Thời sự y học số 424 – BS Nguyễn Văn Thịnh

CHUYÊN ĐỀ VỀ TIM MẠCH
PHẦN III

1/ 8 NGUY HIỂM ĐE DỌA TRÁI TIM CỦA BẠN
Vài lối sống của chúng ta có hại đối với hệ tim mạch của chúng ta : thuốc lá, chế độ ăn uống xấu, thiếu thể dục…Mặc dầu các loại thuốc có thể giúp đỡ, nhưng hiệu quả nhất là thay đổi hành vi của chúng ta.
A. THUỐC LÁ
Hút thuốc làm lão hóa những động mạch và làm giảm hàm lượng oxygène của máu.
Hút thuốc giết người, nhất là do tai biến tim. Từ nhiều năm nay, những gói thuốc lá ghi chú mối nguy hiểm mà chúng biểu thị đối với cơ thể. Thật vậy, ngoài sự liên quan của chứng nghiện thuốc lá trong nhiều loại ung thư, thuốc lá là yếu tố nguy cơ đầu tiên của những bệnh tim mạch. Một cách cụ thể, những thành phần của khói thuốc lá (những phân tử được gọi là những gốc tự do, những tác nhân oxy hóa và những chất làm hẹp những động mạch) tạo điều kiện cho chứng xơ vữa động mạch (athérosclérose), có thể dẫn đến sự tạo thành của những cục máu đông. Thuốc lá cũng gia tốc quá trình xơ cứng động mạch (artériosclérose), một hiện tượng tự nhiên, trong đó những động mạch lão hóa bị cứng lại. Sau cùng, nghiện thuốc lá làm giảm hàm lượng oxygène của máu.
– Ta càng hút thuốc, ta càng làm hỏng tim mình. Theo những nhà nghiên cứu của đại học y khoa Strasbourg (Québec), có một liên hệ đường thẳng giữa cường độ tiêu thụ thuốc lá và tỷ lệ nhồi máu cơ tim”. Như thế, 40 điếu thuốc mỗi ngày gia tăng 8 lần tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu. Và những người hút thuốc có nguy cơ chết đột ngột do tim 3 lần cao hơn những người không hút thuốc.
– Còn về sự khác nhau giữa các giới tính, nói chung được biểu hiện bởi một sự xuất hiện những bệnh tim ở các phụ nữ trong một lứa tuổi già hơn ? BS Georges Honos, trưởng của service de cardiologie của trung tâm bệnh viện của đại học Montréal (Québec) đánh giá rằng ” thuốc lá là một yếu tố nguy cơ đôi khi có thể xóa đi “lợi thế ” này của phụ nữ. Một phụ nữ hút thuốc có thể có một crise cardiaque (nhồi máu cơ tim) cũng như là một người đàn ông.” Một vấn đề nghiêm trọng vào giờ phút mà sự tiêu thụ thuốc lá gia tăng ở những phụ nữ. Tuy nhiên, ngừng thuốc lá được thể hiện tức thời bởi một tình trạng tim tốt hơn và những hiệu quả là lâu dài.
B. CHOLESTEROL
Cholestérol xấu là nguồn gốc của những mảng xơ vữa động mạch.Không chút nghi ngờ, cholestérol là yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch, BS Jean-Claude Tardif, giám đốc của centre de recherche thuộc Institut de cardiologie de Montréal(Québec) đă chỉ như vậy.Thật là tốt cần phải định rõ điều đó kể từ cuộc tranh luận mới đây đã làm lay động thế giới y khoa. Là phân tử cần thiết cho đời sống, chính sự thặng dư của cholestérol là có hại, hoặc trung bình trên 2g/L máu, đối với điều mà ta gọi là “cholestérol xấu”, hay LDL-cholestérol. Một nồng độ tăng cao của cholestérol xấu tạo điều kiện cho sự tích tụ của các mảng trên các thành động mạch. ” Nếu chúng trở nên không vững, những mảng này có thể gây sự tạo thành những cục máu đông làm tắc luồng máu và gây một hoại tử “, BS Tardif nói tiếp. Còn “cholestérol tốt”, được gọi là HDL-cholestérol, nó được vận chuyển về gan để được giải độc ở đó.– Để chống lại một nồng độ tăng cao của cholestérol xấu và bảo vệ tim mình, khuyến nghị ngừng hút thuốc, thực hành một hoạt động thể thao, gầy đi nếu cần và theo một chế độ ăn uống cân bằng kiểu chế độ ăn uống Địa Trung Hải. Nhưng đôi khi cần dùng thuốc, và nhất là statines, nhằm làm giảm nồng độ LDL-cholestérol. Nếu có những tai biến tim, các thầy thuốc không do dự kê đơn chúng. Nhưng có phải dùng những thuốc này để phòng ngừa nguyên phát, nghĩa là nếu những này có một nồng độ LDL-cholestérol tăng cao nhưng đã không bao giờ có vấn đề ?– Câu hỏi nằm ở tâm điểm của cuộc luận chiến giữa GS Philippe Even, tác giả của ” Sự thật về cholestérol ” và những thành viên của Hội hàn lâm y học và khoa học quốc gia. Những thành viên này, những người tán thành sự dùng statines, đã thiết tha nhắc lại rằng ” sự phát hiện, trong tất cả các quần thể, về sự liên kết của những bệnh động mạch vành với nồng độ trong máu của các lipoprotéine vận chuyển cholestérol, là một trong những khám phá lớn nhất được nhất trí công nhận của dịch tễ học hiện đại thế giới “. Năm 2012, Tổ chức y tế thế giới ước tính là 2,6 triệu, số những trường hợp tử vong được gây nên bởi tăng cholestérol-huyết, yếu tố phát khởi những bệnh tim và tai biến mạch máu não trong những nước phát triển cũng như trong những nước đang phát triển.
C. CHỨNG BÉO PHÌ
Tình trạng tăng thể trọng (surpoids) đặc điểm nguy hiểm đối với những người trẻ nhất.
Mối liên hệ giữa chứng béo phì (obésité) và những hậu quả tai hại đối với sức khỏe từ nay được xác lập rõ. Trên bình diện thế giới, ít nhất 2,8 triệu trường hợp tử vong mỗi năm có thể quy cho sự thặng dư trọng lượng hay cho chứng béo phì.” Trong cập nhật mới đây về những bệnh không phải nhiễm trùng, Tổ chức y tế thế giới nhắc lại quy mô của vấn đề, đến độ vài thầy thuốc không do dự nói về trận dịch béo phì thế giới. Trước đây được xem như là một vấn đề của những nước giàu có, từ nay dịch bệnh tiến triển trong những nước có lợi tức thấp và trung bình. Tình trạng tăng thể trọng (surpoids) hôm nay liên quan 1,4 tỷ người 20 tuổi hoặc hơn. Năm 2010, ta ước tính rằng thế giới đếm được hơn 42 triệu trẻ em bị tăng thể trọng, trong đó 1/2 dưới 5 tuổi.
– Chỉ số khối lượng cơ thể (IMC : indice de masse corporelle) nói chung được sử dụng để đánh giá tình trạng tăng thể trọng (surpoids) hay chứng béo phì (obésité). Nó được tính bằng cách chia thể trọng (kg) với kích thước (taille) (m, bình phương). Một thặng dư trọng lượng (excès pondéral) được đặc trưng bởi một IMC bằng hoặc trên 25, chứng béo phì bởi một IMC bằng hoặc trên 30. Vài công trình nghiên cứu cũng sử dụng những số đo của chứng béo phì bụng (tour de taille)
– Một bệnh nhân bị tăng thể trọng hay bị chứng béo phì có “nhiều bất thường chuyển hóa làm cho bệnh nhân này có nguy cơ hơn nhiều bị một vấn đề tim”, BS Jean-Claude Tardif, thuộc trung tâm nghiên cứu và Viện tim học Montréal (Québec) đã giải thích như vậy. Nguy cơ bị những bệnh tim mạch gia tăng (các bệnh tim và những tai biến mạch máu). Ngoài ra, tăng thể trọng và béo phì góp phần vào sự xuất hiện của bệnh đái đường loại 2, những vấn đề cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết hay những rối loạn cơ-khớp (viêm khớp). Một chế độ ăn uống mất cân bằng, tình trạng nhàn rổi không hoạt động (sédentarité) và sự thiếu hoạt động vật lý nằm trong số những nguyên nhân chính của tăng thể trọng và béo phì.
– Toàn bộ những yếu tố này cũng giải thích sự xuất hiện của những khuynh hướng mới trong những nhóm tuổi càng ngày càng trẻ. Trong một công trình nghiên cứu, được công bố năm 2012 trong tạp chí Archives of Disease in Childhood, các nhà nghiên cứu Hòa Lan đã chứng thực rằng những người béo phì trẻ đã có những dấu hiệu đáng lo ngại của những rối loạn tim mạch tương lai. Như thế, trong nhóm được khảo sát 500 trẻ em và thiếu niên, 2/3 có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch : cao huyết áp, nồng độ cholestérol tăng cao hay bệnh đái đường loại 2. Sự thặng dư thể trọng và chứng béo phì có thể và phải chống lại, vì tim và, một cách tổng quát hơn, vì một sức khoẻ tốt hơn. Một chế độ ăn uống lành mạnh và cân bằng và một sự thực hành thể thao đều đặn có thể giúp tìm lại một trọng lượng bình thường.
D. RƯỢU.
Sự tiêu thụ quá mức những đồ uống rượu là độc đối với tim và những động mạch.
Rượu gia tăng sự xuất hiện những bệnh tim mạch, nhưng cũng tỷ lệ tử vong. Đối với GS Mickael Naassila, giám đốc nghiên cứu ở Inserm (Amiens), đó là yếu tố nguy cơ quan trọng.
” Đối với những người đàn ông, một sự tiêu thụ mỗi ngày 4 đến 6 ly nhân 2 nguy cơ cao huyết áp. Còn về nguy cơ tai biến mạch máu não xuất huyết (AVC hémorragique), nó được nhân lên 2,4 khi uống trên 6 ly đối với đàn ông và nhân 8 trên 4 ly đối với phụ nữ “, trưởng nhóm nghiên cứu về rượu và pharmacodépendance đã nói như vậy. Ngoài ra, một sự tiêu thụ những lượng lớn rượu trong một cơ hội duy nhất (binge drinking của các thanh niên) gây nên những rối loạn của nhịp tim và gia tăng tỷ lệ tử vong do ngừng tim. Một công trình nghiên cứu, được thực hiện bởi Inserm ở Toulouse, từ năm 2000 đến 2010, đã kết luận rằng nguy cơ nhồi máu cơ tim tăng gấp đôi ở những người uống rượu vào cuối tuần so với những người uống đều đặn. Sau cùng, sự tiêu thụ quá mức rượu có thể phá hủy cơ tim, gây suy tim.
– Những tác dụng có lợi của một sự tiêu thụ vừa phải lên hệ tim mạch được ca ngợi đó đây. Nhưng chúng là đối tượng của những cuộc tranh luận. ” Không có bằng cớ khoa học chính thức “, Claude Lefeuvre, chủ tịch của Fédération française de cardiologie đã đảm bảo như vậy. ” Tác dụng bảo vệ khi uống dưới 3 ly mỗi ngày lên bệnh tim mạch dường như được xác minh, nhưng còn ty lệ tử vong toàn bộ đối với tất cả những bệnh tim mạch thì như thế nào ? Phải chăng rượu vang có một tác dụng có lợi hay vệ sinh đời sống của những người tiêu thụ rượu hay lại nữa những thói quen ăn uống của họ có một tác dụng có lợi ? ” Mickael Naassila đã hỏi như vậy. Dầu thế nào đi nữa, hãy dè chừng, bởi vì ngay cả với liều thấp, rượu gia tăng nguy cơ ung thư. Và trên 2 hoặc 3 ly mỗi ngày, đó là chắc chắn, sự tiêu thụ rượu là độc hại.
E. STRESS
Sự căng thẳng nghề nghiệp (stress professionnel) có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim
Những công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng sự tiết kích thích tố được gây nên khi phản ứng với một stress có thể tạo điều kiện cho sự tích tụ đường và mỡ trong máu, như thế góp phần vào sự hư hỏng của các động mạch. Năm 2012, những nhà nghiên cứu châu Âu ngay cả đã xác nhận mối liên hệ giữa sự căng thẳng nghề nghiệp và những bệnh động mạch vành. ” Chúng tôi đã xác lập rằng những người bị căng thẳng lúc làm việc có một nguy cơ bị nhồi máu gia tăng 23%. Và rằng 3,4% những trường hợp nhồi máu có thể quy cho stress “, Marcel Glodberg, nhà nghiên cứu ở Inserm đã giải thích như vậy.
Mối liên hệ giữa stress và cao huyết áp không được xác nhận ” Stress có thể làm tăng cao huyết áp trong vài phút , nhưng không tạo một cao huyết áp thường trực”, BS Nicolas Postel-Vinay của bệnh viện Georges-Pompidou (Paris) đã chỉ rõ như vậy.
F. BỆNH ĐÁI ĐƯỜNG
Bệnh đái đường loại 2 được xem là một bệnh tim mạch nói riêng.
Bệnh đái đường được đặc trưng bởi một nồng độ đường trong máu lúc nhịn đói trên 1,26 g/L. Chỉ có bệnh đái đường loại 2 (90% những bệnh nhân đái đường) được xem như yếu tố nguy cơ tim mạch. Bệnh đái đường loại 2 liên kết với tuổi tác, nhưng cũng và chủ yếu liên kết với tình trạng tăng thể trọng, và ảnh hưởng 4,6% dân Pháp, hoặc khoảng 3 triệu người. Đó là một yếu tố nguy cơ quan trọng, thậm chí là một bệnh tim riêng biệt : 50% những bệnh nhân đái đường chết vì những biến chứng tim mạch. ” Những người đàn ông bị bệnh đái đường có nguy cơ bị một bệnh lý tim hai lần nhiều hơn ; những phụ nữ, ba lần nhiều hơn “, GS Etienne Larger, thuộc service de diabétologie của bệnh viện Hôtel-Dieu (Paris) đã nói rõ như vậy. ” Được phối hợp với những yếu tố nguy cơ khác, bệnh đái đường lại còn nguy hiểm hơn “, GS Gérard Slama, chuyên gia về nội tiết học và chuyển hóa, đã nói thêm như vậy. Mặc dầu có những điều trị thuốc, nhưng “sự phòng ngừa tốt nhất vẫn là một chế độ ăn uống tốt và sự thực hành thể dục : các cơ dùng đường như chất đốt”, vị chuyên gia nội tiết đã nói như vậy.
Trên bình diện sinh lý, có nhiều nguy cơ do bệnh đái đường. Bệnh biến đổi những chức năng dành cho các thành của các huyết quản và gia tốc sự lão hóa của chúng. Vậy khi ta bị bệnh đái đường, ta chịu những nguy cơ tai biến mạch máu não, suy tim hay thận và viêm những động mạch của chi dưới, vì đôi khi cần phải cắt cụt nếu chi bị hoại thư. “10% những người bị bệnh đái đường sẽ chịu cắt cụt chi trong cuộc sống của họ “, GS Etienne Larger cảnh báo như vậy. Khó khăn chính của điều trị : vì không có những triệu chứng, phần lớn các bệnh nhân không biết rằng mình bị bệnh đái đường.
G. TÌNH TRẠNG NHÀN RỔI KHÔNG HOẠT ĐỘNG
Những người giu giú ở nhà không làm hoạt động đủ bơm tim.
Được gọi là nhàn rổi không hoạt động (sédentaire), đó là ưu tiên những công việc mà ta không phải tiêu hao năng lượng, như đọc hay trải thời gian trước một écran “, GS Jean-Michel Oppert, ở bệnh viện là Pitié-Salpêtrière (Paris) đã giải thích như vậy. Kết hợp với những yếu tố nguy cơ khác như bệnh đái đường hay cao huyết áp, tình trạng nhàn rổi không hoạt động gia tăng nguy cơ xuất hiện những bệnh lý tim mạch và tử vong. Nó cũng làm mệt tim.
Vì không thực hiện gắng sức vật lý đều đặn, cơ tim yếu đi và phục hồi ít nhanh hơn sau gắng sức. Tim càng musclé thì nó càng sống lâu. Sau cùng, thể dục đều đặn làm giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch. Và cho phép chống lại tình trạng tăng thể trọng, cao huyết áp, bệnh đái đường và sự thặng dư cholestérol, chính chúng là những yếu tố nguy cơ. Lý tưởng để gìn giữ tim, bước 1 giờ mỗi ngày.
H. SỰ Ô NHIỄM
Từ khoảng 15 năm nay, những công trình nghiên cứu rất là rõ ràng : sự ô nhiễm không khí đã trở nên một yếu tố nguy cơ tim mạch nói riêng. Tổ chức y tế thế giới ước tính rằng từ 1 đến 2% tỷ lệ tử vong tim có thể được quy cho sự gia tăng những hạt mảnh gây ô nhiễm (particules fines polluantes), chủ yếu được sản sinh với những động cơ Diesel. Ở Phương Tây, sự ô nhiễm đô thị, chủ yếu được gây nên bởi luồng giao thông đường xá, vì lẽ có nhiều nhà máy hơn trong các thành phố, phần lớn phát xuất từ sự đốt dầu hay khí, hỗn hợp những hạt và những chất gây ô nhiễm khí (polluant gazeux).
– Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy những mối liên hệ giữa sự tăng cao của những mức chỉ dấu về sự ô nhiễm không khí và sự tăng cao, mặc dầu thấp nhưng đáng kể, của nguy cơ tử vong do tai biến tim mạch. Ngoài ra, những cuộc điều tra, được phối hợp ở Pháp bởi Viện theo dõi y tế quốc gia (INVS), đã chứng thực một sự gia tăng những trường hợp nhập viện vì nguyên nhân tim (đau thắt ngực và nhồi máu) trong hai ngày sau sự tăng cao những mức ô nhiễm. ” Những công trình khác đã kết luận một liên hệ chặt chẽ giữa sự tiếp xúc với ô nhiễm không khí được phát ra bởi luồng giao thông đường xá và sự xuất hiện của nhồi máu cơ tim “, BS Pierre Souvet, cardiologue ở Marseille, đã nói rõ như vậy. Thí dụ công trình nghiên cứu rộng lớn châu Âu Aphecom (2011) ghi nhận rằng sống gần những trục lộ lớn là một yếu tố khởi phát những bệnh động mạch vành ở những người trên 65 tuổi. Một công trình nghiên cứu của Anh chứng minh rằng sự tăng cao nồng độ của những hạt trong không khí làm gia trọng tỷ lệ tử vong sau một nhồi máu cơ tim. ” Những hạt nhỏ đi vào tận những huyết quản, gây nên một quá trình viêm rồi một sự biến đổi của hệ mạch máu”, Pierre Souvet đã định rõ như vậy. ” Sự ô nhiễm góp phần tạo thành mảng xơ vữa (palque d’athérome), Sylvia Medina, người điều phối của dự án Aphecom thuộc INVS đã thêm vào như vậy.
– Điều đó chưa kể đến những nguy cơ đặc thù được gây nên bởi sự tiếp xúc với vài phân tử hóa học, có thể được thêm vào những tệ hại khác. Một báo cáo được công bố đầu năm 2013 nhấn mạnh những thương tổn tim mạch ở những người tiếp xúc với những dung môi hay những chất khác làm ô nhiễm không khí nội thất, cùng lúc họ chịu một mức tăng cao tiếng động đô thị.
LES DOSSIERS SANTE : LE COEUR. 5/2013

2/ CHỨNG BÉO PHÌ NẶNG : MỘT NGOẠI KHOA ÍT XÂM NHẬP HƠN
S Guillaume Pourcher, BS ngoại khoa, trưởng centre de prise en charge de l’obésité thuộc Institut mutualiste de Montsouris, giải thích kỹ thuật sleeve gastrectomy được thực hiện với chỉ một lỗ nhỏ được trổ trong thành bụng.
Hỏi : Bắt đầu từ chỉ dấu khối lượng cơ thể (indice de masse corporelle) nào ta nói là chứng béo phì (obésité) ?
BS Guillaume Pourcher : Chứng béo phì được OMS định nghĩa như là một căn bệnh và mô tả 3 giai đoạn tùy theo IMC (indice de masse corporelle). Ngay 30kg/m2, đó là béo phì đơn giản (giai đoạn 1). Nếu chỉ dấu này trên 35 và dưới 40kg/m2, đó là béo phì nặng (giai đoạn 2). Trên 40 kg/m2, đó là béo phì bệnh (obésité morbide). Bệnh này ảnh hưởng 16% dân chúng Pháp.Hỏi : Những hậu quả khả dĩ là gì ?
BS Guillaume Pourcher : Có nhiều hậu quả : đái đường, cao huyết áp, tăng cholestérol-huyết, những vấn đề về khớp, gan, hô hấp, nguy cơ gan được nhân lên 10…Không điều trị, hy vọng sống bị rút ngắn.
Hỏi : Tóm lại, những nguyên nhân chính là gì ?
BS Guillaume Pourcher : Có 4 nguyên nhân chính : 1. yếu tố di truyền ; 2. rối loạn kích thích tố ; 3. một nguyên nhân tâm lý ; 4. một bất thường của khuẩn chí ruột (flore intestinale) (microbiote), chủ yếu tạo nên một quá trình viêm mãn tính. Cũng có những yếu tố làm nặng thêm như một chế độ ăn uống tồi, thiếu hoạt động vật lý..
Hỏi : Ông vừa mở một centre de l’obésité ở Institut mutualiste Montsouris Ông điều trị những bệnh nhân như thế nào ?
BS Guillaume Pourcher : Sự điều trị là nhiều chuyên khoa với diététicien, chuyên gia tâm lý học, thầy thuốc chuyên về dinh dưỡng (nutritionniste), thầy thuốc chuyên khoa tâm thần, thầy thuốc ngoại khoa…Bắt đầu ta điều trị họ “bằng nội khoa” trong ít nhất 6 tháng và ta đánh giá những chống chỉ định đối với ngoại khoa (gây mê, tâm thần…). Trong trường hợp thất bại, ta xét đến phẫu thuật với những tiêu chuẩn nghiêm túc : IMC trên 35 kg/m2 (với những bệnh liên kết) hay trên 40 kg/m2 trong lứa tuổi từ 18 đến 65.
Hỏi : Hãy kể cho chúng tôi những kỹ thuật ngoại khoa khác nhau để điều trị những trường hợp béo phì nặng này ?
BS Guillaume Pourcher : 1. Vòng dạ dày (càng ngày càng ít được sử dụng), nhằm đặt một vòng bằng plastique chung quanh dạ dày. Nó được nối với một boitier, với nó ta có thể điều chỉnh đường kính của vòng dạ dày. Vòng này nhằm làm giảm lượng thức ăn được hấp thụ vào mỗi bữa ăn. 2. Bypass thực hiện một đường vòng (cour-circuit), nối trực tiếp phần cao của dạ dày với ruột non để giảm sự hấp thụ của các thức ăn. 3. Sleeve gastrectomie, nhằm làm hẹp dạ dày khoảng 70% để làm giảm lượng thức ăn được ăn vào và lấy đi phần dạ dày bị cắt. Những can thiệp này luôn luôn có những nguy cơ và phải được thực hiện bởi những phẫu thuật viên có kinh nghiệm.Hỏi : Trong thực hành những kỹ thuật này, tiến bộ mới nhất là những tiến bộ nào ?
BS Guillaume Pourcher : Sleeve gastrectomie, nếu trước đây cần phải trổ khoảng 5 lỗ qua thành bụng với 5 trocart (loại thân hình trụ), thì hôm nay có thể thực hiện với chỉ một lỗ nhỏ và chỉ với một trocart. Suốt trong can thiệp nội soi này, thầy thuốc ngoại khoa đưa vào những dụng cụ mới : một caméra uốn được và những pince cong, cho phép phẫu thuật viên thu giảm kích thước của dạ dày.
Hỏi : Những ưu điểm của thủ thuật mới nhất này ?
BS Guillaume Pourcher : Ở những bệnh nhân béo phì nặng, rất fragile, những nguy cơ nhiễm trùng, xuất huyết, hô hấp và chậm lành sẹo là quan trọng. Sự kiện làm giảm bớt sự hung bạo lên thành bụng dường như làm yếu đi cường độ đau và hạn chế tỷ lệ những biến chứng. Những người được mổ mất khoảng 70% trọng lượng thặng dư (như với kỹ thuật cổ điển và by-pass). Những lợi ich này có thể cho phép một sự tái tục đời sống hoạt động nhanh hơn.
Hỏi : Phải chăng đã có những công trình nghiên cứu được thực hiện với kỹ thuật ít hung bạo này ?
BS Guillaume Pourcher : Những đánh giá đầu tiên đã được thực hiện về thủ thuật này để chính thức hóa tính khả thi, với những kết quả rất thỏa mãn. Công trình nghiên cứu đầu tiên, với bốc thăm những bệnh nhân, cho phép đánh giá một cách rất chính xác phương pháp mới này so với kỹ thuật quy ước. Công trình này (Miniob) bắt đầu tháng nay và sẽ được tiến hành trong 4 năm trên 388 bệnh nhân được mổ trong 6 trung tâm lớn của Pháp : Institut mutualiste Montsouris, CHU de Montpellier, de Lille et d’Amiens, những bệnh viện của Créteil và Poissy.
(PARIS MATCH 19/1-25/1/2017)

3/ NHỮNG RỐI LOẠN NHỊP
BỆNH. Sự co bóp của cơ tim (myocarde) được khởi phát bởi một xung động điện (impulsion électrique), phát sinh trong nhĩ phải (một trong những xoang trên của tim). Xung động điện này lan truyền trong tâm nhĩ trái rồi cả hai tâm thất.Nhịp của nó có thể rất chậm (bradycardie) hay quá nhanh (tachycardie). Như thế, rung thất (FV) gây nhưng co bóp nhanh và không phối hợp do sự kích thích hỗn loạn của các tâm thất. Cũng như tim nhịp nhanh thất (tachycardie ventriculaire), nó có thể gây khó ở (malaise) hay ngừng tim, thậm chí chết đột ngột. Rung nhĩ (FA), phát xuất trong các tâm nhĩ, gây một co bóp nhanh và không đều của các tâm thất. Rung nhĩ tạo điều kiện cho sự tạo thành các cục máu đông trong tim, chúng có thể di chuyển và gây một tai biến mạch máu
não.ĐIỀU TRỊ. Điều trị dựa trên những thuốc chống loạn nhịp nhằm kiểm soát tần số tim. Trong trường hợp thất bại, ta có thể đề nghị triệt phá một vùng mô dẫn truyền, nằm giữa các tâm nhĩ và tâm thất (nút nhĩ-thất), và đặt một máy tạo nhịp (stimulateur cardiaque hay pacemaker) thường trực. Thiết bị này gồm có một hộp (boitier) chứa một bộ phận phát những xung động điện và một hay nhiều ống thông nối chúng đến tận xoang tim cần kích thích. Chức năng của pacemaker là tái lập một nhịp bình thường trong trường hợp tim nhịp chậm hay thiếu sót dẫn truyền giữa các tâm nhĩ và tâm thất. Nó chỉ được phát khởi trong trường hợp cần, điều này gìn giữ hoạt động tim tự nhiên.
Trong trường hợp loạn nhịp thất nặng (TV, FV), ta có thể tiến hành triệt phát vùng chịu trách nhiệm fibrillation. Ngoài ra, nếu những thuốc chống loạn nhịp đôi khi hữu ích, một défibrillateur automatique implantable (DAI) có thể tỏ ra cần thiết. Đuợc cấy (implanté) trong ngực, máy theo dõi nhịp một cách thường trực và phản ứng với loạn nhịp bằng cách phát ra một sốc điện, như thế ngăn ngừa chết đột ngột.
Sau cùng, sự tái đồng bộ tim (synchronisation cardiaque) mới đây bắt buộc như là một trong những cột trụ của điều trị suy tim nặng, một bệnh trong đó cơ tim không còn bơm máu đủ để đáp ứng những nhu cầu của cơ thể. Kỹ thuật nhằm tái lập sự điều hợp trong sự co bóp cơ tim, nhờ những ống thông kích thích (sonde de stimulation) được đưa vào các xoang tim phải và thất trái và được nối với một máy tạo nhịp hay một máy khử rung (défibrillateur).
(LES DOSSIERS SANTE : LE COEUR. 5/2013)

4/ KHI TIM LỒNG LÊN
Ở một người trên ba, rung nhĩ (fibrillation auriculaire), rối loạn nhịp phổ biến nhất và tuy nhiên vẫn còn không được nhận biết, thường không gây triệu chứng. Do đó lợi ích của một chiến dịch điều tra phát hiện miễn phí.
Bỉ đã tổ chức những chiến dịch nhạy cảm hóa và phòng ngừa về y tế. Các bệnh tim cũng không thoát khỏi điều này. Vào cuối tháng tư năm 2003, theo sáng kiến của BeHRA (Belgian Health Rythme Association), Tuần lễ nhịp tim (Semaine du rythme cardiaque) đã được tổ chức. Chiến dịch này là cơ hội, đối với các công nhân, để hưởng miễn phí một điều tra phát hiện bệnh rung nhĩ trong những bệnh viện tham dự. Một chiến dịch đã mang lại một thành công rực rỡ vì lẽ, vào năm 2012 có khoảng 22.000 người Bỉ đã lợi dụng cơ hội được đề nghị trong 89 cơ sở bệnh viện này. Đơn giản, nhanh chóng và không gây đau, điện tâm đồ, được ghi nhờ một máy theo dõi tần số tim (moniteur de fréquence cardiaque) nhằm đo hoạt động điện của tim trong một thời gian khoảng 30 giây. Mặc dầu điện tâm đồ là thăm dò hiệu quả nhất, tuy nhiên đó chỉ là một sự ghi tức thời. Rung nhĩ đôi khi được biểu hiện một cách đoạn hồi, vì vậy điều hữu ích là tự mình đánh giá nhịp tim của mình bằng cách bắt mạch ở cổ tay.Để làm điều đó, phải ở tư thế ngồi, yên nghỉ, trong 5 phút : đưa lòng bàn tay về phía mình, đặt 3 ngón tay (ngón trỏ, ngón giữa và annulaire) ở đáy ngón cái và xương của cổ tay ; đè nhẹ vùng cần ấn chẩn với 3 ngón tay của mình để cảm thấy những mạch đập.Thí dụ : 36 mạch đập/30 giây = 72/phút. Một nhịp là đều nếu nó đập trong 30 phút như tiếng tic-tac đồng hồ với một tần số từ 50 đến 100 mạch đập/phút. Nếu nó không đều hay trên những giới hạn 50/100 mạch đập, phải thực hiện một chẩn đoán ở thầy thuốc gia đình của mình.
LỢI ÍCH NÀO CỦA CÔNG TÁC ĐIỀU TRA PHÁT HIỆN.
Mặc dầu rung nhĩ có thể được biểu hiện bởi hồi hộp, khó thở lúc gắng sức hay lúc nghỉ ngơi, chóng mặt, mệt bất thường, những ngất xỉu hay đau ngực, đó là chỉ kể những triệu chứng chính, nhưng ở một người trên ba, rung nhĩ không gây triệu chứng, và như vậy nó có nguy cơ bị phát hiện muộn. Thế mà, sự hiện diện của rối loạn nhịp tim này, thường gặp nhất, mặc dầu không được đánh giá đúng, nhân gấp 5 nguy cơ tạo thành những cục máu đông, có thể, đến lượt, gây những huyết khối (thrombose) hay những tai biến mạch máu não.Tuy nhiên, được chẩn đoán đúng lúc, rung nhĩ có thể được điều trị. Một tai biến mạch máu não trên năm là hậu quả của một rung nhĩ không được điều trị.
Để đánh giá nguy cơ của bạn bị rung nhĩ và bị một huyết khối (thrombose) hay một tai biến mạch máu não, năm nay, nhân Semaine du rythme cardiaque thứ tư, BeHRA cải tiến bằng cách đề nghị một trắc nghem trên http://www.monrythmecardiaque.be. Tùy theo giới tính, tuổi tác, sự hiện diện của cao huyết áp, bệnh đái đường, những tiền sử về bệnh động mạch của các cẳng chân hay của động mạch chủ, nhồi máu cơ tim, suy hay mất bù tim, phù phổi hay tai biến mạch máu não, trắc nghiệm trong vài giây sẽ tính xác suất có nguy cơ bị một rung nhĩ và trong trường hợp rung nhĩ không được chẩn đoán và không được điều trị, nguy cơ hàng năm bị một huyết khối hay một tai biến mạch máu não.
” Nhờ một chiến dịch thông tin được soạn thảo cẩn thận, chúng tôi mong muốn làm cho các công dân ý thức về những nguy hiểm ” thâm hiểm” của rối loạn nhịp tim này, BS Georges H. Mairesse, chủ tịch BeHRA đã giải thích như vậy. Về mặt đó, máy tính nguy cơ mới của chúng tôi là một bước tiến lớn vì lẽ nó làm dễ quá trình kiểm soát và làm cho những người có nguy cơ nhất tham gia vào chiến dịch nhưng cũng và nhất là xin lời khuyên của thầy thuốc của mình.
(LES DOSSIERS SANTE : LE COEUR. 5/2013)

5/ LOẠN NHỊP DO RUNG NHĨ
Rối loạn của những tiếng đập của tim này, trở nên không đều, thường nhất xảy ra sau tuổi 60 và ảnh hưởng gần 1 triệu người Pháp. Rối loạn nhịp này phải được theo dõi sát bởi vì, nó có thể che dấu một bệnh tim mạch nghiêm trọng hơn.
ĐIỀU GÌ XẢY RA ? NHỮNG TRIỆU CHỨNG.
– Sự co bóp phối hợp của các tâm nhĩ biến mất : những mạch đập trở nên nhanh và không đều. Lúc bình thường, tâm nhĩ đảm bảo sự đi vào các tâm thất của máu phát xuất từ các tĩnh mạch.
– Sự mất đồng bộ (désynchronisation) của chúng gây nên một sự giảm lưu lượng máu. Tần số tim gia tăng và có khi bệnh nhân nhận thấy tim đập hỗn loạn (hơn 90 đập mỗi phút).
– Những hồi hộp này có thể được kèm theo đau ngực, đi tiểu dồi dào (hiếm) ; đôi khi mệt không bình thường và chóng mặt.
– Cơn có thể cấp tính (aigue), dai dẳng (persistante) trên 7 ngày hay thường trực (permanente).
ĐÓ LÀ GÌ ? CHẨN ĐOÁN
– Rối loạn có thể được nghi ngờ nhân một thăm khám lâm sàng đơn thuần vì lẽ mạch nhanh và không đều (hơn 100 đập mỗi phút).
– Một điện tâm đồ sẽ xác nhận sự nghi ngờ với điều kiện những rối loạn xảy ra thường trực.Nếu điện tâm đồ bình thường nhưng thầy thuốc có những nghi ngờ, ông ta sẽ đo hoạt động của tim một cách liên tục trong 24 giờ nhờ một Holter, một máy ghi mang theo người.– Một bilan tim mạch hoàn toàn (siêu âm tim, IRM,…) phải được xét đến để khoanh những nguyên nhân của rung nhĩ, có thể do những bệnh lý khác. Ngoài ra, điều quan trọng là kiểm tra rằng không một cục máu đông nào đã bắt đầu được tạo thành trong các động mạch.
PHẢI LÀM GÌ ? NHỮNG ĐIỀU TRỊ
– Một thuốc chống đông máu sẽ được cho ưu tiên để tránh sự tạo thành những cục máu đông, khả dĩ gây nên một tai biến mạch máu nặng..
– Việc tái lập sự điều bộ (synchronisation) của các tâm nhĩ chỉ cần thiết nếu những triệu chứng thật sự gây cản trở. Khi đó ta sẽ hướng về những thuốc chống loạn nhịp (antiarythmiques) ; chúng sẽ mang lại cho tim nhịp độ tốt. Chú ý : những thuốc chống loạn nhịp có nhiều tác dụng phụ và những chống chỉ định.
– Một khử rung (défibrillation) đôi khi sẽ được xét đến : thủ thuật nhằm phát ra những sốc điện 100 đến 400 joules dưới gây mê để tái điều bộ (resynchroniser) những tế bào của tim.– Một động tác ngoại khoa có thể được thực hiện để tiến hành triệt phá phần tâm nhĩ nguồn gốc của loạn nhịp.
(LES DOSSIERS SANTE : LE COEUR. 5/2013)

6/ RUNG NHĨ QUA VÀI CON SỐ
– Ta ước tính rằng cứ 4 người trưởng thành trên 40 tuổi thì có một sẽ bị, vào một ngày nào đó, rung nhĩ ; cứ ba người thì có một sẽ không cảm thấy một triệu chứng nào.
– Hiện nay cứ 15 người trưởng thành trên 65 tuổi và cứ 10 người trên 80 tuổi thì có một bị rối loạn nhịp này.
– Ở Bỉ, số những bệnh nhân bị rung nhĩ được ước tính 150.000 và có thể sẽ tăng gấp đôi từ nay đến 2050.
– Trong 20 năm qua, số những trường hợp nhập viện được quy cho rung nhĩ đã gia tăng 60% trên thế giới.
(LES DOSSIERS SANTE : LE COEUR. 5/2013)

7/ NHỮNG RỐI LOẠN DẪN TRUYỀN TIM
Để sinh một đập, tim cần một xung động điện (impulsion électrique). Đó là vai trò của nút xoang (noeud sinusal), một nhóm những tế bào nằm trong tâm nhĩ phải. Những tế bào này phát sinh những tín hiệu để tim co bóp. Nếu một bất thường được phát hiện trong “mạng điện” (réseau électrique) của tim, ta nói đó là rối loạn dẫn truyền (trouble de conduction).
ĐIỀU GÌ XẢY RA ? NHỮNG TRIỆU CHỨNG.
– Điện của tim được dẫn bởi một “centrale électrique”, nút xoang. Bộ điều nhịp tim truyền những thông tin đến nút nhĩ-thất (noeud auriculo-ventriculaire). Đến lượt, nút này mang điện đến trong mỗi tế bào tim nhờ một nhóm sợi cơ biệt hóa, bó His.– Khi một bất thường về tốc độ điện tim xảy ra, bất thường này gây nên một sự làm chậm của tần số của các đập tim. Dưới 50 đập mỗi phút, ta nói là tim nhịp chậm (bradycardie sinusale).
– Những rối loạn dẫn truyền có thể được biểu hiện bằng nhiều cách, ấn tượng nhất là một sự mất tri giác. Tim đập quá chậm và gây một sự giảm lưu lượng máu não ; người bị rối loạn này bị một cơn ngất (syncope).
– Trong những tình huống nghiêm trọng nhất, ngất (syncope) có thể dẫn đến một ngừng tim. Những triệu chứng khác ít nghiêm trọng hơn : choáng váng nhưng không mất tri giác (lipothymies) hay khó thở lúc gắng sức (dyspnée). Những rối loạn dẫn truyền cũng có thể không được cảm thấy chút nào nếu chúng xảy ra ban đêm hay chúng diễn ra trong một thời gian ngắn.
ĐÓ LÀ GÌ ? CHẨN ĐOÁN
– Khi bệnh nhân có một trong những triệu chứng của những rối loạn dẫn truyền, một điện tâm đồ được thực hiện để xác nhận chẩn đoán. Ta đo trên một dải giấy tần số tim của bệnh nhân. Tuy nhiên thăm dò này được thực hiện trong một thời gian ngắn. Những thăm dò tỉ mỉ hơn sẽ được tiến hành nếu cần nhờ một Holter cardiaque, trong một thời gian dài hơn (24 giờ).
– Cũng có thể khảo sát từ bên trong tốc độ dẫn truyền của tim. Sự thăm dò điện-sinh lý (exploration électrophysiologique) này được thực hiện nhờ một cathéter mảnh như ruột bút chì. Được đưa vào ở những nếp bẹn (tĩnh mạch đùi), cathéter sau đó được đưa lên đến tận tim. Thăm dò có thể đảm bảo một chẩn đoán tốt hơn và nhất là cho phép định vị nguồn gốc chính xác của rối loạn. Ta phân biệt những dạng khác nhau của những rối loạn dẫn truyền tim tùy theo vị trí cua tim mà chúng định vị : ở nút xoang, nút nhĩ-thất hay bó His.
– Nếu bệnh nhân không có một triệu chứng nào, những rối loạn dẫn truyền có thể được khám phá một cách tình cờ trong những thăm dò được thực hiện vì những lý do khác. Vài yếu tố khởi phát (thí dụ sự sử dụng một loại thuốc) có thể được phát hiện trong khung cảnh những thăm dò sâu hơn.
PHẢI LÀM GÌ ? NHỮNG ĐIỀU TRỊ
– Trong trường hợp những rối loạn dẫn truyền gây một ngừng tim, những biện pháp hồi sức (xoa bóp tim) là tuyệt đối cần thiết. Rồi relais có thể được đảm bảo bởi một điều trị thuốc, ” chỉ bằng đường tĩnh mạch, vậy trong môi trường bệnh viện và với sự kiểm soát của một monitoring”, BS Blandine Mondésert, tốt nghiệp điện sinh lý của Institut de cardiologie de Montréal. Khi đó là điều trị thuốc, atropine và isoprénaline nói chung được sử dụng để gia tốc tim.– Sau đó, máy tạo nhịp (pacemaker) là điều trị chữa lành chính của những rối loạn dẫn truyền. Sự đặt máy tạo nhịp này được thực hiện với gây tê tại chỗ. Đó là một can thiệp ngoại khoa nhỏ, có ít nguy cơ và kéo dài khoảng 1 giờ (có thể cho một an thần nhẹ). Một khi được thiết đặt, pacemaker sẽ ghi nhịp tim một cách thường trực. Nếu nhịp tim xuống dưới một tần số nào đó đã được lên chương trình, máy tạo nhịp sẽ sinh ra, qua một hay nhiều ống thông, một xung động điện. Khi đó xung động được truyền vào cơ tim khiến tim co bóp.
– Phần lớn những rối loạn nhịp được liên kết với sự lão hóa của hệ điện của tim, liên quan đến tuổi tác. Tuy nhiên ta có thể tấn công vài nguyên nhân của những rối loạn nhịp tim. Thí dụ có khi một nhồi máu gây nên một rối loạn tạm thời của tốc độ của điện tim. Sự kiện khai thông động mạch bằng angioplastie và/hay ngoại khoa sẽ cải thiện tình huống. Vài bệnh nhiễm trùng hay những thiếu hụt các chất khoáng cũng có thể gây những rối loạn dẫn truyền. ” Những điều trị sẽ cho phép làm mất đi những rối loạn, BS Mondésert đã định rõ như vậy. Khi đó ta có thể nghĩ rằng chúng sẽ không tái phát”. Sau cùng, trong vài trường hợp, sự ngừng thuốc làm chậm tần số tim có thể được khuyến nghị.
(LES DOSSIERS SANTE : LE COEUR. 5/2013)

8/ UNG THƯ : KẺ THÙ THẦM LẶNG CỦA TIM
Cùng với bệnh ung thư, những bệnh tim mạch là một trong những nguyên nhân dẫn đầu của tỷ lệ tử vong. Nhưng những ung thư cũng có thể gây nên một cách âm thầm những biến đổi của tim.Đó là điều được gợi ý bởi những dữ kiện được quan sát ở hơn 500 người bị những ung thư khác nhau, trong đó ung thư vú (26%), ung thư phổi (11%) hay ung thư ống tiêu hóa (12%). Trong 2 năm, 1/3 các bệnh nhân bị chết. Thế mà các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng những nồng độ của vài chất chỉ dấu có liên quan trong các bệnh như nhồi máu cơ tim hay suy tim càng gia tăng khi ung thư càng tiến triển, dầu đó là những chỉ dấu viêm (interleukine 6, protéine C réactive) và vài hormone tim hay những tiền thân của chúng (peptide natriurétique, copeptine, troponine). Ngoài ra, sự gia tăng này tương quan một cách đáng kể với nguy cơ tử vong, độc lập với tuổi của bệnh nhân và những thương tổn tim liên kết.
(SCIENCES ET AVENIR 12/2015)

9/ HOẠT ĐỘNG VẬT LÝ ĐỐI VỚI NHỮNG NGƯỜI TRÊN 65 TUỔI BẢO VỆ TIM
CARDIOLOGIE. Ta sẽ không bao giờ nói đủ điều đó : một hoạt động vật lý vừa phải, liên kết với một vệ sinh đời sống tốt, là tốt đối với sức khỏe và đặc biệt để lánh xa những bệnh tim mạch. Đó là điều được chứng minh bởi một công trình nghiên cứu mới, được thực hiện ở Phần Lan và được trình bày ở Hội Nghị năm 2016 của Sociéte européenne de cardiologie diễn ra ở Rome. Với 50% trường hợp tử vong ít hơn vì những bệnh tim mạch.
” Vai trò của hoạt động vật lý trong sự phòng ngừa những bệnh tim mạch ở những người hoạt động được biết rõ, Ritta Antikainen, giáo sư lão khoa ở đại học Oulou ở Phần Lan, nhà nghiên cứu chính của những công trình này, đã giải thích như vậy. Nhưng người ta biết tương đối ít về những tác dụng của hoạt động vật lý đều đặn lên những người trên 65 tuổi.”
Công trình nghiên cứu nhằm theo dõi 2456 người đàn ông và đàn bà từ 65 tuổi đến 74 tuổi trong 12 năm. Thời gian theo dõi trung bình là 11,8 năm : trong khoảng thời gian này, 197 người chết vì một bệnh tim mạch và 416 người khác bị một báo động đầu tiên thuộc loại những bệnh lý này.
Cơ sở những dữ kiện được sử dụng cho công trình nghiên cứu gồm có những bảng câu hỏi được điền bởi những người tham dự, về những thói quen liên quan đến hoạt động vật lý, những hành vi khác của họ, những số đo như huyết áp, thể trọng, kích thước và những phân tích máu (nồng độ cholestérol…)
Các nhà nghiên cứu đã xác lập một thang hoạt động vật lý, thấp, vừa phải, và cao. Mức thấp muốn nói là xem nhiều TV giữa những công việc nội trợ. Mức trung bình có nghĩa bước, đạp xe đạp hay thực hành mọi dạng hoạt động vật lý khác (làm vườn, câu cá, đi săn.) ít nhất 4 giờ mỗi tuần. Mức cao, chạy, trượt tuyết, bơi lội, gymnastique hay chơi bóng ít nhất 3 giờ mỗi tuần.
Để tránh những kết quả càng ít thiên lệch càng tốt, các nhà nghiên cứu đã giữ cân bằng những tính toán của họ với những nguy cơ tim mạch khác (thuốc lá, rượu, nồng độ cholestérol, huyết áp) và với cương vị xã hội của họ (giáo dục, tình cảnh gia đình). Sau cùng vài căn bệnh như ung thư có thể dẫn đến một sự giảm của hoạt động vật lý, đã không được bao gồm trong những phân tích cuối cùng. Kết quả : đối với những hoạt động vật lý từ trung bình đến cao, nguy cơ của một tai biến mạch máu não được giảm 31 đến 45% và tỷ lệ tử vong sau một tai biến như thế ở mức 55 đến 66%.
(LE FIGARO 29/8/2016)

10/ ANGIOPLASTIE CORONAIRE
Angioplastie coronaire (nong động mạch vành) nhằm đưa qua động mạch một thiết bị để khai tắc động mạch vành và tái lập sự cung cấp máu cho cơ tim. Thầy thuốc chuyên khoa đưa vào trong động mạch bị thương tổn một ống thông mang một quả bóng nhỏ.A. Chọn đường tiếp cận
Ống thống có thể được đưa vào động mạch vành qua :
1. Động mạch đùi : ở vùng bẹn
2. Động mạch quay : ở cổ tay
B. Nong động mạch
1. Ống thông được đặt trong động mạch vành để nong
2. Quả bóng nhỏ được chuồi vào và bơm phồng cho đến khi động mạch được mở đủ để cho phép máu đi quá tốt.
C. Thiết đặt một stent
Vào lúc nong, thầy thuốc đưa vào một ống dẫn thép được gọi là stent để giữ động mạch mở. Quả bóng sau đó sẽ được tháo hơi và được lấy ra thiết bịvới ống thông
D. Những loại stent khác nhau
1. Stent trần : ống dẫn thép được đưa vào và để trong động mạch để giữ động mạch mở.
2. Stent bọc thuốc : những ống dẫn thép được phủ bởi một loại thuốc để chống lại sự tái tắc : biolimus, éverolimus, paclitaxel, sirolimus, zotarolimus..
E. Chọn stent
1.Thầy thuốc thích chọn hơn những stent actif đối với những bệnh nhân có nguy cơ cao tái hẹp. Nguy cơ tái hẹp đặc biệt cao :
– nếu chiều dài của những thương tổn trên một dòng mạch vành duy nhất vượt quá 15 mm ;
– nếu đường kính của động mạch bị thương tổn dưới 3 mm
– nếu bệnh nhân bị bệnh đái đường
2. Khi nhiều động mạch bị thương tổn hay trong vài trường hợp đặc biệt, sự chọn stent là kết quả của một sự thống nhất của các thầy thuốc của équipe và thầy thuốc ngoại khoa.
Sự đặt một stent actif được loại bỏ trong trường hợp chống chỉ định đối với những thuốc chống ngưng kết tiểu cầu, hay nếu sự tuân thủ điều trị chống tiểu cầu bởi bệnh nhân không chắc chắn.

BS NGUYỄN VĂN THỊNH
(1/3/2017)

Bài này đã được đăng trong Chuyên đề Y Khoa, Thời sự y học. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

1 Response to Thời sự y học số 424 – BS Nguyễn Văn Thịnh

  1. Pingback: Thời sự y học số 604 – BS Nguyễn Văn Thịnh | Tiếng sông Hương

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s