Cấp cứu chỉnh hình số 27 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHẤN THƯƠNG BÀN CHÂN
(FOOT INJURIES)

Michael C. Wadman, MD
Assistant Professor
Department of Emergency Medicine
University of Alabama at Birmingham
Birmingham, Alabama

I. LÂM SÀNG
Chấn thương bàn chân thường là do những lực trực tiếp hay những lực xoắn, với những cơ chế thuộc loại xoắn, đưa đến những thương tổn thuộc loại bong xương nhẹ hơn. Thăm khám vật lý bắt đầu với một sự đánh giá mắt cá chân như đã nói trước đây, theo sau bởi thị chẩn và ấn chẩn dây gân Achille, xương gót chân, mu của phần giữa bàn chân (midfoot), các xương đốt bàn chân (metatarsals), và những xương đốt ngón chân (phalanges), với sự chú ý đặc biệt nền của đốt bàn thứ năm và vùng trên nền của đốt bàn thứ hai.

II. CHẨN ĐOÁN VÀ CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Một khám vật lý bình thường phối hợp với khả năng di chuyển trọng lượng dễ dàng trong khi đi lại chủ yếu loại bỏ gãy xương.
Những dấu hiệu bất thường chỉ thị một standard 3-view foot radiographic series và thêm một axial calcaneal view đối với nhạy cảm đau khi sờ quanh gót chân.
Chụp cắt lớp vi tính có thể xác định tốt nhất một diastasis ở khớp Lisfranc.
1. NHỮNG THƯƠNG TỔN PHẦN MỀM CẤP TÍNH
Những thương tổn phần mềm hở ở chân, như những vết thương do súng bắn (gunshot wound ở bàn chân và những thương tổn do máy xén cỏ (lawnmower injuries), thường gây nên sự tổn hại mô mềm lan rộng, đòi hỏi hội chẩn và mổ cắt lọc.
2. CHẤN THƯƠNG ĐÈ NÁT (CRUSH INJURIES) VA HỘI CHỨNG KHOANG (COMPARTMENT SYNDROME)
Một bàn chân bị đè nát trở nên sưng căng và được liên kết với những triệu chứng đau không tỷ lệ với những dấu hiệu khám vật lý gợi ý khả năng hội chứng khoang (compartment syndrome). Một cách điển hình, đau không được làm thuyên giảm bởi gác chân lên cao và gia tăng với gấp phía mu chân (dorsiflexion) thụ động của ngón cái. Khám thần kinh-mạch máu ngoại vi (distal neurovascular examination) có thể cho những kết quả bình thường. Chẩn đoán được thực hiện bằng cách đo áp lực khoang (intracompartmental pressure).
3. NHỮNG THƯƠNG TỔN PHẦN SAU BÀN CHÂN (HINDFOOT INJURIES)
Những gãy bong nhỏ (samll avulsion fracture) cua xương sên (talus)
thường được điều trị với posterior splinting và orthopedic follow up.

Những gãy quan trọng của cổ và thân xương sên và trật khớp sên-gót (subtalar dislocation) đòi hỏi hội chẩn chỉnh hình tức thời.

Vỡ xương gót thường xảy ra khi một bệnh nhân té từ một độ cao và có thể kèm theo những gãy khác của chi dưới và cột sống.

Compression fracture của xương gót có thể đưa đến những dấu hiệu X quang khó thấy, đòi hỏi đo góc Bohler (được tạo thành bởi intersection của một đường dọc theo vỏ trên của thân xương gót với một đường từ dome đến củ trước trên phim chụp tư thế nghiêng) để cải thiện sự chính xác chẩn đoán. Một góc nhỏ hơn 20 độ gia tăng khả năng gãy xương. Điều trị gồm có posterior splinting, gác chân cao, thuốc giảm đau, và khám chuyên khoa chỉnh hình.
4. NHỮNG THƯƠNG TỔN PHẦN GIỮA BÀN CHÂN (MIDFOOT INJURIES)
Gãy xương cổ chân (tarsal bone fracture) ít gặp và được điều trì bảo tồn. Những gãy riêng rẽ xương hộp (cuboid) và xương nêm (cuneiform) gợi ý thương tổn khớp Lisfranc (phức hợp dây chằng tarsometatarsal).

Hầu hết những thương tổn khớp Lisfranc được liên kết với gãy xương, đặc biệt là nền của đốt bàn thứ hai. Điểm nhạy cảm đau (point tenderness) khi sờ phần giữa bàn chân và laxity giữa những đốt bàn thứ nhất và thứ hai theo hướng mu lòng bàn chân (dorsal-to-plantar direction) gợi ý chẩn đoán.

Trên phim chụp không sửa soạn trước-sau của bàn chân, một kẽ hở (gap) lớn hơn 1 mm giữa các nền của các xương đốt bàn thứ nhất và thứ hai có giá trị chẩn đoán, nhưng chụp cắt lớp vi tính là phương thức chụp hình ảnh lựa chọn.
Tất cả những thương tổn khớp Lisfranc đòi hỏi hội chẩn chỉnh hình để có thể open reduction và internal fixation.
5. NHỮNG THƯƠNG TỔN PHẦN TRƯỚC BÀN CHÂN (FOREFOOT INJURIES)
Hầu hết các gãy thân xương đốt bàn không xê dịch (nondisplaced metatarsal shaft fractures) chỉ cần điều trị bảo tồn, ngoại trừ giữ không tì chân những gãy đốt bàn thứ nhất (first metatarsal).
Những gãy không di lệch của các đốt bàn giữa (middle metatarsal) được điều trị với nắn kín và bó bột, trong khi gãy di lệch của đốt bàn thứ nhất thường đòi hỏi open reduction và internal fixation.

Những gãy đốt bàn thứ năm (Fifth metatarsal fracture), kể cả pseudo-Jones avulsion fracture ở tuberosity của nền xương đốt bàn, cũng được điều trị bảo tồn.

True Jones fracture (gãy ngang ở nền của đốt bàn chân thứ năm) thường bị biến chứng không liền xương (non-union) và được điều trị bằng bó bột không tì chân (non-weight-bearing cast) và orthopedic follow-up
Những gãy đốt ngón chân (phalangeal fractures), nếu không di lệch, được điều trị dễ dàng với buddy taping (immobilisation en syndactylie) và một stiff-sole cast shoe.

Những gãy di lệch và trật khớp được điều trị với digital block, nắn bằng manual traction, và buddy taping.

Reference : Emergency Medicine Manual

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(31/3/2017)

Bài này đã được đăng trong Cấp cứu chỉnh hình, Chuyên đề Y Khoa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s