Benjamin Sarfati. Người phụ nữ này lựa chọn hai giải pháp.1.Theo dõi X quang và siêu âm hàng năm. 2. Cắt bỏ hai vú và tái tạo tức thời trong cùng một cuộc mổ.
Hỏi : Ông hãy mô tả cho chúng tôi protocole cổ điển của phẫu thuật này ngay sau khi cắt bỏ ?
Dr Benjamin Sarfati. Trong những trường hợp có thể thực hiện một sự tái tạo vú đúng ngay sau khi cắt bỏ nó, thầy thuốc ngoại khoa bảo tồn tối đa da và đôi khi quầng vú để tối ưu hóa những kết quả thẩm mỹ. Sự tái tạo này có thể được thực hiện với một prothèse, một mẫu mỡ hay cơ, hay chỉ bằng cách tiêm trên bệnh nhân mỡ được lấy trước đó.
Hỏi : Với kỹ thuật này, những kết quả là gì ?
Dr Benjamin Sarfati. Chúng rất thỏa mãn. Tuy nhiên, sẹo cuối cùng (từ 6 đến 10 cm), nói chung nằm trên phần bên hay dưới vú, vẫn có thể nhìn thấy được. Đôi khi sẹo này có thể khó chấp nhận đối với bệnh nhân, bởi vì nó làm tổn hại tính nữ của bệnh nhân. Ngoài ra, nó có thể là nguồn của những biến chứng hậu phẫu.
Hỏi : Ông đã hiệu chính một kỹ thuật cắt bỏ mới bằng cách sử dụng một robot. Protocole ngoại khoa là gì ?
Dr Benjamin Sarfati. Cuộc mổ được thực hiện nhờ một biến thể mới nhất của robot Da Vinci (đã được sử dụng trong niệu học và phụ khoa). Can thiệp được thực hiện nhờ 3 bras robotique articulé, tạo lại một cách chính xác những dong tác của phẫu thuật viên. Vị thầy thuốc ngoại khoa này ngồi ở một console de controle và có một cái nhìn 3 chiều (vision en 3 dimensions). Đường xẻ cho phép lấy đi tuyến vú chỉ có 3 đến 4 cm và đường xẻ nằm dưới cánh tay, ở mức cái nịt vú. Chính qua đường xẻ này mà prothèse được đưa vào để tái tạo vú. Khi bệnh nhân để cánh tay dọc thân thể, sẹo mổ không thể thấy được.
Hỏi : Tại sao vị trí của đường xẻ này chỉ có thể thực hiện với một kỹ thuật được robot hỗ trợ ?
Dr Benjamin Sarfati. Bởi vì không thể thực hiện bằng tay một sự cắt bỏ hoàn toàn của vú xuyên qua một đường xẻ từ 3 đến 4 cm cách xa tuyến vú như thế.
Hỏi : Tóm lại, những ưu điểm của phẫu thuật sửa chữa vú có robot hỗ trợ là gì ?
Dr Benjamin Sarfati. 1. Không có vết sẹo có thể thấy được. 2. Giảm nguy cơ những biến chứng về mặt nhiễm trùng của prothèse hay hoại tử da (sẽ phải cần xác nhận vào cuối công trình nghiên cứu). 3. Sự phẫu tích được kiểm soát tốt hơn nhờ một caméra endoscopique của robot.
Hỏi : Bao nhiêu bệnh nhân đã được mổ với robot này ?
Dr Benjamin Sarfati. Cho đến nay có 18 bệnh nhân, trong đó bệnh nhân đầu tiên được mổ 12/2015. Những kết quả là rất đáng phấn khởi và rất thỏa mãn về mặt thẩm mỹ. Kỹ thuật mới này đang được đánh giá. Một khi công trình nghiên cứu chấm dứt, mục tiêu là dân chủ hóa kỹ thuật này để có thể làm cho một số lượng tối đa bệnh nhân hưởng được kỹ thuật này.
(PARIS MATCH 1/12-7/12/2016)

6/ UNG THƯ VÚ : 93 BIẾN DỊ DI TRUYỀN LIÊN HỆ.
Phân tích ADN của hơn 500 khối u mở đường cho sự nhận diện những nguyên nhân còn chưa được biết của bệnh này.CANCEROLOGIE. Một chương trình nghiên cứu quan trọng về những nguyên nhân của ung thư vú vừa được hoàn thành và phải mở đường cho những hướng điều trị mới chống lại căn bệnh này, với 54.000 trường hợp mới ở Pháp mỗi năm. Một sự hợp tác quốc tế, được điều hợp và tài trợ bởi Viện ung thư quốc gia, đã công bố trong tạp chí Anh Nature những kết luận của phân tích di truyền hoàn toàn của 560 khối u của vú.
” Đó không phải là một nghiên cứu của những gène tố bẩm ung thư (gène de prédisposition au cancer) ở những người lành mạnh, nhưng đó là một phân tích hệ thống của génome của những tế bào bệnh, trong các khối u “, BS Anne Vincent-Solomon, thầy thuốc bệnh lý ở Viện Curie, đã định rõ như vậy. Séquençage của tất cả chất liệu di truyền, chứ không chỉ vài gène hoạt động trong các khối u, sẽ cho phép nhận diện toàn thể những biến dị và những biến thái di truyền nguồn gốc của những ung thư.
Bởi vì dầu cơ quan hay loại ung thư là gì, một khối u luôn luôn là hậu quả của một biến đổi của chất lượng di truyền ở trung tâm tế bào. Khi ADN quá bị hư hỏng để có thể được sữa chữa và khi thương tổn này liên quan một gène nhất định, tế bào có thể trở thành ung thư : tế bào này phát triển một cách không kiểm soát được, vượt qua những phòng vệ của cơ quan bình thường có nhiệm vụ đẩy những tế bào bất thường vào chỗ chết. ” Vài trong những biến dị này được gây nên bởi một sự thay đổi mẫu tự trong mật mã di truyền, nhưng những biến dị khác là do những gène trùng đôi nhiều lần, và sau cùng có thể có những sự sắp xếp lại của tất cả các đầu của nhiễm sắc thể “, Alain Viari, giám đốc nghiên cứu Inria đã giải thích như vậy.
” Chúng tôi đã nhận diện 93 gène, trên 20.000 mà génome humain gồm có. Những gène này gây ung thư vú, GS Mike Stratton, đại chuyên gia thế giới về di truyền của ung thư vú ở Wellcome Trust Sanger Institute de Cambridge (Vương Quốc Anh) và coordinateur national của công trình nghiên cứu mới này, đã tóm tắt như vậy. Danh sách các gène này, và những protéine mà chúng liên kết, sẽ mang lại cho những laboratoires pharmaceutiques những đích để phát triển những thuốc mới chống lại ung thư vú.”
Công việc sẽ không dễ dàng. Và công trình nghiên cứu này xác nhận điều mà các chuyên gia đã biết : những nguyên nhân của ung thư vú rất là đa dạng và không có một “thủ phạm hiển nhiên ” nào, như thuốc lá đối với ung thư phổi hay những tia tử ngoại đối với ung thư da. Tính đa dạng của các nguyên nhân làm phức tạp công việc của các nhà nghiên cứu để hiệu chính những liệu pháp cá thể hóa (thérapie personnalisée), thích ứng với loại những biến dị gây các khối u. ” Chúng tôi có rất ít những ý tưởng về những nguyên nhân của phần lớn các biến dị liên kết với ung thư vú “, Mike Stratton, người khám phá năm 1994 gène bẩm chất ung thư BRCA 2. ” May mắn thay, sự phân tích hệ thống của mật mã di truyền của 560 khối u cho phép chúng ta nhận diện những nguyên nhân mới của ung thư này “, ông đã đảm bảo như vậy. Bởi vì mặc dầu những biến đổi di truyền là nhiều, nhưng dẫu sao vài biến đổi có những “signature” giống nhau và có thể có cùng những nguyên nhân.
Kíp của Mike Stratton từ nay tập trung vào sự phân tích những signature de mutation và cố tìm những loại thuốc nào có thể có cùng hiệu quả lên những tế bào được cấy trong phòng thí nghiệm. “Tôi có hy vọng rằng chúng ta sẽ có thể nhận diện những nguyên nhân không được biết của ung thư vú”, nhà khoa học người Anh đã đảm bảo như vậy.
(LE FIGARO 3/5/2016)

7/ UNG THƯ VÚ : NGUY CƠ GIA TĂNG
Ung thư vú là một ung thư phụ thuộc kích thích tố (cancer hormonodépendant). Cho đến nay, các nhà nghiên cứu không thể nói một cách chính xác điều gì gây nên điều đó, trừ trong trường hợp một ung thư di truyền. Tuy nhiên nhiều yếu tố được biết như là những yếu tố nguy cơ : tuổi tác (nguy cơ gia tăng bắt đầu từ 50 tuổi), có kinh sớm, mãn kinh muộn, không có thai nghén, điều trị hormone thay thế hay những bệnh lý hiền tính của vú như kyste, fibrome. Những yếu tố quyết định khác có thể làm dễ sự phát triển của ung thư vú, như môi trường, trình độ xã hội, những chất rối loạn nội tiết. Vậy sự điều tra phát hiện cho đến nay là phương tiện tốt nhất.
(PARIS MATCH 16/2-22/2/2017)

8/ UNG THƯ VÚ : NHỮNG PHÒNG NGỪA NÀO ?
Vài khuyến nghị có thể được thực hiện, như sự thực hành một thể thao ít nhất 2 giờ mỗi tuần, đặt ưu tiên một thức ăn lành mạnh và có chất lượng, tiêu thụ rượu một cách chừng mực, tránh thuốc lá, cảnh giác đối với nội dung của những sản phẩm vệ sinh hàng ngày và tránh những thuốc khử mùi (déodorant) chứa những chất làm rối loạn nội tiết (perturbateur endocrinien). Cũng như đối với tất cả những bệnh lý ung thư khác, bảo hiểm y tế đảm nhận một phần những phí tổn nhập viện, những điều trị ngoại trú và hóa trị. Ngoài ra phẫu thuật tái tạo vú cũng được đảm nhận bởi bảo hiểm xã hội.
(PARIS MATCH 16/2-22/2/2017)

9/ UNG THƯ LÀ MỘT BỆNH LIÊN KẾT VỚI MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI ĐẾN MỨC NÀO ?
Hôm nay điều chứng thực sau đây là một định mệnh không tránh được : ở cuối thang xã hội (échelle sociale), dầu đó là về mặt trình độ học vấn, lợi tức hay loại xã hội-nghề nghiệp (catégorie socio-professionnelle), ta càng thường là nạn nhân của ung thư và ta càng chết nhiều hơn vì nó. Tệ hơn, những chênh lệch sâu xuống. Trong những năm 1970, nguy cơ chết vì một ung thư là 1,5 lần cao hơn ở những người có một trình độ học vấn thấp so với những người có văn bằng nhất. Năm 2013 con số này lên đến 2,5 ! Thế mà về vấn đề này,đất nước chúng ta nằm trong số những người học trò rất xấu. ” Nước Pháp là một trong những nước Tây Âu, trong đó mức độ không đều về tỷ lệ tử vong vì ung thư là quan trọng nhất “, các nhà nghiên cứu của Viện quốc gia ung thư trong một báo cáo 2012 đã ghi nhận như vậy. Đối với những ung thư của các đường khí-tiêu hóa (xoang miệng, thanh quản, hầu), sự chênh lệch giữa phần trên và dưới của thang xã hội là hai lần quan trọng hơn ở Pháp so với ở Bỉ hay ở Đan Mạch. Làm
thế nào mà, trong một nước thường tự hào về chất lượng và khả năng tiếp cận của hệ y tế của mình, những bất bình đẳng như thế đã có thể kéo dài, và ngay cả tăng cường qua năm tháng ? Và mặc dầu Plan cancer 2009-2013 đã đặt một trong những ưu tiên của mình là cuộc đấu tranh chống lại những bất bình đẳng xã hội trước căn bệnh…” Sự phòng ngừa và sự điều tra phát hiện có lẽ đã làm lợi nhất cho những loại bị gây bất lợi nhất “, Viện đã đề xuất trong công trình nghiên cứu của mình như vậy. Nói một cách khác thông điệp được chuyển đúng trong classe supérieure, ít hơn nhiều trong những classe khác. Chứng cớ : ở Isère, sự khác nhau trong việc tham gia điều tra phát hiện ung thư đại trực tràng là 29% giữa những zone de résidence khá giả nhất và bấp bênh nhất. Vài yếu tố nguy cơ, liên kết với thế giới lao động, cũng được xét đến : trong số những người ăn lương tiếp xúc với những chất gây ung thư trong môi trường nghề nghiệp, 70% là những công nhân. Ngay cả khi những người bị bất lợi nhất ít bị vài loai ung thư hơn, chúng cũng có một tỷ lệ sống còn ít hơn so với những người khá giả nhất ! Những công trình nghiên cứu dịch tễ học cùng tiết lộ rằng những phụ nữ khá giả nhất có nguy cơ hơn phát triển một khối u (thai nghén muộn hơn và số con ít hơn, hai yếu tố nguy cơ được biết của loài ung thư này) 1,6 lần nhiều nhưng lại sống sót tốt hơn, nhờ một sự tiếp cận điều trị tốt hơn. Điều này có thể hiểu được, 5 vùng có những mật độ chuyên gia thấp nhất có tỷ lệ dân nghèo mạnh nhất. Không còn nghi ngờ nữa, về ung thư, tình trạng nghèo giết bệnh nhân
(SCIENCES ET VIE : QUESTIONS ET REPONSES. 6/2014)

10/ CÀ PHÊ GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ…TRỪ KHI CÀ PHÊ NONG !
Những đồ uống được tiêu thụ ở 70 độ C có thể gia tăng nguy cơ ung thư của thực quản theo OMS
CANCER. Khi bạn đọc báo ở Trung Quốc, Thổ nhĩ kỳ hay Nam Mỹ, có lẽ bạn sẽ có bên cạnh bạn một cốc cà phê hay trà nóng. Hãy làm lạnh nó một ít !
Bởi vì, trong những nước này, thói quen uống chúng ở nhiệt độ khoảng 70 độ C có thể gia tăng nguy cơ ung thư thực quản. Thật vậy, trung tâm nghiên cứu quốc tế về ung thư (CIRC, Lyon), được OMS giao trách nhiệm đánh giá những mức nguy cơ ung thư, vừa thêm những đồ uống rất nóng này vào danh sách những yếu tố khả dĩ gây ung thư (cancinogène probable)
Để đi đến kết luận này, nhóm công tác, hội họp ở Lyon từ 24 đến 31 tháng năm, đã xem xét hơn một ngàn công trình nghiên cứu được thực hiện ở người hay động vật và gần 500 công trình nghiên cứu dịch tễ học được công bố từ 25 năm qua. ” Những kết quả này gợi ý rằng uống những đồ uống rất nóng có lẽ là nguyên nhân của những ung thư thực quản và rằng chính nhiệt độ, hơn là chính nước uống, có vẻ là thủ phạm, BS Christopher Wild, giám đốc CIRC đã xác định như vậy trong một thông cáo.
Sự nghi ngờ không phải có từ hôm qua, vì lẽ ngay những năm 1990, OMS đã tiến hành những công trình nghiên cứu ở Argentine, Brésil, Uruguay và Paraguay, để hiểu tỷ lệ mạnh của ung thư thực quản ở những nước này. Vào thời kỳ đó, một khi đă loại bỏ (bằng những phương pháp thống kê) hai nguồn ung thư đứng đầu của loại này là thuốc lá và rượu, OMS kết luận một tác dụng gây ung thư của những đồ uống rất nóng. Cũng như vậy ở Nhật, là nơi sự tiêu thụ trà nóng rất phổ biến.
Ngược lại, những người châu Âu và những người Bắc Mỹ tránh những đồ uống nóng và nói chung thích hơn một cà phê hay trà không vượt quá 60 độ C. Và trong trường hợp này, tình huống thay đổi một cách triệt để. Không những không có nguy cơ gây ung thư, các chuyên gia của CIRC đã xác nhận như vậy, mà thêm vào, nguy cơ của vài ung thư cũng được giảm.
HIERARCHISATION DES RISQUES.
” Nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học về cà phê cho thấy rằng không có nguy cơ đối với những ung thư tụy tạng, vú hay tiền liệt tuyến và một nguy cơ giảm đối với gan hay nội mạc tử cung “, CIRC đã kết luận như vậy.
Nhìn lại, sự kiện CIRC đã xếp loại cà phê trong số những chất khả dĩ gây ung thư cách nay 25 năm dường như khá gây kinh ngạc xét vì những dữ kiện hiện có.
Nhất là sự xếp loại chịu một thiếu sót nội tại. ” CIRC nhận diện sự nguy hiểm của những chất và quyết định về mức chứng cớ của nguy cơ này, GS Gérard Lasfargues, Phó tổng giám đốc của Anse đã giải thích như vậy, nhưng nó không chỉ nguy cơ trong dân chúng, bởi vì điều đó tùy thuộc vào sự tiếp xúc.” Dĩ nhiên có một lợi ích đáng kể đối với sức khỏe khi không hút thuốc và uống rượu.
(LE FIGARO 10/6/2016)

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(24/4/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 430 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 517 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s