Cấp cứu chỉnh hình số 28 – BS Nguyễn Văn Thịnh

GÃY XƯƠNG CỔ CHÂN
(FRACTURE DU COU DE PIED)

Dominique SARAGAGLIA
Professeur des universités-Praticien hospitalier
d’orthopédie-traumatologie
Chef du service de chirurgie orthopédique et
de traumatologie du sport, urgences
CHU de Grenoble, hôpital sud

A. CƠ THỂ BỆNH LÝ
Ta phân biệt
I. NHỮNG GÃY MẮT CÁ (FRACTURES MALLEOLAIRES)
a. Những gãy mắt cá trong (fracture de la malléole interne ou médiale)
b. Những gãy mắt cá ngoài (fracture de la malléole externe ou latérale)
c. Những gãy mắt cá sau
d. Những gãy hai mắt cá (fracture bimalléolaire)
– được xác định đối với đường gãy nằm trên mắt cá ngoài
– Ta phân biệt :
+ Những gãy trên dây chằng (fractures sus-ligamentaires) : đường gãy mắt cá ngoài nằm trên những dây chằng chày-mác dưới (ligaments tibio-péronniers), trong đó luôn luôn có một thương tổn của syndesmose tibio-péronière inférieure.+ Những gãy dưới dây chằng (fractures sous-ligamentaires), trong đó không bao giờ có thương tổn của syndesmose.+ Những gãy liên dây chằng trong đó syndesmose có thể bị thương tổn hay không.+ Gãy Maisonneuve xảy ra ở mắt cá trong và thân xương mác thường ở cổ xương mác.+ Những tương đương của gãy hai mắt cá xảy ra ở dây chằng bên- trong (không gãy mắt cá trong) và mắt cá ngoài cho đến tận thân xương mác (tương đương gãy Maisonneuve).d. Những gãy ba mắt cá (fractures trimalléolaires) và những tương đương : mắt cá trong hay dây chằng bên-trong (ligament collatéral médial), cọng mắt cá ngoài (malléole externe), cọng mắt cá sau (malléole postérieure).e. Les fracture du tubercule de Chaput (tubercule tibial trên đó bám ligament tibio-péronier antérieur và inférieur)

II. LES FRACTURES DU PILON TIBIAL
Ta phân biệt :
– Les fractures marginales antérieures– Les fractures marginales postérieures– Les fractures margino-malléolaires antérieure ou postérieure
– Les fractures bimarginales ou bimargino-malléolaires

B. LÂM SÀNG
– Chẩn đoán rõ rệt khi gẫy bị di lệch với mắt cá bị biến dạng, phù quan trọng và mất năng lực hoàn toàn.
– Chụp X quang (face + profil) sẽ xác nhận chẩn đoán
– Chẩn đoán vài gãy xương không di lệch có thể không được đánh giá đúng nếu sự mất năng lực ít quan trọng, nếu thăm khám lâm sàng ngắn gọn và nếu ta áp dụng những quy tắc của Ottawa (không chụp X quang hệ thống trong những chấn thương mắt cá)
– Mọi gãy xương riêng rẻ của mắt cá trong có thể khiến phải ấn chẩn thân xương mác và đòi hỏi chụp X quang cẳng chân để tìm kiếm một gãy xương Maisonneuve.

C. XỬ TRÍ
I. ĐIỀU KHÔNG PHẢI LÀ NGOẠI KHOA
1. Tất cả những “đường nứt” (fissures) và gãy dưới cốt mạc không di lệch
– Một botte plâtrée (hay một résine) chắc chắn là điều trị đáng tin cậy và ít tốn kém nhất. Thời gian bất động có thể đi từ 45 đến 75 ngày (45 ngày đối với một mắt cá ngoài và 75 ngày đối với một pilon tibial).
– Một plâtre de marche là có thể đối với những gãy mắt cá (mắt cá ngoài, mắt cá trong, mắt cá sau nhỏ)
– Trái lại phải tránh tì chân đối với những gãy không di lệch của pilon tibial (nguy cơ enfoncement +++)
– Phải thực hiện một chụp X quang kiểm tra sau 8 ngày bước thật sự, và sau đó lúc lấy plâtre đi.
– Phải biết rằng ở mắt cá ngoài đường gãy có thể thấy trong 3 đến 6 tháng mà ta không thể nói đó là khớp giả, nhất là nếu bệnh nhân không đau.
2. Những gãy mắt cá ngoài (fractures de la malléole externe)
– Phải rất chú ý đến những tương đương của gãy hai mắt cá và tìm kiếm sự hiện diện của một diastasis astragalo-malléolaire interne.– Mọi diastasis, dầu bé nhỏ đến đâu, đều phải đợi một ý kiến ngoại khoa. Đối với chúng tôi, trong nhiều trường hợp đó là một điều trị ngoại khoa bởi vì mọi sự lơ là nhanh chóng dẫn đến một hư khớp tibio-tarsienne.
II. ĐIỀU LÀ NGOẠI KHOA
1. Những gãy di lệch2. Những gãy có khả năng di lệch (thí dụ những tương đương của gãy hai mắt cá)
3. Những gãy hở :
Trong tất cả các trường hợp, phải đòi hỏi một ý kiến chuyên khoa. Thầy thuốc ngoại khoa phải thực hiện một nắn hoàn hảo bởi vì đó là những gãy khớp mà nguy cơ hư khớp gia tăng do một nắn gần đúng (réduction approximative). Kết hợp xương phải vững để cho phép phục hồi chức năng ngay khi có được sự lành sẹo của da.
III. NHỮNG ĐỘNG TÁC ĐẦU TIỀN TRƯỚC MỘT GÃY-SAI KHỚP
+ Phải biết nắn nhanh những gãy-trật khớp hay những gãy rất di lệch nếu thầy thuốc ngoại khoa không có mặt tức thời. Những nguy cơ gây biến chứng da, mạch máu và thần kinh phải cầm nhìn ngắm và thúc đẩy hành động nhanh chóng.– Đối với những gãy mắt cá, phải nắn bằng cách “rechaussant le pied” (manoeuvre de l’arrache-botte) và bất động mắt cá trong một botte plâtre (không traction trans-calcanéenne)
– Đối với gãy của pilon tibial, tốt hơn là thiết đặt một traction transcalcanéenne 6 hay kg
– Phải luôn luôn chụp X quang kiểm tra sau nắn hay sau kéo, điều này sẽ cho phép một sự phân tích tinh tế hơn những đường gãy và tạo điều kiện cho chiến lược điều trị.
+ Chi phải được đặt ở tư thế thấp (en déclive) (chống phù) và những AINS bằng đường tiêm có thể được kê đơn khi không có chống chỉ định.

Reference : Traumatologie à l’usage de l’urgentiste

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(2/4/2017)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chỉnh hình, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s